TP HỒ CHÍ MINH, 1/2011
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA KỸ THUẬT HOÁ HỌC
BỘ MÔN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU TẠO CHẾ PHẨM HỆ VI KHUẨN
NITRATE HOÁ BẰNG PHƯƠNG PHÁP CỐ ĐỊNH
TRÊN GIÁ THỂ BACTERIAL CELLULOSE VÀ
ĐÁ SAN HÔ
CBHD:
PGS. TS. NGUYỄN THUÝ HƯƠNG
SVTH:
NGUYỄN TẤN ĐỨC
MSSV: 60604107
LƯU HÙNG MINH
MSSV: 60601470
i
ii
TÓM TẮT
Ở các trại ương tôm giống, việc nuôi tôm ở mật độ cao cùng với lượng thức ăn thừa không
được sử dụng đã làm tăng lượng ammonia tự do (NH
3
) trong môi trường nước. Điều này dẫn đến
ấu trùng tôm bị ngộ độc, làm giảm khả năng sinh trưởng và phát triển, năng suất thu hoạch kém
và ô nhiễm môi trường. Đề tài này được thực hiện nhằm tạo ra một loại chế phẩm vi sinh hiệu
quả để xử lý ammonia trong nước nuôi tôm giống. Các bước tiến hành như sau: phân lập hệ vi
khuẩn nitrate hoá từ chế phẩm thương mại; lên men thu sinh khối hệ vi khuẩn nitrate hoá; cố định
vi khuẩn lên các loại giá thể khác nhau và xác định hoạt tính chế phẩm. Hai loại giá thể dùng để
cố định là Baterial Cellulose (BC) đại diện cho nhóm chất mang có bản chất hữu cơ; và giá thể đá
san hô (CR) đại diện cho nhóm chất mang có bản chất vô cơ.
Kết quả cho thấy sau một tháng theo dõi ở tỉ lệ xử lý 1/1000 trong nước biển, chế phẩm BC
có mật độ vi khuẩn 92.10
11
cfu/g có hiệu quả xử lý 35% và hoạt tính trung bình 0,43 mg N-
NH
4
+
/g/L.ngày. Trong khi đó chế phẩm đá san hô tuy có mật độ vi khuẩn thấp hơn, khoảng
74.10
9
cfu/g nhưng hiệu quả xử lý đến 38% và hoạt tính trung bình là 0,45 mg N-NH
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Quy trình nuôi tôm giống 4
2.1.1 Yêu cầu chung về môi trường nuôi 4
2.1.2 Chu kỳ phát triển của tôm giống 4
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tôm giống 6
2.2 Hệ vi khuẩn nitrat hóa 7
2.2.1 Đặc điểm chung 7
2.2.2 Vi khuẩn oxi hoá ammonia 9
2.2.3 Vi khuẩn oxi hoá nitrite 17
2.2.4 Khả năng bám dính trên chất mang của nhóm vi khuẩn nitrat hóa 23
2.3 Quá trình nitrate hoá 24
2.3.1 Quá trình oxi hoá ammonia ở Nitrosomonas sp. 27
2.3.2 Quá trình oxi hoá nitrite ở Nitrobacter sp. 29
2.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nitrate hoá 33
2.4 Lên men thu sinh khối vi khuẩn 34 iv
2.5 Kỹ thuật cố định tế bào 37
2.5.1 Chất mang cố định tế bào 37
2.5.2 Các phương pháp cố định tế bào vi sinh vật 38
2.5.3 So sánh tế bào cố định và tế bào tự do 39
2.6 Giá thể hữu cơ bacterial cellulose (BC) 40
2.6.1 Vi khuẩn Acetobacter xylinum 40
2.6.2 Vai trò của bacterial cellulose đối với Acetobacter xylinum 41
2.6.3 Các đặc điểm cấu trúc BC 42
2.6.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men tạo BC 43
2.7 Tổng quan về đá san hô 45
