Nghiên cứu tạo cây con mây nếp (calamus tetradactylus hance) bằng phương pháp nuôi cấy invitro - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGUYỄN THỊ MAI DƯƠNG

NGHIÊN CỨU TẠO CÂY CON MÂY NẾP (CALAMUS TETRADACTYLUS
HANCE) BẰNG PHƯƠNG PHÁP NUÔI CẤY IN VITRO

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

HÀ NỘI, 2010


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

NGUYỄN THỊ MAI DƯƠNG

NGHIÊN CỨU TẠO CÂY CON MÂY NẾP (CALAMUS TETRADACTYLUS
HANCE) BẰNG PHƯƠNG PHÁP NUÔI CẤY IN VITRO

Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

pháp nhân giống sinh dưỡng tiên tiến nhằm chủ động tạo ra số lượng lớn cây
giống có phẩm chất di truyền tốt và đồng đều, trong thời gian ngắn thực sự đang là
việc làm cấp bách và đầy ý nghĩa. Với ý nghĩa như vậy, tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu tạo cây con mây nếp (Calamus tetradactylus Hance) bằng
phương pháp nuôi cấy in vitro".


2

Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Đại cương về nuôi cấy mô – tế bào
1.1.1. Cơ sở khoa học của nuôi cấy mô – tế bào thực vật
Tính toàn năng cùng với sự phân hóa và phản phân hóa của tế bào là cơ
sở lý luận của kỹ thuật nuôi cấy mô – tế bào.
1.1.1.1.Tính toàn năng (Totipotence) của tế bào
Haberlandt (1902) là người đầu tiên đề xuất phương pháp nuôi cấy mô
và tế bào thực vật để chứng minh tính toàn năng của tế bào. Theo ông, mỗi tế
bào của bất kỳ cơ thể sinh vật nào đều mang lượng thông tin di truyền cần
thiết và đủ của cả sinh vật đó, vì vậy khi gặp điều kiện thích hợp mỗi tế bào
đều có thể phát triển thành cơ thể hoàn chỉnh [2], [12].
Tính toàn năng của tế bào mà Haberlandt nêu ra chính là cơ sở lý luận
của phương pháp nuôi cấy mô – tế bào thực vật. Đến nay con người đã hoàn
toàn chứng minh được khả năng tái sinh thành một cơ thể thực vật hoàn chỉnh
từ một tế bào riêng rẽ.
1.1.1.2. Sự phân hóa và phản phân hóa tế bào
Cơ thể thực vật trưởng thành là một chỉnh thể thống nhất bao gồm
nhiều cơ quan chức năng khác nhau, trong đó có nhiều loại tế bào khác nhau
thực hiện các chức năng cụ thể khác nhau. Tuy nhiên tất cả các loại tế bào đó
đều bắt nguồn từ tế bào phôi sinh.
Quá trình phân hóa tế bào có thể biểu thị:

toàn năng của tế bào. Theo ông, mỗi tế bào của bất kỳ cơ thể sinh vật nào đều
mang lượng thông tin di truyền cần thiết và đủ của cả sinh vật đó, vì vậy khi
gặp điều kiện thích hợp mỗi tế bào đều có thể phát triển thành cơ thể hoàn
chỉnh [12]. Tuy nhiên ông đã không thành công trong thí nghiệm nuôi cấy tế
bào khí khổng.
- Giai đoạn nghiên cứu sinh lý (1930 - 1950)
Giai đoạn này bắt đầu năm 1934 với công trình của White (Mỹ). Ông
đã nuôi cấy thành công rễ cà chua (Lycopersicum esculanum) trên môi trưởng
lỏng chứa muối khoáng, glucose và dịch chiết nấm men. Năm 1935, Thimann
đã phát hiện ra Auxin (IAA) trong mô thực vật. Nhiều nhà nghiên cứu đã sử
dụng IAA cùng các Vitamin bổ sung vào môi trường nuôi cấy và thu được kết
quả tốt. Cũng trong thời gian này, Gautheret (Pháp) đã nghiên cứu nuôi cấy


