BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHỆP
----------------------------
ĐÀO NGỌC TÚ
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT
TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN HANG KIA – PÀ CÒ
TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Mã số: 60.62.68
Tóm tắt luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Hà Nội, 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHỆP
-----------------------------
ĐÀO NGỌC TÚ
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHỆP
------------------------------
ĐÀO NGỌC TÚ
NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG THỰC VẬT
TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN HANG KIA – PÀ CÒ
TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Mã số: 60.62.68
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Lê Đồng Tấn
Hà Nội, 2010
Công trình được hoàn thànht tại:
Trường Đại Học Lâm Nghiệp Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Đồng Tấn
Người phản biện 1: PGS. TS. Trần Minh Hợi
Người phản biện 2: TS. Hoàng Văn Sâm
phương diện bảo tồn mất rừng đã chia cắt nơi sống của động vật, dẫn đến mất
loài, mất nguồn gen và làm suy giảm đa dạng sinh học…
Đứng trước những hiểm họa do việc mất rừng gây ra, những năm gần
đây Đảng và Nhà nước ta đã thay đổi, bổ xung nhiều chính sách nhằm bảo vệ
nguồn tài nguyên vô cùng quý giá này. Năm 1962 Chính phủ Việt Nam quyết
2
định thành lập Vườn quốc gia đầu tiên ở nước ta đó là VQG Cúc Phương.
Đây chính là cơ sở cho việc thành lập và phát triển hệ thống các khu bảo tồn
thiên nhiên trên cả nước. Tới nay ( 8/2010) đã có 128 khu bảo tồn được thành
lập trong đó có 30 vườn Quốc gia, 48 khu dự trữ thiên nhiên, 12 khu bảo tồn
loài và sinh cảnh, 38 khu văn hóa, lịch sử và môi trường. Đây là một bước
ngoặt quan trọng nhằm mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam [7].
Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò nằm ở phía Tây tỉnh Hòa
Bình cách Hà Nội 170km, Hòa Bình là một tỉnh miền núi với diện tích rừng
và đất lâm nghiệp là: 322.334,73 ha, chiếm 69% tổng diện tích đất tự nhiên
toàn tỉnh. Những năm gần đây, Hòa Bình là một trong những tỉnh có chính
sách bảo vệ rừng tốt nhất trong cả nước. Tại đây, diện tích rừng tự nhiên lớn
còn tương đối lớn và hiện còn nhiều nguồn gen quý hiếm như: Pơ Mu, Thông
Nàng, Kim Giao, Đinh, Nghiến, Sến, Táu, Trai, các loài Lan hài và nhiều
động vật quý: Vọoc mũi hếch, Vọoc đen má trắng, Khỉ mặt đỏ, Gấu, Cầy
vằn,…. Điều này cho thấy việc nghiên cứu, đánh giá khu hệ thực vật để xây
dựng chiến lược bảo tồn các loài quý hiếm nơi đây là rất cần thiết, nó đóng
vai trò quan trọng và là nhiệm vụ hàng đầu. Mặc dù chính quyền địa phương
đã có nhiều cố gắng trong công tác quảng lý và bảo vệ rừng, nhưng trước sức
ép dân số ngày càng gia tăng và sự tác động của người dân vào rừng ngày
càng nhiều như: nạn phá rừng, đốt nương làm rẫy, khai thác, săn bắt trái phép
vẫn đang là một vấn đề cấp thiết đối với các cấp, các ngành, bởi nguồn thu
mặt môi trường sinh thái mà còn có giá trị về Văn hoá, Giáo dục, Thẩm
mỹ…. Chính vì vậy mà công ước về bảo tồn ĐDSH đã được thông qua tại hội
nghị thượng đỉnh tại Rio de Janeiro (Braxin, 1992) [8], đây là mốc đánh giá
sự cam kết của các quốc gia trên toàn thế giới về bảo tồn ĐDSH, đảm bảo
việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên sinh vật. Do mới được quan tâm nên
ĐDSH vẫn là khái niệm còn mới và nghĩa của nó còn khá rộng nên được
nhiều tập thể tác giả đề cập đến.
Trong Công ước Quốc tế về bảo tồn ĐDSH đã định nghĩa: “ĐDSH là
tính khác biệt, muôn hình muôn vẻ về câu trúc, chức năng và các đặc tính
khác giữa các sinh vật ở tất cả mọi nguồn bao gồm hệ sinh thái trên đất liền
và các hệ sinh thái dưới nước”.