2.7.1 Giới thiệu về san hô 45
4.1.2 Giống vi khuẩn CKL-2a 77
4.1.3 Giống vi khuẩn PKL-2 78
4.1.4 Giống vi khuẩn PKL-3 79
4.1.5 Giống vi khuẩn PKL-5 79
4.1.6 Giống vi khuẩn PKL-6 80
4.1.7 Giống vi khuẩn NKL-1 80
4.1.8 Giống vi khuẩn NKL-2 81
4.2 Khảo sát quá trình cố định tạo chế phẩm 82
4.2.1 Giá thể BC 82
4.2.2 Giá thể đá san hô 85
4.2.3 Sơ kết về quá trình cố định vi khuẩn 89
4.3 Thử nghiệm chế phẩm 89
4.3.1 Chế phẩm dạng lỏng 89
4.3.2 Chế phẩm BC 93
4.3.3 Chế phẩm đá san hô 97
4.3.4 Khả năng tái sử dụng 100
4.3.5 Sơ kết hiệu quả giữa các loại chế phẩm 104
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106
5.1 Kết luận 106
5.1.1 Về bộ sưu tập giống 106
5.1.2 Về khảo sát chế phẩm 106
5.2 Kiến nghị 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 1 TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CHẾ PHẨM 112
PHỤ LỤC 2 CÁC ỨNG DỤNG CỦA BACTERIAL CELLULOSE 116
PHỤ LỤC 3 PHÂN LẬP HỆ VI KHUẨN NITRATE HOÁ 118
cytochrome
vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1-1. Phương pháp dòng chảy qua lớp đệm 2
Hình 1-2. Phương pháp dòng chảy chìm. 2
Hình 2-1. Vòng đời phát triển của tôm sú. 5
Hình 2-2. Chu trình ammonia trong bể nuôi tôm. 7
Hình 2-3. Cây phát sinh loài của hệ vi khuẩn oxi hoá ammonia (màu xanh) và oxi hoá nitrite
(màu đỏ) dựa trên phân tích 16S rRNA. 9
Hình 2-4. Tế bào Nitrosomonas europaea dưới kính hiển vi quang học và điện tử . 15
Hình 2-5. Tế bào Nitrosomonas eutropha dưới kính hiển vi điện tử 16
Hình 2-6. Tế bào Nitrosomonas marina dưới kính hiển vi điện tử 16
Hình 2-7. Tế bào Nitrosomonas mobilis dưới kính hiển vi điện tử 17
Hình 2-8. Vi khuẩn Nitrobacter winogradsky được nhuộm Gram âm, có dạng que ngắn 21
Hình 2-9. Khuẩn lạc Nitrobacter alkalicus sau 2 tháng nuôi cấy ở pH 10 21
Hình 2-10. Tế bào Nitrobacter alkalicus dưới kính hiển vi điện tử. Lớp vỏ bên ngoài (S) được cấu
tạo gồm nhiều tiểu đơn vị protein ghép với nhau 22
Hình 2-11. Vi khuẩn Nitrobacter hamburgensis được nhuộm Gram âm, có dạng quả lê. 22
Hình 2-12. Cấu trúc tế bào Nitrobacter vulgaris gồm lớp introcytoplasmic và carboxysome. 23
Hình 2-13. Hướng di chuyển electron dựa trên thế khử của các chất trong tế bào. Những chất khử
luôn là chất cho điện tử, và các chất oxi hoá luôn là chất nhận điện tử. 26
Hình 2-14. Hai giai đoạn của quá trình nitrate hoá. 27
Hình 2-15. Con đường vận chuyển điện tử ở Nitrosomonas. 31
Hình 2-16. Con đường vận chuyển điện tử ở Nitrobacter 32
Hình 2-17. Kiểu sinh trưởng tế bào vi sinh vật ở một nồi lên men theo mẻ. Sáu pha của chu trình
Hình 3-8. Đường chuẩn NO
2
-
75
Hình 2-19. (a) Hệ vi sợi ở BC và (b) ở thực vật, độ phóng đại x5000 117
ix
