VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ HẢI HÀ
CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60.38.01.04
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội.
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS Võ Khánh Vinh
Phản biện 1: ..........................................
Phản biện 2: ..........................................
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp
tại: Học viện Khoa học Xã hội vào lúc:
...... giờ, ngày ..... tháng ..... năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Học viện khoa học xã hội
Mỗi công trình nghiên cứu, mỗi bài viết của các nhà luật học đã đề
cập ở các phương diện và mức độ khác nhau về các tình tiết giảm nhẹ
TNHS. Tuy nhiên, Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này được áp
dụng như thế nào trong thực tiễn xét xử trên địa bàn huyện Bắc Quang,
tỉnh Hà Giang- một huyện miền núi phía đông bắc của Tổ quốc với nhiều
dân tộc thiểu số sinh sống, điều kiện kinh tế, điều kiện tự nhiên có nhiều
nét khác với các địa phương khác trong cả nước. Vấn đề các tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự đòi hỏi cần phải được nghiên cứu một cách toàn
diện hơn nhằm bảo đảm áp dụng đúng đắn các tình tiết này trong thực tiễn
xét xử của Tòa án nói chung, Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà
Giang nói riêng. Do vậy, tác giả của luận văn chọn đề tài “Các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn
huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang” để phân tích, lý giải thêm về lý luận và
thực tiễn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
1
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Tác giả mong muốn đóng góp một phần suy nghĩ của mình vào việc nhận
thức đúng đắn những vấn đề lí luận và đánh giá thực tiễn áp dụng các tình tiết giảm
nhẹ TNHS trên địa bàn huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang nhằm tìm ra giải pháp bảo
đảm áp dụng đúng các tình tiết này để nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án nói
chung, Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang nói riêng.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sự về
các tình tiết giảm nhẹ TNHS.
- Đánh giá thực tiễn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS của Tòa án nhân
dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang nhằm phát hiện những vướng mắc, thiếu sót
trong việc áp dụng các tình tiết này trong hoạt động giải quyết vụ án hình sự.
2
- Chương 2: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà
Giang.
- Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong thực tiễn xét xử.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÁC TÌNH TIẾT GIẢM
NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Những vấn đề lý luận về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
a. Khái niệm
Trước hết, chúng ta tìm hiểu khái niệm trách nhiệm hình sự. Có thể
hiểu TNHS là hậu quả pháp lý bất lợi mà người phạm tội phải chịu do việc
thực hiện tội phạm. TNHS chỉ là một dạng của trách nhiệm pháp lý và là
loại trách nhiệm nghiêm khắc nhất trong các loại trách nhiệm pháp lý mà
cá nhân của người phạm tội phải chịu trước Nhà nước thông qua quá trình
tiến hành tố tụng theo trình tự đặc biệt được quy định trong Luật Tố tụng
hình sự và được thể hiện bằng bản án hoặc quyết định của Tòa án.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hiện nay được hiểu chung
nhất là những tình tiết làm giảm bớt mức độ trách nhiệm hình sự. Về khái
niệm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có nhiều quan điểm của
các tác giả khác nhau. Dựa vào các quy định của pháp luật hình sự v à qua
việc nghiên cứu các quan điểm của các tác giả có thể đưa ra khái niệm: Các
tình tiết giảm nhẹ TNHS là những tình tiết của vụ án hình sự, nó không
làm thay đổi tính chất của tội phạm nhưng nó hàm chứa những nội dung
làm giảm tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phản ánh
nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội, phản ánh
01/2000/NQ-HĐTP. Ngoài các tình tiết giảm nhẹ nói trên thì trong quá trình xét xử
từng vụ án cụ thể, Tòa án còn có thể tự mình xem xét, cân nhắc coi những tình tiết
khác là tình tiết giảm nhẹ TNHS và ghi rõ lý do trong bản án.
Năm là: ảnh hưởng của từng tình tiết giảm nhẹ TNHS đến mức độ nguy
hiểm của hành vi phạm tội không giống nhau. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS khá
phong phú về mặt số lượng và ảnh hưởng của chúng đối với tính chất, mức độ nguy
hiểm của hành vi phạm tội là khác nhau. Do đó, mức độ ảnh hưởng của chúng đến
việc quyết định hình phạt là không giống nhau.
1.1.2. Phân loại các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
a. Các tình tiết ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm
tội.
* Các tình tiết liên quan đến mức độ hậu quả:
- Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm.
- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu
quả
- Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn.
* Các tình tiết phản ánh đặc điểm nhân thân ảnh hưởng đến mức độ
ảnh hưởng đến hành vi và người phạm tội:
- Tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng
* Các tình tiết ảnh hưởng đến mức độ lỗi.