Theo Qũy Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (WWF, 1990) [14], khái niệm
ĐDSH như sau: ĐDSH là sự phồn thịnh của cuộc sống trên trái đất, là hàng
triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các
loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong một môi
trường. Như vậy, ĐDSH được xem xét ở cả 3 mức độ: ĐDSH ở cấp độ loài
bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động,
thực vật và các loài nấm. Ở mức độ cao hơn, ĐDSH bao gồm cả sự khác biệt
về gen giữa các loài, giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý cũng như
giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể. ĐDSH còn bao gồm cả
sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống, giữa các hệ sinh
5
thái, nơi mà các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại, và cả sự khác biệt
của các môi trường sống tương tác giữa chúng với nhau.
Bên cạnh đó ĐDSH còn được định nghĩa như sau: ĐDSH là tập hợp tất
cả các nguồn sống trên hành tinh chúng ta, bao gồm tổng số các loài động,
thực vật, tính đa dạng phong phú trong từng loài, tính đa dạng của các hệ sinh
khác biệt với các nhóm cá thể khác về mặt sinh học và sinh thái. Các cá thể
trong loài có vật chất di truyền (giao phôi, giao phấn ) với nhau và các thế hệ
con cái hữu thụ (có khả năng sinh sản tiếp). Như vậy, các cá thể trong loài
chứa toàn bộ thông tin di truyền của loài. Vì vậy, tính đa dạng loài hoàn toàn
bao trùm tính đa dạng di truyền và thường được coi trọng nhất khi đề cập
đến tính ĐDSH.
- Đa dạng ở mức độ sinh thái: Thể hiện bằng sự khác nhau của các kiểu
quần xã sinh vật tạo nên. Quần xã sinh vật được xác định bởi các loài sinh vật
trong một sinh cảnh nhất định cùng các mối quan hệ qua lại giữa các cá thể
trong loài và giữa các loài với nhau. Quần xã sinh vật cũng quan hệ với môi
trường vật lý tạo thành một hệ sinh thái. Hệ sinh thái là một cấu trúc và chức
năng sinh quyển bao gồm các quần xã động, thực vật, các quần xã vi sinh vật,
thổ nhưỡng ( đất ) và các yếu tố khí hậu. Các thành phần này liên hệ với nhau
thông qua các chu trình vật chất và năng lượng (chu trình sinh địa hoá ). Cao
hơn nữa, định nghĩa này đã đề cập đến xã hội loài người đó là đa dạng các
loại hình văn hoá dân tộc. Đây là một quan điểm mới được đề cập đến mang
tính nhân đạo và sự công bằng xuất phát từ đạo đức, đó chính là câu trả lời
cho một phần của câu hỏi vì sao phải bảo tồn ĐDSH.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THỰC VẬT
1.2.1. Nghiên cứu về đa dạng phân loại
1.2.1.1. Trên thế giới
7
Cho đến nay, vấn đề đa dạng sinh vật và bảo tồn nguồn tài nguyên đã chở
thành chiến lược trên toàn thế giới. Đã có nhiều tổ chức quốc tế được ra đời với
mục tiêu nhằm hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn và phát
triển đa dạng sinh vật trên phạm vi toàn cầu như: Hiệp hội Quốc tế Bảo vệ
Thiên nhiên (IUCN), Chương trình Môi Trường Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ
việc bảo tồn chúng có hiệu qủa hơn.
Cho đến nay, đã có nhiều công trình khoa học khác nhau ra đời và hàng
ngàn cuộc hội thảo khác nhau được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, về
phương pháp luận và thông báo các kết qủa đã đạt được ở khắp mọi nơi trên
toàn thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế hay khu vực được nhóm họp tạo thành
mạng lưới phục vụ cho việc đánh giá bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học.
1.2.1.2. Ở Việt Nam
Ngay từ thế kỷ XVIII, Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về
thực vật như các công trình của Loureiro (1790) sang thế kỷ XIV có công
trình của Pierre (1879 - 1907) và cho đến những năm đầu thế kỷ XX đã xuất
hiện một công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng thực
vật Việt Nam, đó là bộ Thực vật chí Đại cương Đông Dương do Lecomte chủ
biên (1907 - 1952). Trong công trình này, các tác giả người Pháp đã thu mẫu
và định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn lãnh thổ Đông
Dương, con số kiểm kê và được đưa ra là 7004 loài thực vật bậc cao có mạch.
Tuy nhiên con số này còn ít xa so với số loài có ở ba nước Đông Dương. Gần
đây đáng chú ý nhất là phải kể đến bộ Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ
(1991 - 1993) [12] xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt
Nam (1999 - 2000), bộ sách danh lục các loài thực vật ở Việt Nam (2001 2005). Đây là bộ sách đầy đủ và dễ sử dụng nhất góp phần đáng kể cho
nghiên cứu khoa học thực vật ở Việt Nam.