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Các môi trường khác nhau dùng nuôi cấy vi khuẩn oxi hoá ammonia. Môi trường 1, 2 và
3 đề xuất tương ứng bởi Soriano và Walker (1968), Watson (1971) và Krinmel và Harms (1982)
đối với vi khuẩn phân lập từ đất, môi trường 4 đề xuất bởi Watson (1965) đối với vi khuẩn phân
lập từ biển và môi trường 5 đề xuất bởi Koops và cộng sự (1976) đối với vi khuẩn phân lập từ
nước lợ. Tất cả các môi trường đều cần 5 g/l CaCO
3
hoặc 4 g/l HEPES như chất đệm pH. 11
Bảng 2. Đặc điểm hình thái-sinh hoá của vi khuẩn oxi hoá ammonia. 12
Bảng 3. Các môi trường khác nhau cho vi khuẩn oxi hoá nitrite: môi trường A (khoáng vô cơ) đề
xuất bởi Bock (1893), phân lập vi khuẩn từ đất; môi trường B (khoáng vô cơ) đề xuất bởi Watson
và Waterbury (1971), phân lập vi khuẩn từ biển; môi trường C (hỗn hợp) đề xuất bởi Bock (1983)
và môi trường C (hữu cơ) nhưng không cho NaNO
2
. Chỉnh pH sau khi đã hấp tiệt trùng, thường
sử dụng NaHCO
3
10%. 18
Bảng 4. Đặc điểm hình thái-sinh hoá của vi khuẩn oxi hoá nitrite. 19
+
/L) của chế phẩm CR. 97
Bảng 13. Kết quả phân giải nitrite (mg NO
2
-
/L) của chế phẩm CR. 99
Bảng 10. Tiêu chuẩn về hàm lượng cho phép ammonia, nitrite và nitrate trong ao nuôi tôm giống
và tôm thương phẩm. 113
Bảng 11. Hệ số chuyển đổi của N-NH
3
trong nước ứng với nhiệt độ và pH. 114
Bảng 12. Các trường hợp xảy ra khi phân lập giống theo cách 1. 119
Bảng 13. Các trường hợp xảy ra khi phân lập giống theo cách 3. 119
Bảng 14. So sánh ưu và nhược điểm của 2 phương pháp phân lập giống. 120
x
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Đồ thị 1. Kết quả phân giải ammonia của giá thể BC được cố định ở các chế độ bẫy hấp phụ. 83
Đồ thị 2. Tổng lượng ammonia đã phân giải sau 29 ngày xử lý trên 1L nước biển. 84
Đồ thị 3. Kết quả phân giải ammonia của giá thể BC được cố định ở các tỉ lệ khối lượng so với
dịch vi khuẩn khác nhau. 84
Đồ thị 4. Tổng lượng ammonia đã phân giải sau 29 ngày xử lý trên 1L nước biển. 85
Đồ thị 5. Kết quả phân giải ammonia của giá thể đá san hô được cố định ở các chế độ bẫy hấp
phụ khác nhau. 87
Đồ thị 6. Tổng lượng ammonia đã phân giải sau 29 ngày xử lý trên 1L nước biển. 87
Đồ thị 7. Kết quả phân giải ammonia của giá thể đá san hô được cố định ở các tỉ lệ khối lượng so
thoát khủng hoảng như lịch sử đã minh chứng. Thời điểm tháng 4/2010, các tỉnh khu
vực ven biển và đồng bằng sông Cửu Long đã gánh chịu sự hạn hán, nhiễm mặn
nghiêm trọng gây nguy hại đến an ninh lương thực của cả nước và trên thế giới. Bài
toán cho một nền nông nghiệp bền vững hiện đang đặt ra cho các nhà khoa học, nhà
quản lý ở Việt Nam phải giải quyết nhanh, mạnh và kịp thời, nếu không những hệ luỵ
tiếp theo từ sự suy giảm nông nghiệp sẽ rất khó lường.