4

mô tượng tầng một số cây thân gỗ. Trong những năm 1940, nhiều chất điều
hòa sinh trưởng thuộc nhóm Auxin (NAA, 2,4D) được tổng hợp thành công
và được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong nuôi cấy mô cùng với nước dừa.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các chất này có tác dụng kích thích tạo mô sẹo,
thúc đẩy tế bào phân chia rõ rệt [2].
- Giai đoạn nghiên cứu phát sinh hình thái (1950 - 1960)
Năm 1954 – 1955, Skoog và Miller (Mỹ) trong khi nuôi cấy mô lõi cây
thuốc lá đã xác định được vai trò của Kinetin trong sự kích thích phát triển
của mô.
Năm 1956, Skoog và Miller đã tìm hiểu ảnh hưởng của tỷ lệ
Auxin/Cytokinin trong môi trường nuôi cấy đến sự hình thành cơ quan và tạo
được chồi từ mô cây thuốc lá nuôi cấy. Năm 1956, Nickell đã nuôi thành công
tế bào đơn của đậu (Phaseolus vulgaris) trong dịch lỏng. Năm 1960, Bergman
đã tái sinh tế bào đơn thuốc lá trong môi trường lỏng (còn gọi là kỹ thuật gieo

cấy mô sẹo và protoplast. Thành công đầu tiên về nuôi cấy bao phấn lúa và
thuốc lá đã được công bố vào năm 1978 (Lê Thị Muội và cs, 1978; Lê Thị
Xuân và cs.,1978). Tiếp đó là thành công về nuôi cấy protoplast ở thuốc lá và
khoai tây (Lê Thị Muội và Nguyễn Đức Thành, 1978; Nguyễn Đức Thành và
Lê Thị Muội, 1980, 1981). Trong cùng thời gian, tại phân viện KHVN ở
thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, viện Khoa học kỹ
thuật Nông nghiệp Việt Nam... các phòng thí nghiệm nuôi cấy mô – tế bào
được thành lập và chủ yếu tập trung vào vi nhân giống khoai tây.
Đến nay, nước ta đã có rất nhiều phòng thí nghiệm nuôi cấy mô – tế
bào ở các viện nghiên cứu (viện Di truyền Nông nghiệp, viện Rau quả Trung
ương, ...); các trường đại học (Đại học Nông nghiệp I, Đại học Lâm nghiệp,
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,...); một số tỉnh và cơ sở sản xuất


6

cây giống nông – lâm nghiệp (Yên Bái, Hưng Yên, Bình Định, Đà Lạt, Quảng
Ninh, Hòa Bình, Phú Thọ,...)
Đối tượng cây giống sản xuất bằng phương pháp nuôi cấy mô – tế bào
thực vật cũng được mở rộng như: bạch đàn, keo, dó trầm, lan, cúc,...
1.1.3.Thành tựu nuôi cấy mô – tế bào thực vật
Kỹ thuật nuôi cấy mô – tế bào thực vật đã thành công với hàng loạt các
cây trồng như: cây ăn quả, cây lương thực, cây công nghiệp, cây thuốc, hoa...
và các loại cây quý hiếm có giá trị cao.
Ở nước ta, các hướng nghiên cứu ứng dụng phương pháp nuôi cấy mô
– tế bào thực vật được phát triển mạnh từ những năm 1980 và đã đạt được
những kết quả đáng khích lệ trong lĩnh vực nhân giống in vitro: nhân giống
khoai tây, dứa, chuối, mía; một số loài hoa như: phong lan, đồng tiền, cúc,
cẩm chướng; một số cây lâm nghiệp như: bạch đàn, keo...; các cây dược liệu
như: thông đỏ, thanh hao [12].