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính
đáng.
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp
thiết.
- Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi
trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra.
- Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra.
- Phạm tội vì bị người khác đe dọa, cưỡng bức.
- Phạm tội do lạc hậu.
- Người phạm tội là người có bệ nh bị hạn chế khả năng nhận thức
áp dụng hình phạt chỉ trong giới hạn cần và đủ để đấu tranh có hiệu quả đối với tội
phạm vì hình phạt còn có mục đích quan trọng khác là nhằm cải tạo, giáo dục
người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội.
- Các tình tiết giảm nhẹ TNHS làm thay đổi mức độ nguy hiểm chứ không
làm thay đổi tính chất nguy hiểm của tội phạm.
b) Ý nghĩa của các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
* Ý nghĩa pháp lý của quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự
- Quy định các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong pháp luật hình sự có ý
nghĩa là một phương tiện phân hóa TNHS trong luật.
- Các tình tiết giảm nhẹ TNHS đã được sử dụng như là phương tiện
cá thể hóa TNHS trong áp dụng pháp luật.
- Các tình tiết giảm nhẹ TNHS là một trong những điều kiện cần
thiết để đạt được mục đích của hình phạt.
- Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được sử dụng như là điều kiện để
không áp dụng các biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc cao.
* Ý nghĩa xã hội của quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bảo đảm cho việc thực hiện nguyên tắc công bằng xã hội trong lĩnh
vực hình sự.
5
- Quy định về các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong pháp luật hình sự
Việt Nam với hệ thống thang bậc tiết giảm TNHS có ý nghĩa quan trọng
trong việc thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước về tội phạm và
TNHS. Việc quy định này là một cách thức đưa nội dung của chính sách
hình sự trở thành hiện thực. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS là phương tiện
cần thiết để thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta.
1.2 Quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam về các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự
nhẹ trách nhiệm hình sự, sự thay đổi tên gọi này so với BLHS năm 1985 đã phản
ánh chính xác hơn về tính chất và giá trị giảm nhẹ của các tình tiết này. Ngoài sự
thay đổi tên gọi, quy định về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của BLHS năm
1999 có một số khác biệt so với quy định của BLHS năm 1985. Cụ thể là: tách các
tình tiết được quy định gộp ở các điểm a, b, d, e, h để quy định ở các điểm độc lập;
bổ sung tình tiết khắc phục hậu quả, người phạm tội đã lập công chuộc tội, người
6
phạm tội có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác; bỏ
đoạn 2 điểm đ (phạm tội vì bị người khác chi phối về mặt vật chất, công tác hay các
mặt khác), đoạn 2 điểm g (phạm tội do trình độ nghiệp vụ non kém); bỏ khoản 3 về
quyết định hình phạt; bổ sung khoản 3 về nguyên tắc không áp dụng là tình tiết
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với tình tiết đã là dấu hiệu định tội hoặc định
khung hình phạt. Quy định này đã khắc phục được tình trạng nhận thức sai và áp
dụng hình phạt nhẹ hơn mức cần thiết đối với bị cáo. So với BLHS năm 1985 thì
BLHS năm 1999 quy định về nguyên tắc này rõ ràng hơn.
BLHS năm 2015 đã bổ sung 4 tình tiết giảm nhẹ TNHS mới so với BLHS
năm 1999 đó là: Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ
người phạm tội; Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà
không phải do lỗi của mình gây ra; Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc
khuyết tật đặc biệt nặng; Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sỹ,
người có công với cách mạng. Riêng tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội là người
già” trong BLHS năm 1999 được đổi thành “người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở
lên” trong BLHS năm 2015.
1.2.2 Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định
trong Bộ luật hình sự năm 1999
1.2.2.1 Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản
1 Điều 46 Bộ luật hình sự
a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm (điểm
hạn phòng vệ chính đáng:
- Lỗi đầu tiên xuất phát từ người bị hại, người bị hại có hành vi trái pháp
luật đe dọa xảy ra ngay tức khắc xâm phạm đến lợi ích trên.
- Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng vì bảo vệ các lợi
ích tính mạng, sức khỏe, danh dự, tài sản….của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ
quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà buộc phải chống trả lại
sự xâm hại.
- Người phạm tội bị hạn chế khả năng lựa chọn hành vi của mình. Yếu tố
tâm lý của người này có khi không thể có điều kiện bình tĩnh được lựa chọn chính
xác phương pháp, phương tiện….chống trả thích hợp, cường độ của sự tấn công,
nhất là trường hợp bị tấn công bất ngờ.
d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết (điểm
d khoản 1 Điều 46 của BLHS)
Là trường hợp vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của
Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác
mà không còn cách nào khác là phải gây ra một thiệt hại nhưng thiệt hại gây ra rõ
ràng vượt quá yêu cầu ngăn ngừa thiệt hại.