“Con tôm ôm cây lúa” hiện là mô hình nông nghiệp sinh thái được đánh giá cao
về hiệu quả kinh tế lẫn tác động tích cực lên môi trường, khi luân canh giữa vụ tôm và
vụ lúa thì các chất dinh dưỡng trong vụ tôm sẽ được lúa hấp thụ và do đó giảm bớt
nhiều chi phí hoá chất bón phân. Ngoài ra, nuôi tôm thịt trong điều kiện quảng canh
như vậy sẽ hạn chế dịch bệnh, đảm bảo tôm phát triển bình thường và tận dụng tốt
nguồn nước đang bị xâm mặn như hiện nay.
Bên cạnh mô hình nông nghiệp sinh thái nuôi trồng quảng canh, thì mô hình nuôi
tôm công nghiệp với mật độ cao ở nước ta vẫn là nguồn cung cấp chính cho xuất khẩu.
Thái Lan là nước có lượng tôm xuất khẩu lớn nhất thế giới, sản lượng lên đến 250.000
tấn/năm, theo sau đó là các nước trong khu vực Đông Nam Á với hệ thống nuôi tôm
công nghiệp quy mô lớn, dẫn đến 80% lượng tôm trên thế giới được sản xuất từ khu
vực này. Để đáp ứng nhu cầu về con giống, các trang trại nhân giống tôm đã áp dụng
hình thức nuôi với mật độ rất dày đặc cả tôm giống lẫn lượng thức ăn, vì nuôi trong
những bể cô lập (trung bình thể tích 4 m
3
) nên thức ăn thừa tồn đọng trong bể rất lớn,
khi đó lượng thức ăn này bị phân huỷ ra các hợp chất thứ cấp và cuối cùng về
ammonia do các nhóm vi khuẩn amon hoá thực hiện, chính lượng ammonia này sẽ gây
ảnh hưởng xấu đến chất lượng tôm giống về sau [29].
Để tôm phát triển tốt, cần kiểm soát lượng khí NH
3
tự do trong nước nhỏ hơn 0,1
ppm (ứng với N-NH
4
các phương pháp trên chính là chi phí đầu tư ban đầu lớn, tốn kém trong quá trình bảo
trì vận hành, hơn nữa, công nghệ sử dụng khá phức tạp nên khó ứng dụng đối với
những hộ nuôi tôm có quy vừa và nhỏ vốn là thành phần chủ lực trong sản xuất tôm
giống ở những nước Đông Nam Á. Hình 1-1. Phương pháp dòng chảy qua
lớp đệm [35].
Hình 1-2. Phương pháp dòng chảy chìm [35].
Giải pháp sử dụng trực tiếp chế phẩm vi sinh ngay trong bể nuôi để xử lý ammo-
nia hiện đang được áp dụng nhằm khắc phục nhược điểm của phương pháp xử lý tập
trung. Hai hệ vi khuẩn được sử dụng trong chế phẩm vi sinh thuộc nhóm hoá tự
dưỡng, Nitrosomonas sp. và Nitrobacter sp., đây là những chủng có tốc độ sinh trưởng
chậm, thường có sẵn trong môi trường nước nhưng vì việc thay nước thường xuyên đã
làm rửa trôi hệ vi khuẩn có lợi này, kết quả là hoạt lực nitrate hoá tự nhiên trong bể
nuôi bị giảm đáng kể. Các chế phẩm thương mại hiện nay trên thị trường rất nhiều,
nhưng hiệu quả thật sự thì vẫn chưa rõ ràng bởi các nhà sản xuất thường nói quá hiệu
quả của chế phẩm. Các nguyên nhân dẫn đến sự kém hiệu quả khi sử dụng chế phẩm
vi sinh tự do (dạng lỏng, dạng bột) là chúng thích nghi kém với môi trường nước nuôi
tôm ở từng địa phương, sự cạnh tranh cơ chất với chủng vi sinh vật nội tại trong bể
nuôi và mật độ tế bào trong chế phẩm thường không cao.