Trên cơ sở bộ thực vật chí Đông Dương, tác giả Thái Văn Trừng (1978)
đã thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài, 1850 chi và 289 họ. trong đó
9
nghành Hạt kín có 3.366 loài (90,9%), 1.727 chi (93,4%) và 239 họ (82,7%).
Nghành Dương xỉ và họ hàng Dương xỉ có 599 loài (8,6%), 205 chi (5,57%)
và 42 họ (14,5%). Ngành hạt trần có 39 loài (0,5%), 18 chi (0,9%) và 8 họ
(2,8%)[25]. Về sau Humbert (1938 - 1950) đã bổ sung, chỉnh lý để hoàn thiện
(1998) đã giới thiệu 2024 loài thực vật bậc cao, 771 chi, 200 họ thuộc 6
nghành của vùng núi cao Sa Pa – Pan Si Pan, hay một loạt các bài báo về đa
dạng thành phần loài ở vườn Quốc gia Cúc Phương, vùng núi đá vôi Hoà
Bình, núi đá vôi Sơn La, khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang của tỉnh Tuyên
Quang, vùng núi cao Sa Pa - Pan Si Pan , vùng ven biển Nam Trung Bộ, vườn
Quốc gia Ba Bể, Cát Bà, Bến En, Pù Mát, Phong Nha, Cát Tiên, Yok Đôn,
Phong Nha - Kẻ Bàng và Hoàng Liên……do Nguyễn Nghĩa thìn cùng một số
tác giả khác công bố trong những năm gần đây 1995 - 2003. Ngoài những bài
báo công bố, tác giả Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Bá Thụ đã công bố cuốn sách
“Tính đa dạng thực vật Cúc Phương” (1976), cùng Mai Văn Phô công bố
cuốn “Đa dạng sinh học khu hệ Nấm và Thực vật ở Vườn Quốc gia Bạch Mã”
(2003) và cùng với Nguyễn Thanh Nhàn (2004) đã công bố cuốn “Đa dạng
thực vật ở Vườn Quốc gia Pù Mát - Nghệ An”, “Đa dạng thực vật ở Vườn
Quốc gia Na Hang - Tuyên Quang ”.
Trên cơ sở các bộ thực vật chí, các danh lục thực vật của từng vùng,
việc đánh giá tính đa dạng thực vật của cả nước hay từng vùng cũng đã được
các tác giả đề cập đến dưới các mức độ khác nhau, trên những nhận định
khác nhau.
Về đa dạng các giá trị phân loại: Trên phạm vi cả nước Nguyến Tiến
Bân (1990) đã thống kê và đi tới kêt luận thực vật Hạt kín trong hệ thực vật
Việt Nam hiện biết 8500 loài, 2050 chi trong đó lớp Hai lá mầm 1590 chi và
trên 6300 loài và lớp một lá mầm 460 chi với 2200 loài. Phan Kế Lộc (1996)
đã tổng kết hệ thực vật Việt Nam có 9628 loài cây hoang dại có mạch, 2010
chi, 291 họ, 733 loài cây trồng, như vậy tổng số loài lên tới 10361 loài, 2256
11
chi, 305 họ chiếm 4%, 15% và 57% tổng số các loài, chi và họ của thế giới.
Ngành Hạt kín chiếm 92,47% tổng số loài, 92,48% tổng số chi và 85,57%
12
vẫn chưa đươ ̣c Chin
́ h phủ phê duyê ̣t. Khu bảo tồ n thiên nhiên đang thuô ̣c sự
quản lý của Chi cu ̣c Kiể m lâm Hoà Bình (Nguyễn Ma ̣nh Dầ n, Giám đố c Khu
BTTN Hang Kia - Pà Cò, 2003).
1.2.2. Đa dạng về hệ sinh thái
1.2.2.1. Trên thế giới
+ Có rất nhiều tác giả khác nhau đưa ra những lý luận riêng của mình về
phân loại rừng phục vụ cho đánh giá về đa dạng sinh thái. Mỗi lý luận đều
đưa ra những cách thức phân loại riêng theo mục đích của tác giả như:
+ Phân loại rừng dựa theo cấu trúc và ngoại mạo: Đây là hướng cổ điển
được nhiều tác giả áp dụng như A. F. Schimper (1903), A. Aubréville (1949),
UNESCO (1973),… cơ sở phân loại của xu hướng này thường là đặc điểm
phân bố, dạng sống ưu thế, cấu trúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái
khác của quần xã thực vật.
