LVTS 2015 các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự việt nam - Pdf 44

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
-----------------------

TRẦN THỊ THANH THỦY

c¸c t×nh tiÕt lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm h×nh sù
trong luËt h×nh sù viÖt nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

-----------------------

TRẦN THỊ THANH THỦY

c¸c t×nh tiÕt lo¹i trõ tr¸ch nhiÖm h×nh sù
trong luËt h×nh sù viÖt nam

Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa

HÀ NỘI – 2015

2.1.2. Các điều kiện của phòng vệ chính đáng ............................................. 34
2.2. Loại trừ trách nhiệm hình sự do tình thế cấp thiết................................. 43
2.2.1. Khái niệm tình thế cấp thiết................................................................ 43


2.2.2. Các điều kiện của tình thế cấp thiết .................................................... 45
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 .............................................................................. 50
CHƢƠNG 3: HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH CÁC TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ...... 52
3.1. Đánh giá các tình tiết loại trừ TNHS trong BLHS Việt Nam .................. 52
3.2. Hoàn thiện BLHS quy định về các tình tiết loại trừ TNHS ..................... 57
3.2.1. Hoàn thiện quy định về phòng vệ chính đáng ....................................... 58
3.2.2. Bổ sung quy định về các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự khác ... 60
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 .............................................................................. 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 73


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nội dung trong luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nghiên cứu, các trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính
chính xác, tin cậy và trung thực.

Ngƣời cam đoan

Trần Thị Thanh Thủy


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT


Trách nhiệm hình sự

TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trách nhiệm hình sự (TNHS) là một dạng trách nhiệm pháp lý buộc
người phạm tội phải chịu chế tài hình sự được luật hình sự quy định. Theo đó,
luật hình sự có nhiệm vụ xác định các hành vi vi phạm pháp luật là tội phạm
và phải chịu TNHS. Bên cạnh đó, luật hình sự cũng có những quy định về các
trường hợp mà hành vi đã thực hiện về hình thức tuy có các dấu hiệu của tội
phạm nhưng vì có những tình tiết đặc biệt nên không bị coi là tội phạm và
không phải chịu TNHS. Luật hình sự Việt Nam nói chung cũng như Bộ luật
hình sự (BLHS) hiện hành chưa có tên gọi cho các tình tiết này mà chỉ có tên
gọi cho từng tình tiết cụ thể, đó là phòng vệ chính đáng (Điều 15) và tình thế
cấp thiết (Điều 16). Trong khoa học luật hình sự, các tình tiết này được các
nhà khoa học gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau. Các tên gọi khác nhau đó là:
“căn cứ hợp pháp của hành vi nguy hiểm cho xã hội”; “những trường hợp
(tình tiết) loại trừ tính chất tội phạm của hành vi”; “các yếu tố loại trừ tính
chất tội phạm của hành vi”; “những tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã
hội và tính trái pháp luật hình sự”; “các tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm
cho xã hội của hành vi” và “các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự”... Mặc
dù chưa có sự thống nhất trong việc sử dụng các thuật ngữ như kể trên nhưng
xét về nội dung, các trường hợp này đều được hiểu không khác nhau và hậu
quả pháp lý mà người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội đều giống

Trước hết, các Giáo trình Luật hình sự - Phần chung của các cơ sở đào
tạo đại học đều có nội dung trình bày những kiến thức cơ bản về chế định này
cũng như về nội dung của hai điều luật trong BLHS quy định về phòng vệ
chính đáng và tình thế cấp thiết. Tuy nhiên, đây chỉ là những kiến thức cơ
bản, tạo điều kiện cho việc nghiên cứu sâu về lý luận cũng như thực tiễn.
Các công trình nghiên cứu khác về vấn đề mà tác giả luận văn nghiên
cứu bao gồm các luận án, luận văn, các sách và các bài báo. Các công trình
này có thể được chia thành các nhóm sau:
- Nhóm nghiên cứu về nhiều vấn đề của Luật hình sự trong đó có nội
dung về chế định mà tác giả luận văn nghiên cứu. Ví dụ: Lê Văn Cảm, Những
2


vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Sách chuyên khảo
Sau đại học, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội (2005); Nguyễn Ngọc Hòa, Tội
phạm và cấu thành tội phạm, Nxb. Công an Nhân dân, Hà Nội (2010); Trịnh
Tiến Việt, Tội phạm và trách nhiệm hình sự, Nxb. Lao động, Hà Nội (2013);
- Nhóm nghiên cứu “các trường hợp (tình tiết) loại trừ trách nhiệm hình
sự” được hiểu bao gồm cả các trường hợp không có TNHS khác. Do vậy,
trong các công trình này, vấn đề mà tác giả luận văn nghiên cứu chỉ là một nội
dung trong nhiều nội dung khác được nghiên cứu. Ví dụ: Nguyễn Ngọc Chí,
Về chế định loại trừ trách nhiệm hình sự, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4
(1999); Giang Sơn, Các yếu tố loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của
hành vi, Luận án tiến sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội (2002); Trịnh
Tiến Việt, Chế định loại trừ trách nhiệm hình sự và những yêu cầu đặt ra khi
sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQG, Luật
học, tập 29, số 4 (2013); Nguyễn Tuyết Mai, Hoàn thiện chế định loại trừ
trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Luật học số 2
(2014);...
Như vậy, hai nhóm nghiên cứu này có nội dung nghiên cứu tương đối

công trình nghiên cứu này tuy đã làm rõ hơn cơ sở lí luận về các tình tiết loại
trừ TNHS nhưng mới chỉ tập trung vào hai tình tiết đã được quy định trong
BLHS.
Tóm lại, các công trình đã được công bố đã góp phần làm rõ cơ sở lý
luận cũng như những vướng mắc trong thực tiễn của chế định các tình tiết loại
trừ TNHS. Tuy nhiên, trước đòi hỏi của thực tiễn pháp lý, vẫn còn một số vấn
đề yêu cầu cần được làm rõ hơn như: làm rõ hơn bản chất của các trường hợp
được loại trừ TNHS; mối quan hệ giữa chế định này với các trường hợp
không có TNHS và miễn TNHS; cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định
các tình tiết loại trừ TNHS, cũng như làm rõ nội dung của các quy định mới
được bổ sung trong Dự thảo BLHS (sửa đổi) hoặc nội dung liên quan đến
thực tiễn gần đây như vấn đề thi hành công vụ và phòng vệ chính đáng.

4


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn có mục đích làm rõ hơn về lý luận chế định các tình tiết loại
trừ TNHS để đánh giá và đề xuất hướng hoàn thiện các quy định của BLHS
Việt Nam về vấn đề này.
Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Phân tích cơ sở lý luận của các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự;
- Giải thích các quy định của BLHS năm 1999 về phòng vệ chính đáng
và tình thế cấp thiết trong sự so sánh với lý luận và thực tiễn lập pháp của một
số quốc gia trên thế giới.
Từ đó, tác giả luận văn đề xuất những kiến nghị hoàn thiện chế định
các tình tiết loại trừ TNHS trong BLHS Việt Nam.
4.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu


CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TÌNH TIẾT LOẠI TRỪ
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự
1.1.1. Các cách hiểu và tên gọi khác nhau về các tình tiết loại trừ trách
nhiệm hình sự
Các tình tiết loại trừ TNHS là chế định không thể thiếu trong luật hình
sự của mỗi quốc gia, có quan hệ chặt chẽ với chế định TNHS cũng như các
chế định khác để tạo thành cơ sở pháp lý hoàn chỉnh cho việc truy cứu TNHS.
Một người chỉ có thể phải chịu TNHS về hành vi gây thiệt hại cho xã
hội khi họ có đủ điều kiện về chủ thể của tội phạm và có lỗi khi thực hiện
hành vi gây thiệt hại. Trái lại, họ sẽ không có TNHS khi thuộc về một trong
các trường hợp sau:
- Chưa đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của pháp luật hình sự (PLHS);
- Là người đang trong tình trạng mắc bệnh nên mất khả năng nhận thức
hoặc điều khiển hành vi theo đòi hỏi của xã hội hoặc
- Không có lỗi (có thể là trường hợp bất khả kháng hoặc trường hợp sự
kiện bất ngờ).
Các trường hợp này có thể được gọi là các trường hợp không có TNHS.
Ngoài các trường hợp trên đây, một người cũng không phải chịu TNHS
về hành vi gây thiệt hại cho xã hội mà mình đã thực hiện nếu việc thực hiện
được PLHS cho phép vì có những tình tiết nhất định (như phòng vệ chính
đáng hay tình thế cấp thiết). Những tình tiết này có thể được gọi là các tình
tiết loại trừ TNHS.
Như vậy, các trường hợp không có TNHS và các tình tiết loại trừ
TNHS có sự khác nhau. Tuy nhiên, về vấn đề này hiện có các ý kiến khác
nhau. Từ đó dẫn đến có những cách hiểu khác nhau về các tình tiết loại trừ
TNHS. Cụ thể: các tình tiết loại trừ TNHS có thể được hiểu theo nghĩa không
bao gồm các trường hợp không có TNHS. Cách hiểu khác lại cho rằng, các

trường hợp một người đã thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội, nhưng
đối chiếu (căn cứ) vào các quy định của Bộ luật hình sự thì họ không phải
chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này. Nói một cách khác, trong hành vi
8


của một người khi thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội do không thỏa
mãn ít nhất một trong các dấu hiệu cơ bản của tội phạm, nên tính chất tội
phạm của hành vi đó được loại trừ, và logic tương ứng, người thực hiện nó
không phải chịu trách nhiệm hình sự hay được loại trừ trách nhiệm hình sự”
[54, các tr.17, tr.18]. Theo đó, tác giả xác định 14 tình tiết loại trừ TNHS, bao
gồm: hành vi có tính chất nguy hiểm không đáng kể; sự kiện bất ngờ; chưa đủ
tuổi chịu TNHS; tình trạng không có năng lực TNHS; phòng vệ chính đáng;
tình thế cấp thiết; sự kiện bất khả kháng; không có lỗi trong tình trạng say do
dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác; gây thiệt hại hợp pháp khi bắt
người phạm tội; rủi ro trong sản xuất, nghiên cứu khoa học; thi hành quyết
định của cấp trên; giúp người đã thành niên tự sát theo yêu cầu tự nguyện của
người đó; người bị ép buộc đưa hối lộ mà chủ động khai báo; hành vi phạm
tội thái quá của người thực hành trong đồng phạm [54, các tr.18, tr.26 – tr.28].
TS. Nguyễn Tuyết Mai định nghĩa: “Loại trừ trách nhiệm hình sự là
những trường hợp người thực hiện hành vi gây nguy hại cho xã hội nhưng
được pháp luật xác định không phải chịu trách nhiệm hình sự do: tính nguy
hiểm cho xã hội không đáng kể; hoặc thiếu yếu tố của tội phạm; hoặc có căn
cứ hợp pháp của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội” [22, tr.12]. Tác
giả cũng xác định 14 tình tiết loại trừ TNHS, bao gồm: hành vi có tính chất
nguy hiểm cho xã hội không đáng kể; sự kiện bất ngờ; chưa đủ tuổi chịu
TNHS; tình trạng không có năng lực TNHS; phòng vệ chính đáng; tình thế
cấp thiết; không tố giác tội phạm; bị ép buộc đưa hối lộ; tình trạng bất khả
kháng; không có lỗi với tình trạng say; bị cưỡng bức; thi hành mệnh lệnh của
cấp trên; rủi ro trong nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ; bắt người

hội, hết thời hiệu truy tố hình sự, hết thời hiệu thi hành của bản án); c) Nhóm
thứ ba – các tình tiết loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi (bao
gồm: sự cưỡng bức về thể xác và, sức mạnh không thể chống lại được) [8; các
tr.510, tr.511].
Tóm lại, các tình tiết loại trừ TNHS có thể được các tác giả hiểu theo
nhiều phạm vi khác nhau. Bên cạnh đó, tên gọi của các trường hợp này cũng
có sự không thống nhất.
10