CHƢƠNG 1: MỞ ĐẦU 3
1.2 Mục tiêu cần đạt
Đề tài này được thực hiện nhằm tìm ra một loại chế phẩm xử lý ammonia trong
nước nuôi tôm giống nhằm giúp nâng cao năng suất thu hoạch. Chúng tôi kết hợp giữa
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Quy trình nuôi tôm giống
Đối tượng áp dụng của chế phẩm vi sinh của chúng tôi chính là các trại nuôi tôm
giống nói chung, ở đó, người ta nuôi tôm giống trong các bể xi măng 4m
3
, trong môi
trường tối và thường không thay nước trong suốt vụ nuôi (khoảng 30 ngày). Chính vì
vậy, lượng thức ăn thừa tích tụ dưới đáy bể là rất lớn, giải pháp thường sử dụng là xy-
phông đáy (dùng bơm hút cặn ra ngoài), nhưng không thể loại được khí NH
3
hoà tan
trong nước.
Qua việc tìm hiểu sơ bộ cách nuôi tôm giống, yêu cầu chất lượng nước để đảm
bảo tôm phát triển tốt, chúng tôi tiến hành nghiên cứu và thử nghiệm chế phẩm vi sinh
sao cho phù hợp với môi trường nuôi và có hoạt tính phân giải NH
3
cao.
2.1.1 Yêu cầu chung về môi trƣờng nuôi
Nước biển dùng cho trại giống phải trong, sạch, hạn chế phù sa. Chất lượng nước
ổn định, độ mặn dao động ít. Vùng ven biển có đáy cát hay đá với nước tốt và đầy đủ
quanh năm được xem là rất lý tưởng. Trại xây dựng ven bờ biển đáy cát hay đá này
cũng hạn chế chi phí bơm nước và xử lý nước. Ngược lại, những nơi đầm lầy cửa sông
với nhiều phù sa, độ mặn thấp và biến động lớn về chất lượng nước và chịu ảnh hưởng
của nước thải, chất độc từ trong nội địa thì không thích hợp cho trại giống. Cũng cần
Ngoại trừ một số loài, hầu hết các loài tôm biển đều trải qua các giai đoạn ấu
trùng tương tự nhau gồm Nauplius, Zoae (3 giai đoạn) và Mysis (3 giai đoạn).
o Nauplius: Ấu trùng Nauplius mới nở có chiều dài khoảng 0,3mm, có 3 đôi phụ
bộ và một điểm mắt ở giữa trước. Ấu trùng có tập tính trôi nổi, hướng quang,
dinh dưỡng bằng noãn hoàn.
o Zoae: bao gồm 3 giai đoạn phụ: phân biệt Zoae 1 với Nauplius qua một số đặc
điểm như có carapace tròn, các phụ bộ và gai đuôi phát triển; Zoae 2, ấu trùng
xuất hiện 2 mắt có cuống, chủy có răng, bụng phát triển dài ra. Đôi râu thứ nhất
hướng ra phía trước; Zoae 3 có các gai lưng và gai bụng trên các đốt bụng. Râu
thứ nhất to hơn và có nhiều lông tơ. Các mầm chân ngực xuất hiện phía sau các
phụ bộ miệng. Đặc điểm rõ nhất là chân bụng xuất hiện trước đuôi; Ấu trùng
Zoae có tính ăn lọc, thụ động, thức ăn chính là tảo, có kích cỡ 3-30µm. Tuy
nhiên Zoae vẫn còn sử dụng noãn hoàn trong khi bắt đầu ăn ngoài. Zoae có
tính hướng quang mạnh.
o Mysis: có 3 giai đoạn phụ: Mysis 1 có cơ thể kéo dài, chân ngực phát triển,
telson xuất hiện, chưa có chân bụng; Mysis2 có mầm chân bụng nhưng chưa
phân đốt; Mysis3 có chân bụng phát triển dài gấp đôi so với giai đoạn Mysis2,
chân bụng có 2 đốt. Ấu trùng Mysis dần dần chuyển sang ăn động vật phiêu
sinh, bơi ngửa và giật về phía sau.
