Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ HẢI HÀ

CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số

: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. VÕ KHÁNH VINH

HÀ NỘI, 2017


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU....................................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÁC TÌNH
TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM ...............................................................................................................7
1.1 Những vấn đề lý luận về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự...................7
1.2 Quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự.......................................................................................................................16
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC

TNHS

: Trách nhiệm hình sự

VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Bảng thống kê số liệu xét xử các vụ án hình sự từ năm 2012-2016 của
TAND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.................................................................32
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp thực tiễn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự theo quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 của TAND huyện Bắc
Quang, tỉnh Hà Giang từ năm 2012 - 2016...............................................................36
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp thực tiễn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự theo khoản 2 Điều 46 BLHS năm 1999 của TAND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà
Giang từ năm 2012 - 2016........................................................................................48


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyết định hình phạt là khâu quan trọng nhất trong hoạt động xét xử
của Tòa án. Trong đó, các tình tiết giảm nhẹ TNHS là một trong những căn
cứ để quyết định hình phạt, là cơ sở đảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc
cá thể hóa hình phạt trong áp dụng pháp luật. Việc quy định các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không những là cơ sở pháp lý để Hội đồng xét
xử đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm
tội, từ đó quyết định hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội và
nhân thân người phạm tội mà còn đảm bảo việc cải tạo giáo dục người phạm

giảm nhẹ trên cơ sở lý luận, thực tiễn nhằm hiểu rõ và áp dụng đúng đắn các tình
tiết giảm nhẹ TNHS để nâng cao chất lượng xét xử và tìm ra những vấn đề còn
vướng mắc khi áp dụng vào thực tiễn để từ đó đưa ra giải pháp bảo đảm áp dụng
đúng các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong thực tiễn xét xử là một yêu cầu rất quan
trọng và cấp thiết. Do vậy, tác giả chọn đề tài “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Bắc Quang, tỉnh Hà
Giang” để làm luận văn thạc sỹ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua tìm hiểu, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được nghiên
cứu trong nhiều công trình, bài viết như: Bình luận khoa học Bộ luật hình sự
Việt Nam năm 1999 (phần chung), Tập thể tác giả do TS. Uông Chu Lưu chủ
biên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Các tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự, ThS. Đinh Văn Quế, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2000; Hoàn thiện các quy định của phần chung Bộ luật hình sự trước
yêu cầu mới của đất nước, TS. Trịnh Tiến Việt, Nxb. Chính trị quốc gia - sự
thật, Hà Nội, 2012; Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần chung), tập thể
tác giả do GS.TS. Võ Khánh Vinh chủ biên, Đại học Huế, Nxb. Công an
nhân dân, 2010; Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong luật hình
sự Việt Nam, Trần Thị Quang Vinh, Luận án tiến sĩ luật học, Viện nghiên
cứu nhà nước và pháp luật, Hà Nội, 2003; Các tình tiết giảm nhẹ và tăng
nặng trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Việt Nam, Bùi Kiến Quốc,

2


Tạp chí Luật học số 6/2000; Ảnh hưởng của các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự trong chế định quyết định hình phạt theo Bộ luật hình sự năm
1999, Trần Thị Quang Vinh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 7/2001; Một
số ý kiến về tự thú và đầu thú trong BLHS năm 1999, Nguyễn Đức Tuấn, Bản
tin kiểm sát số xuân ra tháng 01/2002; Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng theo

sự đòi hỏi cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện hơn nhằm bảo đảm
áp dụng đúng đắn các tình tiết này trong thực tiễn xét xử của Tòa án nói
chung, Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang nói riêng . Do vậy,
tác giả của luận văn chọn đề tài “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Bắc Quang, tỉnh Hà
Giang” để phân tích, lý giải thêm về lý luận và thực tiễn áp dụng các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài luận văn này tác giả mong muốn đóng góp một phần suy
nghĩ của mình vào việc nhận thức đúng đắn những vấn đề lí luận về các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đánh giá thực tiễn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự trên địa bàn huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang nhằm tìm ra giải
pháp bảo đảm áp dụng đúng các tình tiết này để nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa
án nói chung, Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang nói riêng.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích như trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm
vụ sau:
- Một là, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sự
về các tình tiết giảm nhẹ TNHS.
- Hai là, đánh giá thực tiễn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS của Tòa án
nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang nhằm phát hiện những vướng mắc, thiếu
sót trong việc áp dụng các tình tiết này trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự.
- Ba là, đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các tình tiết giảm nhẹ
TNHS trong thực tiễn xét xử.