Tên gọi “các tình tiết loại trừ TNHS” là tên gọi được sử dụng trong
Giáo trình luật hình sự Việt Nam – Phần chung của Khoa Luật thuộc Đại học
Quốc gia Hà Nội (2003). Tác giả của Giáo trình này cho rằng “TNHS là hậu
quả pháp lý của trường hợp hành vi nguy hiểm bị coi là tội phạm và đối lập
với TNHS là không có hay loại trừ TNHS, là hậu quả pháp lý của hành vi gây
hậu quả về hình sự nhưng không bị coi là tội phạm” [9, tr.284]. Tác giả luận
văn chọn cách gọi này vì nó “… xác định rõ ràng phạm vi điều chỉnh của luật
hình sự, đồng thời phù hợp với nhận thức chung của cán bộ áp dụng pháp
luật đã được thống nhất lâu nay ở nước ta” [24, tr.9].
Khác với Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần chung của Khoa
Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, các giáo trình Luật hình sự Việt Nam
của hầu hết các cơ sở đào tạo luật khác như trường Đại học Luật Hà Nội
(2013), trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2014), trường Đại học
Huế (2001) đều đặt tên cho nhóm các quy phạm này là: “Những tình tiết loại
trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi”. Sở dĩ tên gọi này được lựa
chọn vì các tác giả cho rằng “hành vi đã thực hiện, xét về khách quan đã gây
ra thiệt hại nhưng xét về chủ quan thì chủ thể thực hiện không có lỗi vì đã lựa
chọn cách xử sự phù hợp với đòi hỏi của xã hội... Do không có lỗi nên hành vi
gây thiệt hại không bị coi là có tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm” [47,
tr.201]. Các tác giả cho rằng, hành vi gây thiệt hại sẽ không phải chịu TNHS

Một tên gọi khác được GS. TS. Nguyễn Ngọc Hòa nêu trong cuốn “Tội
phạm và cấu thành tội phạm” là “các căn cứ hợp pháp của hành vi nguy hiểm
cho xã hội”. Cách gọi này xuất phát từ quan điểm cho rằng “hành vi nguy
hiểm cho xã hội chỉ bị coi là tội phạm khi hành vi đó được quy định trong
BLHS và không thuộc những trường hợp có căn cứ hợp pháp khác. Theo đó,
hành vi đã thực hiện tuy được quy định trong BLHS nhưng vẫn không phải là
tội phạm nếu chủ thể có căn cứ hợp pháp được quy định trong BLHS khi thực
hiện hành vi này” [15, tr.38]. Tác giả của tên gọi này cho rằng, các hành vi
được quy định trong BLHS là các hành vi bị cấm nhưng một người vẫn có thể
được quyền thực hiện những hành vi có tính gây thiệt hại đã được quy định
đó trong trường hợp có căn cứ (tình tiết) nhất định được Bộ luật quy định. Do
12