dưới điều kiện môi trường vô trùng và được điều khiển.
1.2.2. Yêu cầu thực tiễn
Hiện nay, các ngành sản xuất nông lâm nghiệp đã và đang được quan
tâm trên nhiều quốc gia. Mong muốn tạo ra nhiều sản phẩm có năng suất, chất
lượng cao, sạch bệnh... phục vụ nhu cầu của con người. Đáp ứng những nhu
cầu trên thì vấn đề đẩy mạnh công tác nhân giống in vitro càng được quan
tâm với những mục tiêu sau:
- Duy trì và nhân nhanh các kiểu gen quý làm vật liệu cho công tác nhân giống
- Nhân nhanh và duy trì các cá thể đầu dòng tốt để cung cấp hạt giống các
loại cây trồng khác nhau như cây lương thực, cây cảnh, cây dược liệu, các
loài hoa...
- Nhân nhanh ở điều kiện vô trùng cách ly tái nhiễm kết hợp với làm sạch virus
- Bảo quản các tập đoàn giống, nhân giống vô tính các loài cây giao phấn
trong ngân hàng gen [2].


8

1.2.3. Một số phương thức nhân giống vô tính in vitro
Phương pháp nhân giống in vitro đã bổ sung cho các kỹ thuật nhân
giống cổ điển như: chiết cành, ghép, giâm hom... Nhân giống in vitro hay vi
nhân giống trong ống nghiệm là một trong bốn lĩnh vực ứng dụng chính của
công nghệ tế bào thực vật và mang lại hiệu quả kinh tế lớn. Có 3 phương thức
để tạo cây in vitro:
1.2.3.1. Hoạt hóa chồi nách
Hoạt hóa chồi nách bằng cách phá vỡ hiện tượng ưu thế ngọn khi nuôi
cấy các đỉnh chồi hoặc đoạn thân mang mắt ngủ. Theo phương pháp này thì
sự hoạt hóa chồi nách diễn ra theo 2 cách:
- Cây phát triển trực tiếp từ chồi đỉnh hoặc chồi nách (xảy ra khi nuôi cấy
loài cây hai lá mầm như: khoai tây, hoa cúc, cây thuốc lá...)

theo của phôi. Như vậy, nồng độ chất điều hòa sinh trưởng hợp lý là điều kiện
quyết định cho các phản hồi thích hợp, nếu nồng độ thấp có thể gây sốc cho
phản ứng và nồng độ cao có thể gây ức chế hoặc gây độc [13].
1.2.4. Các giai đoạn chính trong quá trình nhân giống in vitro
Theo Georger (1993) quá trình nhân giống vô tính in vitro bao gồm các
bước sau:
Bước 1: Chọn lọc và chuẩn bị cây mẹ
Trước khi tiến hành nhân giống in vitro cần chọn lọc cẩn thận cây mẹ
(cây cho nguồn mẫu nuôi cấy). Các cây này phải sạch bệnh, đặc biệt là bệnh
virut và ở giai đoạn sinh trưởng mạnh. Việc trồng các cây mẹ trong điều kiện
thích hợp với chế độ chăm sóc và phòng trừ bệnh hiệu quả trước khi lấy mẫu sẽ
giảm tỷ lệ mẫu nhiễm, tăng khả năng sống và sinh trưởng của mẫu cấy in vitro
Bước 2: Nuôi cấy khởi động
Là giai đoạn khử trùng đưa mẫu vào nuôi cấy in vitro. Giai đoạn này
cần đảm bảo các yêu cầu sau: tỷ lệ nhiễm thấp, tỷ lệ sống cao, mô tồn tại và
sinh trưởng tốt.


10

Khi lấy mẫu cần chọn đúng loại mô, đúng giai đoạn phát triển của cây.
Quan trọng nhất là đỉnh chồi, đỉnh chồi nách và sau đó là đỉnh chồi hoa và cuối
cùng là đoạn thân, mảnh lá... chồi ngọn, chồi nách được dùng để nhân nhanh
các cây: măng tây, dứa, khoai tây, thuốc lá, hoa cúc... ở suplơ dùng hoa tự non,
ở bầu bí các mảnh lá mầm là nguyên liệu nuôi cấy thích hợp để nhân nhanh in
vitro. Chồi non nảy mầm từ hạt cũng có thể dùng làm vật liệu nuôi cấy
Bước 3: Nhân nhanh
Là giai đoạn kích thích mô nuôi cấy phát sinh hình thái và tăng số
lượng thông qua các con đường: hoạt hóa chồi nách, tạo chồi bất định và tạo
phôi vô tính.