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
2.1.2.2 Giai đoạn hậu ấu trùng
Sau giai đoạn Mysis 3, ấu trùng chuyển sang giai đoạn hậu ấu trùng (tôm bột -
postlarvae) và có hình dạng tương tự như tôm trưởng thành. Postlarvae đầu tiên có
chiều dài khoảng 4,5mm. Các chân bụng có nhiều lông tơ. Postlarvae giai đoạn đầu
một số còn tập tính bơi trong cột nước, phần lớn bắt đầu sống đáy. Từ Postlarvae 6,
tôm chủ yếu sống đáy.
C có thể gây chết tôm.
o Oxy hòa tan: hàm lượng oxy hòa tan thấp (0-1,5 mg/L) có thể gây chết tôm tùy
thời gian bị tác động và các điều kiện khác. Hàm lượng oxy hòa tan tốt nhất cho
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7
tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm nên trong khoảng giữa 3,5 mg/L đến bão hòa.
Oxy hòa tan quá bão hòa cũng gây nguy hiểm cho tôm.
o CO
2
: hàm lượng CO
2
dưới 20 mg/L thông thường chưa ảnh hưởng đến tôm nếu
oxy đầy đủ.
o H
2
S: khí H
2
S rất độc đối với tôm. Khí này ở bất kỳ nồng độ nào nếu có cũng có
ảnh bất lợi đối với tôm. Tuy nhiên, do độ hoà tan trong nước thấp nên khí dễ
bay hơi ra khỏi bể nuôi.
o Ammonia (NH
3
và NH
4
+
): chỉ dạng khí NH
3
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8
vi khuẩn nitrate hoá là từ nhóm vi khuẩn quang hợp do sở hữu chu trình Calvin, cố
định CO
2
tạo thành các hợp chất carbon dự trữ năng lượng [15].
Nhóm vi khuẩn oxi hoá ammonia gồm 2 loại riêng biệt: vi khuẩn cổ oxi hoá am-
monia (AOA) và vi khuẩn oxi hoá ammonia (AOB). Tương tự như vậy cho nhóm vi
khuẩn oxi hoá nitrite. Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi tập trung xem xét đặc
điểm hình thái và sinh hoá của chủng vi khuẩn oxi hoá ammonia (AOB) và vi khuẩn
oxi hoá nitrite (NOB) mà 2 dòng tiêu biểu nhất chính là Nitrosomonas sp. và
Nitrobacter sp.
Đặc trưng chung của hệ vi khuẩn nitrate hoá là chúng sống được trong môi
trường khoáng vô cơ và oxi hoá chuyên biệt ammonia, nitrite hoặc nitrate, không sử
dụng glucose, peptone hay các chất hữu cơ khác để thu năng lượng. Vì vậy, các nhà
khoa học xếp chúng vào nhóm khoáng vô cơ tự dưỡng (lithotrophic) để phân biệt với
nhóm heterotrophic sống trên môi trường vô cơ lẫn hữu cơ bao gồm các loài nấm (như
Aspergillus), vi khuẩn dị dưỡng (Bacillus, Paracoccus, Pseudomonas, Thermus,
Azoarcus) cũng sở hữu khả năng oxi hoá ammonia hay nitrite để thu năng lượng,
nhưng hoạt tính rất thấp.
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 9 Hình 2-3. Cây phát sinh loài của hệ vi khuẩn oxi hoá ammonia (màu xanh) và oxi hoá
) và nồng độ muối, tiếp đến là nhiệt độ và pH môi trường.