1.2.2.2. Ở Việt Nam
Về đa dạng quẫn xã thực vật trên phạm vi cả nước phải kể đến công trình
nghiên cứu nổi tiếng của Thái Văn Trừng (1963 - 1978) [25] về thảm thực vật
rừng Việt Nam. Dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần thể, tác giả phân
chia thảm thực vật Việt Nam thành 2 đai theo độ cao, các kiểu thảm, kiểu
phụ, kiểu trái. Căn cứ vào mức độ ưu thế của loài cây để phân chia thành quần
hợp, ưu hợp là những đơn vị phân loại nhỏ nhất. Trong các yếu tố phát sinh
thì khí hậu là yếu tố phát sinh ra kiểu thực vật, còn các yếu tố địa lý, địa hình,
địa chất, thổ nhưỡng, khu hệ thực vật và con người là yếu tố phát sinh của các
kiểu phụ, kiểu trái và ưu hợp.
Đối với mỗi vùng đều có những tác phẩm lớn: Ở miền Nam vùng Nam
Trung Bộ có công trình thảm thực vật Nam Trung Bộ của Schmid (1974).
Ngoài điều kiện khí hậu với chế độ thoát hơi nước khác nhau, các tiêu chuẩn
các cộng sự về các kiểu thảm thực vật Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên, Đỗ
Minh Tiến về các kiểu thảm thực vật Vườn Quốc gia Tam Đảo, Bùi Văn
14
Định, Cao Văn Sung, Phạm Đức Tiến về các kiểu thảm thực vật Vườn Quốc
gia Ba Bể. Những năm gần đây Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời giới
thiệu về các thảm thực vật vùng Sa Pa – Phan Si Pan (1998), Kim J.W.,
Nguyễn Nghĩa Thìn (1998) và Nguyễn Nghĩa Thìn (1999) về các kiểu thảm ở
Vườn Quốc gia Cát Bà. Gần đây nhất là những công trình của Nguyễn Nghĩa
Thìn và tập thể đã công bố trong những cuốn sách: “Tính đa dạng thực vật
Cúc Phương” (1976), “Đa dạng thực vật vùng núi cao Sa Pa – Phan Si Pan”
(1998), “Đa dạng sinh học khu hệ Nấm và Thực vật ở Vườn Quốc gia Bạch
Mã” (2003), “Đa dạng thực vật ở Vườn Quốc gia Pù Mát, Nghệ An” (2004),
“Đa dạng thực vật ở khu BTTN Na Hang, Tuyên Quang” (2005) [23]…
1.2.2.3. Ở khu BTTN Hang Kia - Pà Cò
Theo các nguồn tài liệu mà chúng tôi được biết thì từ khi thành lập khu
BTTN chỉ có công trình “Dự án xây dựng Khu BTTN Hang Kia - Pà Cò” của
Chi cục kiểm lâm tỉnh chỉ đưa ra 3 kiểu rừng nguyên sinh trên núi đá vôi và
núi đất ở khu bảo tồn này:
+ Rừng nguyên sinh trên núi đất
+ Rừng nguyên sinh trên núi đá vôi
+ Rừng nguyên sinh cây lá kim với ưu thế Thông Hang Kia - Pà Cò.
1.2.3. Nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật
Các loài thực vật cấu thành nên một hệ thực vật (HTV) nào đó không chỉ
khác nhau về thành phần phân loại mà còn khác nhau về sự phân bố địa lý,
nguồn gốc địa lý và cả tuổi xuất hiện trong HTV[21].
Phân tích các yếu tố địa lý thực vật là một trong những yếu tố quan trọng
khi nghiên cứu một hệ thực vật hay bất kỳ một khu hệ sinh vật nào để hiểu
Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác
15,0%
Yếu tố đặc hữu bán đảo Đông Dương 11,9%
Yếu tố nhập nội và phân bố rộng
20,8%
Theo Pócs Tamás (1965) khi nghiên cứu hệ thực vật Bắc Việt Nam đã
phân tích về phương diện địa lý thực vật của miền Bắc Việt Nam, đã phân
biệt các yếu tố như sau:
+ Nhân tố đặc hữu
39,90%
Đặc hữu Việt Nam
32,55%
Đặc hữu Đông Dương
7,35%
+ Nhân tố di cư từ các vùng nhiệt đới 55,27%
16
Từ Trung Quốc
Tổng:
100,00%
Năm 1978 Thái Văn Trừng căn cứ vào bảng thống kê các loài của hệ
thực vật Bắc Việt Nam và cho rằng ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5% số loài
đặc hữu. Nhưng khi thảo luận tác giả đã gộp các nhân tố di cư từ Nam Trung
Hoa và nhân tố đặc hữu bản địa Việt Nam làm một và căn cứ vào khu phân bố
hiện tại, nguồn gốc phát sinh của loài đó đã nâng tỷ lệ các loài đặc hữu bản
địa lên 50% (Tương tự 45,7% theo Gagnepain và 52,79% theo Pócs Tamás),
còn yếu tố di cư chỉ chiếm tỷ lệ 39,0% (trong đó từ Malaysia - Indonesia là
15%, từ Hymalaya - Vân Nam - Qúi Châu là 10% và từ Ấn Độ - Miến Điện là
14%), các nhân tố khác theo tác giả chỉ chiếm 11% (7% nhiệt đới, 3% ôn đới
và 1% thế giới), nhân tố nhập nội vấn là 3,08%.