Đến nay có hàng trăm loại môi trường dinh dưỡng nhân tạo đã được
xây dựng và thử nghiệm có kết quả. Hầu hết các loại môi trường đều gồm
những nhóm chất chính sau: Các loại muối khoáng, nguồn các bon, vitamin,
các chất điều hoà sinh trưởng, các nhóm chất bổ sung, chất độn.
- Các loại muối khoáng
Các nguyên tố khoáng dùng trong môi trường dinh dưỡng nuôi cấy mô
và tế bào thực vật được chia thành hai nhóm: đa lượng và vi lượng
+ Các nguyên tố khoáng đa lượng
Bao gồm các nguyên tố khoáng được sử dụng ở nồng độ trên 30ppm
(tức là trên 30mg/l). Những nguyên tố đó là N, S, P, K, Mg, Ca. Riêng Na và
Cl cũng được sử dụng trong một vài môi trường nhưng vẫn chưa rõ tác dụng
của chúng.
- Nito (N): được sử dụng ở hai dạng NO3- và NH4+ riêng rẽ hoặc phối
hợp với nhau. Hầu hết các thực vật đều có khả năng khử nitrat thành
amonium thông qua hệ thống nitrat reductase (NR). Amonium được tế bào
thực vật đồng hóa trực tiếp để sinh ra tổng hợp các chất hữu cơ như amoni
acid. Điều đáng lưu ý là nếu chỉ dùng amonium thì sinh trưởng của tế bào
giảm, thậm chí ngừng hoàn toàn. Nguyên nhân chính là do quá trình trao đổi


12

ion của tế bào xảy ra lệch dẫn đến tình trạng thay đổi pH của môi trường. Cụ
thể: khi chỉ dùng nitrat độ pH của môi trường giảm dần do tế bào hấp thu
NO3- hoặc NH4+ và thải ra ngoài môi trường loại ion có giá trị tương đương.
Khi pH giảm thì quá trình trao đổi Fe của tế bào kém đi, kết quả là tế bào sinh
trưởng chậm lại. Vì vậy hầu hết các loại môi trường đều dùng nitrat và
amonium dạng phối hợp nhưng tùy theo đặc tính hấp thu nitơ của loài cây đó
mà phối hợp theo tỉ lệ thích hợp
- Lưu huỳnh (S): Chủ yếu và tốt nhất là muối SO42-. Các dạng ion khác

- Nguồn các bon
Mô tế bào thực vật nuôi cấy in vitro sống chủ yếu theo phương thức chủ
yếu là dị dưỡng, mặc dù trong nhiều trường hợp chúng có thể sống bán dị
dưỡng nhờ điều kiện tự nhiên ánh sáng nhân tạo và lục lạp có khả năng quang
hợp. Vì vậy việc đưa vào môi trường nuôi cấy nguồn các bon hữu cơ là điều
bắt buộc. Nguồn các bon thông dụng nhất đã được kiểm chứng là saccarose.
Nồng độ thích hợp phổ biến là 2 - 3%, song cũng phụ thuộc vào mục đích
nuôi cấy mà thay đổi, có khi xuống tới 0,2% (chọn dòng) và tăng lên 12%
(nhằm cảm ứng stress nước).
Tiếp đến là glucose và maltose cũng hay được đưa vào môi trường nuôi
cấy (glucose cho nuôi cấy protoplast và maltose cho nuôi cấy bao phấn lúa).
Các loại đường khác như fructose, raffinose, lactose, galactose... cũng đã
được thử nghiệm, nhưng tỏ ra kém hiệu quả và chỉ được dùng trong những
trường hợp đặc biệt.
Các dạng polysaccaride như tinh bột, pectine, dextrine cũng có thể
dùng cho nuôi cấy. Tuy nhiên những loại tế bào được nuôi cấy trên môi
trường chỉ có chứa một trong các polysaccharide trên khả năng thủy phân
thông qua các enzyme như amylase. Có những chủng tế bào nuôi cấy giải
phóng ra môi trường chứa nhiều tinh bột khá nhiều amylase. Chuyển chúng
lên môi trường chỉ chứa saccarose, lượng amylase thải ra giảm ngay, nguyên