vậy, những căn cứ (tình tiết) này được coi là các căn cứ hợp pháp của hành vi.
Các căn cứ này làm cho hành vi đã thực hiện “...không còn tính trái pháp luật
hình sự” [15, tr.39].
Bên cạnh các quan điểm về các tình tiết loại trừ TNHS được nhìn nhận
dưới nhiều góc độ khác nhau như đã trình ở trên, còn có quan điểm khoa học
của một số nhà khoa học trong và ngoài nước đề cập đến vấn đề loại trừ
TNHS.
Mỗi nhóm quan điểm nêu trên đều có lập luận khoa học và nhân tố hợp
lý riêng của mình. Trên cơ sở tổng kết, tiếp thu các quan điểm khác nhau
được giới thiệu khái quát trên đây, tác giả luận văn lựa chọn tên gọi “các tình
tiết loại trừ TNHS” và hiểu các tình tiết này theo phạm vi chỉ bao gồm những
tình tiết cho phép được thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội.
1.1.2. Định nghĩa và các đặc điểm của các tình tiết loại trừ trách nhiệm
hình sự
Các tình tiết loại trừ TNHS là các tình tiết mà khi có một trong các tình
tiết này thì người có hành vi gây thiệt hại cho xã hội được quy định trong luật

mục đích như vậy. Chính động cơ và mục đích này đã loại trừ trách nhiệm
hình sự. Do đó, phòng vệ được coi là một tình tiết loại trừ TNHS. Như vậy,
trong trường hợp có tình tiết loại trừ TNHS, chủ thể tuy lựa chọn hành vi gây
thiệt hại nhưng không phải là lựa chọn xử sự trái với đòi hỏi của xã hội mà là
lựa chọn hành vi cần thiết và phù hợp với lợi ích chung của xã hội. Điều này
cũng có nghĩa, chủ thể không có lỗi (theo đúng nghĩa) đối với hành vi khách
quan đã gây thiệt hại.
Cũng như trách nhiệm hình sự, các tình tiết loại trừ TNHS cũng cần
phải được luật hóa để đảm bảo nguyên tắc pháp chế. Cơ sở của TNHS phải
được luật quy định. Điều này cũng đòi các tình tiết cụ thể cũng như các dấu
hiệu của các tình tiết đó cũng phải được luật quy định. Việc được quy định
này chính là cơ sở pháp lý cho phép cá nhân được thực hiện hành vi gây thiệt
hại mà bình thường là tội phạm. Đây cũng là lý do giải thích tại sao có tác giả
gọi các tình tiết này là các căn cứ hợp pháp của hành vi gây thiệt hại.

14


Từ các phân tích khái quát trên, có thể rút ra các đặc điểm cơ bản của
các tình tiết loại trừ TNHS như sau:
* Tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự luôn gắn với hành vi gây thiệt
hại có dấu hiệu về hình thức của một tội phạm.
Hành vi đã thực hiện khi có tình tiết loại trừ TNHS là hành vi về mặt
hình thức đã thỏa mãn các dấu hiệu của một CTTP hay nói cách khác hành vi
đã là hành vi phạm tội nếu giả sử không có tình tiết này. Cụ thể:
- Chủ thể đã thực hiện hành vi có tính gây thiệt hại và hành vi này đã
được mô tả trong một CTTP. Trong đó, hành vi được coi là biểu hiện cơ bản
nhất trong mặt khách quan của CTTP, đã “làm biến đổi tình trạng của đối
tượng tác động và do vậy là nguyên nhân gây thiệt hại cho quan hệ xã hội là
khách thể của tội phạm” [15, tr.63];

TNHS.
* Các tình tiết loại trừ TNHS được quy định trong luật hình sự
Hai đặc điểm nêu trên là đặc điểm về nội dung nhưng chỉ với hai đặc
điểm đó thì các tình tiết loại trừ TNHS chưa thể là cơ sở pháp lý cho việc loại
trừ TNHS. Các tình tiết này phải được luật hóa, phải được quy định rõ ràng
trong luật và khi đó các quy định này mới là căn cứ hợp pháp của các hành vi
gây thiệt hại.
Việc phải xác định các tình tiết nào là tình tiết loại trừ TNHS và các
dấu hiệu cụ thể của từng tiết để quy định trong luật là cần thiết để đảm bảo
nguyên tắc pháp chế và qua đó bảo đảm tính thống nhất trong nhận thức và áp
dụng các tình tiết này.
Việc các tình tiết này được quy định trong luật hình sự không chỉ là xác
định các tình tiết loại trừ TNHS cụ thể mà quan trọng hơn là xác định rõ ràng
cơ sở cũng như phạm vi được phép thực hiện hành vi gây thiệt hại hoặc có thể
gây thiệt hại, hay nói cách khác là phải xác định rõ các dấu hiệu của từng tình
tiết loại trừ TNHS. Việc xác định tình tiết loại trừ TNHS cụ thể và dấu hiệu
của từng tình tiết đó phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia.
Từ các phân tích trên có thể định nghĩa các tình tiết loại trừ trách nhiệm
hình sự như sau: Các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự là các tình tiết
16