4


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu



7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục những từ viết tắt và danh mục tài
liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam.
- Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về các tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
- Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong thực tiễn xét xử.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM
NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Những vấn đề lý luận về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
a. Khái niệm
Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển các quy định của Pháp
luật hình sự về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong các thời kỳ
xây dựng và phát triển của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1945 đến nay, thì chưa có văn bản
pháp luật nào nêu khái niệm về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Kế
thừa các quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, B LHS năm
1985 và BLHS năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 và các văn bản quy
phạm pháp luật khác hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS cũng
không nêu khái niệm các tình tiết giảm nhẹ TNHS. Trong khoa học pháp lý

tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau:
- Trong bình luận khoa học Bộ luật hình sự năm 1999 phần chung,

Thạc sĩ Đinh Văn Quế cho rằng “Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là
các tình tiết trong một vụ án cụ thể nó sẽ làm giảm trách nhiệm hình sự của người
phạm tội trong một khung hình phạt” [20, tr.240].
- Tiến sĩ Trần Thị Quang Vinh thì định nghĩa các tình tiết giảm nhẹ

TNHS như sau: Các tình tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiết của vụ án
hình sự, liên quan đến việc giải quyết trách nhiệm hình sự, có ý nghĩa làm
giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh khả năng
cải tạo tốt hoặc hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan
hồng [40, tr.32].
- Theo quan điểm của Tiến sĩ Trịnh Tiến Việt trong bài viết về ản h

hưởng của các tình tiết giảm nhẹ trong việc quyết định hình phạt được đăng
trên tạp chí khoa học pháp lý số 01/2004 thì: Tình tiết giảm nhẹ TNHS là
những tình tiết được quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự, với tính
chất là tình tiết giảm nhẹ chung hoặc là tình tiết do Tòa án tự xem xét, cân

8


nhắc và ghi rõ trong bản án (nếu trong vụ án hình sự không có tình tiết này)
đồng thời là một trong những căn cứ để cơ quan tư pháp hình sự có thẩm
quyền và Tòa án tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tươn g ứng cá thể
hóa TNHS và hình phạt của người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hơn trong
phạm vi một khung hình phạt [34, tr.l].
Như vậy, ở những góc độ khác nhau các tác giả đưa ra các khái niệm khác
nhau về các tình tiết giảm nhẹ. Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật về các

12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng
một số quy định của BLHS và những tình tiết giảm nhẹ khác do HĐXX cân nhắc,
quyết định và ghi rõ trong bản án. Việc cho phép Tòa án có thể coi các tình tiết khác
là tình tiết giảm nhẹ TNHS trong từng vụ án đối với từng bị cáo cụ thể nhằm mở
rộng tính linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động xét xử của Tòa án, bảo đảm cho hoạt
động xét xử được công bằng, chính xác, khách quan. Pháp luật dù hoàn thiện đến
đâu cũng không thể tiên liệu hết mọi tình huống của cuộc sống nên quy định cho
phép Tòa án xem xét các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ trong hoạt động xét xử
là hợp lý và cần thiết.
Hai là: Các tình tiết giảm nhẹ TNHS có giá trị làm giảm bớt trách
nhiệm hình sự của người được áp dụng các tình tiết này. Tình tiết giảm nhẹ
TNHS có khả năng làm giảm hình phạt trong giới hạn một khung hình phạt,
chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn, miễn hình phạt, miễn trách nhiệm hì nh
sự, áp dụng án treo. Trường hợp thông thường, người có tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự được giảm nhẹ hình phạt trong phạm vi khung hình phạ t
đang được áp dụng đối với người đó. Mức hình phạt trong trường hợp này
tùy thuộc vào số lượng và giá trị giảm nhẹ của các tình tiết mà người đó có.
Việc quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt của
điều luật được quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự: "Khi có ít nhất hai tình
tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Tòa án có thể
quyết dịnh một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều
luật đã quy định.....". Tại điểm d khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 01/2013/NQHĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao
hướng dẫn áp dụng Điều 60 Bộ luật hình sự về án treo quy định một trong
các điều kiện để xem xét cho người bị xử phạt tù hưởng án treo là " ......có từ

10


hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên trong đó có ít nhất một tình
tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.....". Tại