Sau khi có được công thức môi trường thích hợp nhất cho vi khuẩn oxi hoá am-
monia phát triển, ta sẽ dùng một trong hai cách sau để phân lập là: phương pháp MPN
(số lượng tế bào chắc chắn có thể) dựa trên phân phối Poisson khi phân tích một loạt
mẫu pha loãng theo nhiều tỉ lệ khác nhau vào các ống nghiệm chứa môi trường nuôi
cấy thích hợp hoặc phương pháp trãi đĩa Petri từ mẫu ban đầu. Cần lưu ý là nhóm vi
khuẩn này phát triển cực kì chậm, nên đối với phương pháp MPN thì có thể xác định
mẫu có chứa tế bào vi khuẩn sau 2-3 tuần nuôi cấy (dựa trên sự thay đổi màu sắc do
chất chỉ thị pH gây ra), phương pháp trãi đĩa thì cần chờ đến 6-8 tuần mới thu được
khuẩn lạc.
Các môi trường chuẩn để nhân giống được liệt kê bên dưới, đối với môi trường
giữ giống, thì CaCO
3
(5 g/l) hoặc N-2-hydroxyethyl-piperarine-N’-2’ethanesulfonic
acid (HEPES, 4,77 g/l) được dùng như một chất đệm pH. Khi nuôi cấy, thì pH luôn
được chỉnh bằng NaHCO
3
10%. Giá trị pH tối ưu phụ thuộc vào nồng độ các muối
ammonium thêm vào. 10 mM muối ammonium thêm vào ở pH 8.0 được xem là tạo
điều kiện rất tốt cho quá trình phát triển của vi khuẩn. Nếu nuôi cấy ở thể tích lớn thì
cần phải khuấy hoặc sục oxy. Nhiệt độ 30
0
C là thích hợp với quá trình phát triển của vi
khuẩn. Thời gian cấy chuyền trong khoảng 3-4 tháng, có thể trữ vi khuẩn ở dạng dịch
lỏng chứ không nhất thiết ở dạng thạch nghiêng. Việc lưu trữ bằng phương pháp lạnh
sâu về cơ bản tỏ ra không thành công [20].
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 11
Cl (mg) 535
1320
500
(NH
4
)
2
SO
4
(mg)
500
130
MgSO
4
.7H
2
O (mg)
40
200
49,3
200
CaCl
2
74,4 NaCl (mg) 584 Chelated iron FeNaEDTA (mg)
1
1
FeSO
4
.7H
2
O (μg) 973,1 Fe-EDTA (mg)
0,5
MnCl
2
.4H
2
O (μg)
200
2
MnSO
4
.4H
2
O (μg) 44,6 CoCl
2
.6H
2
O (μg)
2
2
Phenol red 0,5% (ml)
0,1
1
1
Cresol red 0,5% (ml) 1
1
[20].
2.2.2.2 Đặc điểm về giống
Việc phân loại vi khuẩn này về cơ bản dựa vào hình dáng của tế bào, sau đó là sự
sắp xếp của màng bao tế bào chất (intracytoplasmic membrane). Với các tiêu chí này,
người ta đã phân loại vi khuẩn oxi hoá ammonia thành 5 giống chính là Nitrosomonas,
Nitrosococcus, Nitrosospira, Nitrosolobus và Nitrosovibrio. Trong đó, hiện có 16 loài
vi khuẩn đã được phân biệt dựa trên tỉ lệ G+C trong DNA, hoạt động của
carboxysome, hoạt tính urease, tốc độ chuyển hoá NH
3
, nồng độ tới hạn ammonia
trong môi trường, yêu cầu về độ mặn và nồng độ muối tới hạn. 12
Bảng 2. Đặc điểm hình thái-sinh hoá của vi khuẩn oxi hoá ammonia.
Vi thể
Đại thể
+ Thường đứng theo cặp, di
động nhờ tiên mao ở cực có
chiều dài từ 3 đến 5 lần so với
tế bào.
+ Gram dương.
+ Trên sicica gel hay đĩa
petri agar thì không có
khuẩn lạc đặc trưng.
Nhưng có màu hơi vàng
nâu, sinh khối phát triển
xung quanh các hạt
CaCO
3
trong môi trường.