Năm 1999, Nguyễn Nghĩa Thìn căn cứ vào các khung phân loại của Pócs
(1965) và Ngô Chính Dật (1993) [22] đã xây dựng thang phân loại các yếu tố
địa lý thực vật cho hệ thực vật Việt Nam và áp dụng vào cho việc sắp xếp các
chi thực vật Việt Nam vào các yếu tố địa lý như sau:
1. Yếu tố toàn cầu
2. Yếu tố Liên nhiệt đới
2-1.Yếu tố Á – Mỹ
2-2. Yếu tố Á – Phi – Mỹ
17
3. Yếu tố cổ nhiệt đới
3-1. Yếu tố Á – Úc
3-2. Yếu tố Á – Phi
chặt chẽ của các dạng với điều kiện tự nhiên của từng vùng và biểu hiện sự
tác động của điều kiện sinh thái đối với loài thực vật.
Khi người ta lập được phổ dạng sống (phổ sinh học) của hệ thực vật,
nghĩa là tính được tỷ số % số loài của mỗi nhóm dạng sống nhất định thì
người ta có thể hiểu được bản chất sinh thái của một hệ thực vật và có thể so
sánh với các hệ thực vật khác.
1.2.4.1. Trên thế giới
Trên thế giới, thường phổ biến dùng thang phân loại của Raunkiaer
(1934)[34] về phổ dạng sống, thông qua dấu hiệu vị trí chồi so với mặt đất
trong thời gian bất lợi (do lạnh, khô hay cả hai) trong năm. Thang phân loại
này gồm các nhóm dạng sống cơ bản sau.
1- Cây có chồi trên đất (Ph) trong đó:
a-
Cây gỗ lớn cao trên 30m (Mg)
b- Cây lớn có chồi trên đất cao 8 – 30m (Me)
c-
Cây nhỏ có chồi trên đất 2 - 8m (Mi)
d- Cây nhỏ có chồi trên đất lùn dưới 2m (Na)
e-
Cây có chồi trên đất leo quốn (Lp)
f-
Cây có chồi trên đất sống nhờ và sống bám (Ep)
13
Hay SN = 46 Ph + 9 Ch + 26 Hm + 6 Cr + 13 Th
Đây là cơ sở để so sánh phổ dạng sống của thảm thực vật ở các vùng
khác nhau trên trái đất. Do đó, khi đã tổng hợp được khối lượng các kiểu dạng
sống trong kiểu thảm thực vật, chúng ta có thể tính phần trăm của từng dạng
sống trên phổ dạng sống của kiểu đó, tức SB để so sánh với SN.
Thông thường, ở các vùng nhiệt đới, trong rừng ẩm thì Ph là 80%, Ch vào
khoảng gần 20%, còn Hm, Cr và Th rất ít gần như không có. Trái lại trong vùng
khô hạn thì Th và Cr có thể có tỷ lệ khá cao, còn Ph thì giảm xuống.
1.2.4.2 Ở Việt Nam
Trong công trình nghiên cứu hệ thực vật Bắc Việt Nam, tác giả Pócs
Tamás (1965) đã đưa ra công thức phổ dạng sống như sau:
SB = 52,21 Ph + 40,68 (Ch, H, Cr) +7,11 Th
Hay đối với một số Vườn Quốc gia, khu BTTN:
+ Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phô (2003) đã công bố dạng sống của
Vườn Quốc gia Bạch Mã như sau:
SB = 75,71 Ph + 5,78 Ch + 4,83 Hm + 10,23 Cr + 3,45 Th.
+ Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn (2004) đã lập được phổ
dạng sống của Vườn Quốc gia Pù Mát như sau:
SB = 78,88 Ph + 4,14 Ch + 5,76 Hm + 5,97 Cr + 5,25 Th.