12


mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định” chỉ có thể thực hiện
“khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46”.
1.1.2. Phân loại các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
a. Các tình tiết ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Đây là tình tiết thuộc về yếu tố khách quan, chủ quan hay nhân thân
người phạm tội- những yếu tố quyết định mức độ nguy hiểm cho xã hội của
hành vi phạm tội. Bao gồm:
* Các tình tiết liên quan đến mức độ hậu quả:
- Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm.
- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục
hậu quả
- Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn.
* Các tình tiết phản ánh đặc điểm nhân thân ảnh hưởng đến mức độ
ảnh hưởng đến hành vi và người phạm tội:
- Tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng
* Các tình tiết ảnh hưởng đến mức độ lỗi.
Bao gồm:
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng.
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết.
- Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái
pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra.
- Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự
gây ra.
- Phạm tội vì bị người khác đe dọa, cưỡng bức.
- Phạm tội do lạc hậu.
- Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức
hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình.

được áp dụng loại và mức hình phạt ít nghiêm khắc hơn, làm giảm hình phạt
trong một khung hình phạt, có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất
của khung hình phạt, chuyển sang hình phạt khác nhẹ hơn, miễn hình phạt,
miễn trách nhiệm hình sự, cho hưởng án treo.

14


- Các tình tiết giảm nhẹ TNHS là phương tiện thực hiện nội dung nhân đạo
của chính sách hình sự của Nhà nước về tội phạm và trách nhiệm hình sự. Không
phủ nhận rằng vai trò của hình phạt là nhằm trừng trị người phạm tội, nhưng Nhà
nước ta chủ trương việc áp dụng hình phạt chỉ trong giới hạn cần và đủ để đấu tranh
có hiệu quả đối với tội phạm vì hình phạt còn có mục đích quan trọng khác là nhằm
cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội. Do đó, việc tiết
giảm hình phạt cũng như mức độ khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội
phải bảo đảm yêu cầu dựa trên sự đánh giá đúng tính nguy hiểm cho xã hội của tội
phạm và khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội. Để xác định được tiêu chí này
cần phải dựa vào tổng thể các tình tiết liên quan đến tội phạm và người phạm tội
trong đó có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Các tình tiết giảm nhẹ TNHS làm thay đổi mức độ nguy hiểm chứ không
làm thay đổi tính chất nguy hiểm của tội phạm.
b) Ý nghĩa của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
* Ý nghĩa pháp lý của quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự
- Quy định các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong pháp luật hình sự có ý
nghĩa là một phương tiện phân hóa TNHS trong luật.
- Các tình tiết giảm nhẹ TNHS đã được sử dụng như là phương tiện cá
thể hóa TNHS trong áp dụng pháp luật.
- Các tình tiết giảm nhẹ TNHS là một trong những điều kiện cần thiết
để đạt được mục đích của hình phạt.

Cách mạng tháng Tám thành công chấm dứt sự đô hộ của thực dân
Pháp ở Việt Nam, Nhà nước Việt Nam xây dựng nhà nước dân chủ và ban
hành nhiều văn bản pháp luật hình sự để bảo vệ đất nước còn non trẻ, những
quy định này là nền tảng quan trọng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để giải
quyết vấn đề tội phạm Nhà nước ta đã ban hành nhiều sắc lệnh, các sắc lệnh
này chưa nêu rõ và cụ thể về các tình tiết giảm nhẹ cho người phạm tội.
Trong thời kỳ này việc nhà nước ban hành Pháp lệnh trừng trị tội phản cách
mạng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (năm 1967) là một bước đột phá về
việc quy định cụ thể các tình tiết giảm nhẹ TNHS. Điều 20 Pháp lệnh ghi
nhận “Những trường hợp giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn hình phạt”. Năm

16


1970, Nhà nước ta tiếp tục ban hành Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài
sản xã hội chủ nghĩa. Tại Điều 23 Pháp lệnh ghi nhận “Những trường hợp xử
nhẹ hoặc miễn hình phạt”. Các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về
tình tiết giảm nhẹ TNHS thời kỳ này nhà nước ta ban hành chưa cụ thể, rõ
ràng mà chỉ mang tính chung chung.
Với chiến thắng mùa xuân năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng,
cả nước độc lập thống nhất. Sau khi thống nhất về mặt nhà nước, vấn đề thống nhất
pháp luật trong cả nước, trong đó có pháp luật hình sự đã được giải quyết về cơ bản.
Thời kỳ này phải kể đến việc ban hành Pháp lệnh trừng trị hối lộ ngày 20 tháng 5
năm 1981, tại Điều 8 Pháp lệnh đã ghi nhận: “Những trường hợp miễn TNHS, giảm
nhẹ hoặc miễn hình phạt”. Tuy nhiên các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
về tình tiết giảm nhẹ TNHS từ năm 1975 đến năm 1985 vẫn chưa cụ thể, chi tiết.
Năm 1985, Nhà nước ta ban hành Bộ luật hình sự. Bộ luật hình sự năm
1985 lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam đã có một điều
luật riêng quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng
chung cho tất cả các loại tội phạm. Cụ thể các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm

thuộc phần chung Bộ luật hình sự được áp dụng chung cho tất cả các tội
phạm cụ thể. Cách quy định các tình tiết này được thực hiện theo hướng mở,
không chỉ giới hạn ở những tình tiết được quy định rõ trong luật mà còn ghi
nhận cơ sở pháp lý cho phép HĐXX coi các tình tiết khác là tình tiết giảm
nhẹ TNHS.
Kế thừa cách quy định của BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 quy định các
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 46 với tên gọi là các tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự, sự thay đổi tên gọi này so với BLHS năm 1985 đã phản
ánh chính xác hơn về tính chất và giá trị giảm nhẹ của các tình tiết này. Ngoài sự
thay đổi tên gọi, quy định về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của BLHS năm
1999 có một số khác biệt so với quy định của BLHS năm 1985. Cụ thể là: tách các
tình tiết được quy định gộp ở các điểm a, b, d, e, h để quy định ở các điểm độc lập;
bổ sung tình tiết khắc phục hậu quả, người phạm tội đã lập công chuộc tội, người
phạm tội có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác; bỏ
đoạn 2 điểm đ (phạm tội vì bị người khác chi phối về mặt vật chất, công tác hay các
mặt khác), đoạn 2 điểm g (phạm tội do trình độ nghiệp vụ non kém); bỏ khoản 3 về

18


quyết định hình phạt; bổ sung khoản 3 về nguyên tắc không áp dụng là tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với tình tiết đã là dấu hiệu định tội hoặc định
khung hình phạt. Quy định này đã khắc phục được tình trạng nhận thức sai và áp
dụng hình phạt nhẹ hơn mức cần thiết đối với bị cáo. So với BLHS năm 1985 thì
BLHS năm 1999 quy định về nguyên tắc này rõ ràng hơn.
BLHS năm 2015 đã bổ sung 4 tình tiết giảm nhẹ TNHS mới so với BLHS
năm 1999 đó là: Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ
người phạm tội; Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà
không phải do lỗi của mình gây ra; Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc
khuyết tật đặc biệt nặng; Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sỹ,

phạm tội tự nguyện (không do ép buộc, cưỡng chế) mà người phạm tội sửa chữa,
bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả.
Sửa chữa là sửa lại, chữa lại những gì bị làm hư hỏng do hành vi phạm
tội gây ra. Ví dụ, sửa lại chiếc xe bị hỏng, lợp lại mái ngói bị vỡ...
Bồi thường là bồi thường bằng tài sản cho những thiệt hại do hành vi
phạm tội gây ra. Ví dụ: A lấy trộm một chiếc xe máy đem bán lấy tiền t iêu
xài, sau khi vụ việc bị phát hiện, chiếc xe không thu hồi lại được nên A đã trả
lại cho chủ sở hữu một khoản tiền bằng giá trị chiếc xe đã lấy trộm.
Khắc phục hậu quả là khắc phục tác hại do hành vi phạm tội gây ra mà
không thể sửa chữa hoặc bồi thường bằng tài sản được. Ví dụ, A giết chết B,
A lo tiền mai táng, đưa cho người thân của B một khoản tiền trợ cấp khó
khăn....thì đây được coi là người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả mà
không phải là bồi thường thiệt hại.
c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (điểm
c khoản 1 Điều 46 BLHS)
Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là trường
hợp vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của
mình hoặc của người khác mà có hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không
phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm phạm.
Các điều kiện xác định người này phạm tội trong trường hợp vượt quá giới
hạn phòng vệ chính đáng:
- Lỗi đầu tiên xuất phát từ người bị hại, người bị hại có hành vi trái pháp luật
đe dọa xảy ra ngay tức khắc xâm phạm đến lợi ích trên.

20


- Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng vì bảo vệ các lợi
ích tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài sản….của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ
quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà buộc phải chống trả lại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status