+ Phát triển trong môi trường khoáng vô cơ có chứa
muối ammonium, phát triển đồng nhất trong dung dịch
cũng như trong cặn CaCO
3
dưới đáy erlen.
+ Thậm chí trong môi trường có tích luỹ nồng độ thấp
chất hữu cơ cũng làm chậm hoặc ức chế sự bắt đầu sinh
trưởng của vi khuẩn.
+ Dịch chiết từ thực vật gây độc cho vi khuẩn.
+ Khí CO
2
và O
2
cần thiết cho sự sinh trưởng.
+ pH tối ưu từ 8-9. Phát triển rất chậm ở pH 7, vẫn phát
triển ở pH cao hơn 9.
+ Phân bố ở trong đất.
GIỐNG
Nitrosospira sp.
Tế bào có dạng xoắn ốc, oxi hoá ammonia thành nitrite rất chậm.
Nitrosospira
briensis
+ Tế bào cuộn xoắn rất chặt
tạo thành những ống dài đến
15-20 µm. Những vòng xoắn
nhỏ hơn được tạo từ các tế
bào có hình que ngắn hoặc
elip. Một số tế bào dạng cầu
nhỏ được quan sát thấy ở
những dịch nuôi cấy lâu ngày.
+ Khuẩn lạc trên silica gel
nhỏ, thỉnh thoảng những
tế bào kết lại thành dạng u
nhỏ nhưng những hạt này
phát triển kém hơn so với
những hạt khuẩn lạc ở
giống Nitrosocystis.
+ Sống hiếu khí.
+ pH thích hợp từ 7-7,2.
+ Phân bố ở trong đất.
Nitrososipira
antarctica
Tế bào và khuẩn lạc trông rất giống dòng Nitrosospira
briensis ngoại trừ tế bào về tổng thể thì cuộn với nhau tạo
thành những vòng xoắn chặt hơn.
GIỐNG
thể u nhỏ.
+ Tế bào ít khi đứng riêng lẻ
mà thường đứng thành cặp và
những nhóm nhỏ từ 4 tế bào
trở lên. Có khả năng di động.
+ Khuẩn lạc trên silica gel phát triển thì làm lớp áo CaCO
3
bên ngoài trở nên có màu
vàng nhạt và hoà tan, khuẩn lạc xuất hiện có phình ra và cứng chắc, tạo thành những
hạt nhỏ màu nâu có đường kính 0,5mm. Tế bào phát triển chặt với nhau tạo thành
những quần thể phồng ra không đều.
+ Sống hiếu khí. Xuất hiện trong đất rừng, phân bón.
GIỐNG
Nitrosogloea sp.
Tế bào dạng elip hoặc dạng que. Gắn với nhau bởi lớp nhầy tạo thành đám khuẩn lạc nhầy. Không có màng bao xung
quanh những đám khuẩn lạc này.
Nitrosogloea
merismoides
+ Tế bào elip từ 0,5-1,5µm. Hình ovan hay que ngắn tạo thành chuỗi, mỗi nhóm có màng bao riêng. Các nhóm này
rất khác nhau về mức độ phân nhánh của chuỗi, là tập hợp tế bào khá chặt và không theo quy luật.
+ Tế bào trên silica gel thì bao bọc bởi lớp nhầy màu vàng làm cho khuẩn lạc có dạng đục không rõ. Khuẩn lạc trên
bề mặt thạch rải rác tạo thành những hạt u nhỏ.
+ Sống hiếu khí. Phân bố ở bùn hoạt tính.
Nitrosogloca
schizobacteroides
+ Dạng que dài hoặc sợi nhỏ,
dài từ 3-4 µm.
+ Khuẩn lạc trên silica gel thì tạo thành nhóm tế bằng phẳng được liên kết bởi lớp
màng mỏng. Tập hợp này hình thành những miếng cơ giả, do sự đan xen bởi những
sợi nhỏ giống như miếng đệm của sợi nấm. Miếng đệm này có thể lấy ra như một