được luật hình sự quy định mà khi có một trong những tình tiết đó thì người
đã thực hiện hành vi gây thiệt hại có dấu hiệu của tội phạm được loại trừ
trách nhiệm hình sự vì hành vi của họ không có tính nguy hiểm của tội phạm.
1.1.3. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định các tình tiết loại trừ
trách nhiệm hình sự
Theo Từ điển Tiếng Việt, từ „cơ sở” được hiểu là “cái làm nền tảng
trong quan hệ với những cái được xây dựng trên nó hoặc dựa trên nó mà tồn
tại, phát triển” [23, tr.215]. Nếu cho rằng cơ sở của TNHS là việc cá nhân

người dân được hành động, được gây thiệt hại nhất định vì lợi ích chung, vì
bảo vệ những quan hệ xã hội đã được pháp luật bảo vệ. Chỉ trên cơ sở pháp
luật ghi nhận chính thức (về mặt pháp lý) công dân được phép làm gì (cũng
như không được phép làm gì) thì khi đó người dân mới dám thực hiện hành vi
pháp luật cho phép, mới xử sự trên cơ sở qui định pháp luật. Khi quyền lợi
chính đáng của mình được bảo vệ, được ghi nhận chính thức trong luật, người
dân mới dám chống trả lại hành vi đang xâm hại lợi ích của Nhà nước, của tổ
chức, lợi ích chính đáng của mình hay của người khác, mới dám “cống hiến”
và góp sức để phát triển xã hội. Bên cạnh đó, đối với người thi hành công vụ,
trong quá trình thực thi nhiệm vụ của mình, việc gây thiệt hại nhất định vì lợi
ích chung cũng vẫn phải trên cơ sở qui định của pháp luật, không được trái
pháp luật. Mặc dù đây là những hành vi có ích cho xã hội, tuy nhiên, điều đó
không có nghĩa là công dân “tùy tiện” muốn làm gì thì làm. Pháp luật đòi hỏi
họ phải thực hiện hành vi có ích trên cơ sở qui định của pháp luật. Trong một
xã hội mà “tinh thần thượng tôn pháp luật” là tối cao thì điều này lại càng có
ý nghĩa.
Trên thực tế, tình hình tội phạm ở nước ta nói riêng cũng như trên thế
giới nói chung diễn ra ngày càng phức tạp. Hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà
nước, của xã hội, của tập thể, của công dân có xu hướng ngày càng gia tăng.
Công cuộc đấu tranh chống tội phạm muốn hiệu quả đòi hỏi phải có sự tham
gia tích cực của đông đảo người dân trong xã hội. Tuy nhiên, chúng ta có thể
thấy hiện tượng nhiều người dân thường có thái độ bàng quan, thờ ơ khi
chứng kiến tội phạm xảy ra (như trông thấy tên lưu manh đang trộm cắp,
18


cướp tài sản, hoặc gặp trường hợp một số người đang hành hung người khác...
mà không dám phản ứng ngăn cản), thậm chí có người bị tội phạm trực tiếp
xâm phạm đến lợi ích chính đáng của chính bản thân mình mà cũng không
dám phản kháng. Việc người dân không tích cực tham gia chống tội phạm,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status