14

nhân chính là do các promoter của gen amylase chịu tác động khống chế của
sacarose.
- Vitamin
Mặc dù các loại mô và tế bào nuôi cấy in vitro đều có khả năng tự tổng
hợp hầu hết các loại vitamin, nhưng thường không đủ về lượng, do đó phải bổ
sung thêm từ bên ngoài, đặc biệt là các vitamin thuộc nhóm B.

trong môi trường thí nghiệm chiết xuất acid nucleic bị sơ suất. Đó là những
cấu tử của acid nucleic bị phân hủy thành. Các loại cytokinin chính đang được
sử dụng trong nuôi cấy mô là:
- Kinetin là sản phẩm được phát hiện đầu tiên, có cấu trúc phân tử là:
6 - (2 - furfuryl) - aminopurin. Kinentin được phân lập từ chế phẩm DNA cũ
hoặc nucleic acid mới sau khi hấp ở nhiệt độ cao hay đun sôi. Trong cơ thể
sống có thể không có Kinetin tồn tại. Sản phẩm này kích thích sự phát sinh
chồi của cây thuốc lá nuôi cấy, nhưng nếu phối hợp xử lí cùng auxin ở tỷ lệ
nồng độ thích hợp sẽ kích thích quá trình phân chia tế bào (do đó có tên là
Kinetin). Kinetin thực chất là một dẫn xuất của bazơ hữu cơ adenin, như vậy
có thể coi đây là một chất nhân tạo. Trong tự nhiên có tồn tại một hoocmon
phân bào không? Letham là người đầu tiên đã phân lập tinh chế và cho kết
tinh thành công hoocmon phân bào tự nhiên đó là nội nhũ đang ở dạng sữa
của hạt ngô. Hợp chất cytokinin tự nhiên đó được gọi là zeatin (zea = ngô)
- Zeatin cũng là một dẫn xuất của adenin. Công thức hóa học của zeatin
là: 6-(4-hydroxy-3-methylbut-2-enyl) aminopurin. Trong thực tiễn nuôi cấy,
người ta chỉ dùng zeatin trong những trường hợp đặc biệt vì nó quá đắt, mà
thường sử dụng kinetin hoặc một số sản phẩm nhân tạo. Đó là: 6benzylaminopurin BAP (6-benzylaminopurin): Hoạt lực của BAP cao hơn
nhiều so với kinetin và bản thân BAP bền vững hơn zeatin ở nhiệt độ cao.
+ Gibberellic acid


16

Được phát hiện vào những năm 1930. Lịch sử phát hiện nhóm
hoocmon này bắt đầu từ 1895 khi người Nhật nói về bệnh lúa von. 1926 phát
hiện được bệnh là do loài nấm Gibberlla fujikuroi gây ra. Đến những năm
1930 thì mới phân lập và tinh chế được hoạt chất được gọi là gibberelli. Mãi
sau chiến tranh thế giới thứ hai, năm 1950 người Anh và người Mĩ mới biết
đến thành công này của Nhật.

Từ năm 1941 được sử dụng để nuôi phôi của Datura và năm 1949 nuôi
mô của Daucus. Kết quả phân tích thành phần của nước dừa từ non đến già
của Tulecke và cs (1961) cho thấy trong nước dừa có:
- Amino acid tự do: đạt nồng độ 190,5 ppm đến 685 ppm trong nước
dừa tùy theo tuổi của quả tính từ non đến già. Khi hấp ở nhiệt độ cao chỉ còn
70 ppm
- Amino acid dạng liên kết có trong protein và peptid
- Acid hữu cơ
- Đường
- RNA và DNA
Ngoài ra nước dừa còn chứa các hợp chất quan trọng đối với tế bào
nuôi phân lập như: myo-inositon, các chất có hoạt tính auxin, các cytokinin
dạng glycoside
+ Dịch chiết mầm lúa mỳ (mạch nha):
Thành phần hóa học chưa được phân tích kĩ, chủ yếu chứa một số
đường, vitamin và một số chất có hoạt tính điều khiển sinh trưởng
+ Dịch chiết nấm men (Yeast Extract: YE):
Với dịch nấm men, White (1934) lần đầu tiên thành công rễ cà chua trong
ống nghiệm kéo dài vô thời hạn. Thành phần hóa học của dịch nấm men ít
được chú ý phân tích. Chủ yếu chứa: đường, nucleic acid, amino acid,


18

vitamin, auxin, khoáng. Tác dụng của YE với rễ rất tốt nhưng với mô sẹo
không rõ ràng.
+ Dịch thủy phân casein:
Được sử dụng rộng rãi trong kỹ thuâ ̣t vi sinh vật, ở nuôi cấy mô tế bào
thực vật chủ yếu được sử dụng làm nguồn bổ sung acid amin
+ Hỗn hợp amino acid nhân tạo

nuôi cấy. Ánh sáng có ảnh hưởng tới mẫu cấy thông qua thời gian chiếu sáng,
cường độ ánh sáng và chất lượng ánh sáng.
Thời gian chiếu sáng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của mô
nuôi cấy. Với đa số các loài cây, thời gian chiếu sáng thích hợp là 8 - 12h/ngày.
Cường độ ánh sáng ảnh hưởng lên quá trình phát sinh hình thái mô nuôi
cấy. Cường độ ánh sáng cao kích thích sinh trưởng của mô sẹo trong khi
cường độ ánh sáng thấp gây nên sự tạo chồi (Ammirato, 1986). Nhìn chung,
cường độ ánh sáng thích hợp cho mô nuôi cấy khoảng từ 1000 - 7000 lux
(Moresin, 1974).
Bên cạnh thời gian chiếu sáng, cường độ ánh sáng thì chất lượng ánh
sáng cũng ảnh hưởng khá rõ đến phát sinh hình thái của mô nuôi cấy. Ánh
sáng đỏ làm tăng chiều cao thân chồi hơn so với ánh sáng trắng, ánh sáng
xanh ức chế sự vươn cao của chồi nhưng lại ảnh hưởng tốt tới sự sinh trưởng
của mô sẹo. Chính vì vậy mà trong các phòng thí nghiệm thường có ánh sáng
của đèn huỳnh quang với cường độ 2000 - 3000 lux
+ Nhiệt độ
Nhiệt độ là nhân tố ảnh hưởng rõ rệt đến sự phân chia tế bào và các quá
trình trao đổi chất của mô nuôi cấy, đồng thời ảnh hưởng tới sự hoạt động của
auxin, do đó làm ảnh hưởng đến khả năng ra rễ của cây mô. Theo kết quả
nghiên cứu của Vonnonorld (1982) nhiệt độ ngày/đêm là 200C/150C hoặc
200C/180C tỷ lệ ra rễ đạt khoảng 33%, thậm chí còn thấp hơn. Ở nhiệt độ
trung bình hoạt động trao đổi chất tốt hơn. Ở nhiệt độ cao kích thích ra nhiều


20

tế bào không có tổ chức. Trong nuôi cấy mô nhiệt độ thường được duy trì ổn
định, ban ngày 25 - 280C và ban đêm từ 17 - 200C.
+ Độ ẩm
Trong các bình nuôi cấy thì độ ẩm tương đối thường đạt khoảng 100%

hypochorit), Ca(OCl)2 (Canxi hypoclorit) [12]. Cồn dùng để khử trùng bề mặt
mẫu và đốt các dụng cụ cấy.
- Phễu lọc vô trùng: Dùng để khử trùng các dung dịch, không khử trùng
được ở nhiệt độ cao như dung dịch enzym và một số chất điều hòa sinh
trưởng. Hiện nay người ta thường sử dụng một hệ thống bơm khử trùng dung
tích lớn để thanh trùng các dung dịch nuôi cấy khi nuôi cấy tế bào trần hay
huyền phù tế bào.
- Buồng cấy và bàn cấy vô trùng
+ Buồng vô trùng: nơi đặt bàn cấy cần kín gió, cao ráo, sạch sẽ, buồng
phải được tiệt trùng trước và sau khi làm việc bằng Foocmon kết hợp chiếu
đèn tử ngoại [2], [12].
+ Bàn cấy vô trùng: Tốt nhất là sử dụng bàn cấy Laminair flow box.
Thiết bị này làm việc theo nguyên tắc lọc không khí vô trùng qua màng và
thổi không khí vô trùng về phía người thao tác.
Buồng nuôi cấy
Buồng nuôi cấy là nơi đặt các mẫu nuôi cấy. Buồng nuôi cấy cần phải
đảm bảo các điều kiện sau:
- Nhiệt độ 25 - 300C
- Ánh sáng đạt 2000 - 3000 lux
- Sạch sẽ, tránh tiếp xúc với bên ngoài.
1.3. Đại cương về mây
1.3.1.Tổng quan về mây
Cây mây thuộc họ cau (Arecaceae) có thân ngầm và thân khí sinh.
Thân khí sinh dạng dây leo, mọc thành cụm và được bao bọc bởi bẹ lá có gai.
Ở Việt Nam cây mây phân bố từ Bắc tới Nam.


22

Mây là thuật ngữ gọi chung cho khoảng 600 loài thuộc chi Calamus và

tấn từ đảo Hải Nam và khoảng 2.000 tấn từ tỉnh Vân Nam (chiếm trên 90%
sản lượng của cả nước). Do tốc độ phát triển kinh tế - xã hội nhanh, nhu cầu
của người dân về các sản phẩm làm từ mây ngày càng tăng, dẫn đến việc khai
thác quá mức. Đến nay nguồn mây tự nhiên hầu như đã bị cạn kiệt.
Ở Indonesia có khoảng 300 loài, trong đó những loài quan trọng dùng
cho xuất khẩu là C. manan, C. trachycoleus, C. caesius, C. inops và C.
scopionum. Từ năm 1985 Indonesia đã sản xuất được 575.000 tấn mây
nguyên liệu (Silitonga, 1985). Indonesia là nước cung cấp mây nguyên liệu
lớn nhất (chiếm khoảng 90%) trên thị trường thế giới.
Ngoài ra, mây còn tập trung ở một số quốc gia khác, như: Thái Lan
(khoảng 50 loài), Philippines (khoảng 60 loài) và Ấn Độ (46 loài).
Trong những năm gần đây sản lượng mây bị giảm sút đáng kể do rừng
nhiệt đới bị tàn phá nặng nề. Hiện nay, vấn đề gây trồng mây thương mại
không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến việc làm và mức sống của người dân vùng
trồng mây mà còn có khuynh hướng ảnh hưởng tới các nước khác có liên
quan trong khu vực. Thực vậy, việc trồng mây thương mại ở các nước thuộc
khu vực Đông Nam Á đã trở thành một trong những yếu tố làm gia tăng sự
phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia. Ví như Indonesia là nước có sản lượng
mây nguyên liệu lớn nhất thế giới đã đưa ra chính sách cấm xuất khẩu mây
nguyên liệu, chỉ xuất khẩu các sản phẩm đã qua chế biến. Chính sách này
nhằm mục đích tăng việc làm cho người dân và tăng giá trị của sản phẩm xuất
khẩu. Mặt khác, nó cũng giúp cho việc bảo tồn nguồn mây khỏi sự khai thác
quá mức. Song chính sách này đã ảnh hưởng đến nguồn mây nguyên liệu của
Thái Lan, Trung Quốc và Philippines, vì các nước này chủ yếu nhập mây
nguyên liệu từ Indonesia.
1.3.2. Tình hình nghiên cứu nuôi cấy mô tế bào các loài song mây
1.3.2.1. Những nghiên cứu trên thế giới




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status