Để được coi là gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết và không phải chịu
TNHS khi có đủ những điều kiện sau:
- Phải có sự nguy hiểm đang đe dọa gây thiệt hại ngay tức khắc;
- Sự nguy hiểm đang đe dọa phải là sự nguy hiểm thực tế;
- Việc gây thiệt hại để tránh một thiệt hại khác là sự lựa chọn duy nhất;
- Thiệt hại gây ra phải nhỏ hơn thiệt hại muốn tránh.
đ. Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp
luật của người bị hại hoặc người khác gây ra (điểm đ khoản 1 Điều 46 BLHS)
Trạng thái tinh thần bị kích động là tình trạng tâm lý của con người
bị giảm sút về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, đặc b iệt
là tính tự chủ và kiềm chế do sự tác động của ngoại cảnh. Để được áp dụng
tình tiết này thì đòi hỏi phải có hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc
người khác gây ra và hành vi trái pháp luật đó xâm phạm đến quyền, lợi
Người phạm tội thực hiện tội phạm vì bị người khác uy hiếp về mặt tinh
thần, bằng cách đe dọa dùng vũ lực hoặc thực hiện hành vi trái pháp luật đối với
người phạm tội hoặc đối với gia đình của họ. Sự uy hiếp đó có khả năng trở thành
hiện thực. Đây là trường hợp phạm tội vì bị người khác đe dọa.
Người phạm tội thực hiện tội phạm vì bị người khác sử dụng bạo lực về thể
chất hoặc tinh thần dưới bất kỳ hình thức nào, nếu hành vi cưỡng bức đó không
phải là đe dọa. Đây là trường hợp phạm tội vì bị người khác cưỡng bức.
k. Phạm tội do lạc hậu (điểm k khoản 1 Điều 46 BLHS)
Đây là trường hợp phạm tội do trình độ nhận thức lạc hậu, thấp kém đã hạn
chế nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi. Nguyên nhân dẫn đến trình
độ lạc hậu của người phạm tội phải là khách quan như do không được học tập,
không có những điều kiện thực tế để họ nhận biết được giữa cái tiến bộ và cái lạc
hậu.
l. Người phạm tội là phụ nữ có thai (điểm l khoản 1 Điều 46 BLHS)
Đây là trường hợp chủ thể của tội phạm là người phụ nữ đang có thai khi
thực hiện tội phạm. Trường hợp khi phạm tội người phụ nữ không có thai mà khi
xét xử có thai thì không được áp dụng tình tiết này mà tùy trường hợp cụ thể có thể
áp dụng quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự đối với phụ nữ có thai khi xét xử.
m. Người phạm tội là người già (điểm m khoản 1 Điều 46 BLHS)
Bộ luật hình sự quy định tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ TNHS xuất phát
từ tinh thần nhân đạo xã hội chủ nghĩa, thể hiện chính sách hình sự đối với người
cao tuổi và có tính đến đặc điểm tâm- sinh lý của lứa tuổi này. Khi con người đến
một độ tuổi nhất định thì các hoạt động của cơ thể đều bị giảm sút, thiếu năng
động. Mặt khác, bắt một người già chịu một hình phạt nghiêm khắc là không cần
thiết. BLHS 2015 đã quy định cụ thể “Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên”
là tình tiết giảm nhẹ TNHS.
9
n. Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc
cung cấp thông tin về tội phạm khác, người phạm tội khác không liên quan
đến mình.
r. Người phạm tội đã lập công chuộc tội (điểm r khoản 1 Điều 46 BLHS)
Đây là trường hợp sau khi thực hiện tội phạm, cho đến trước khi bị xét xử,
người phạm tội có những hành động giúp đỡ các cơ quan có thẩm quyền phát hiện
hoặc ngăn chặn các tội phạm khác, tham gia phát hiện tội phạm, bắt người phạm
tội, có hành động vì lợi ích của nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của
người khác… được cơ quan nhà nước có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng
nhận.
s. Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu,
học tập hoặc công tác (điểm s khoản 1 Điều 46 BLHS)
Người phạm tội có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu học
tập hoặc công tác là trước khi phạm tội họ đã có những thành tích xuất sắc
10
được tặng thưởng huân chương, huy chương, bằng khen, bằng lao động
sáng tạo hoặc có sáng chế, phát minh có giá trị hoặc nhiều năm được công
nhận là chiến sỹ thi đua, dũng sĩ quyết thắng, các danh hiệu Anh hùng lực
lượng vũ trang, Anh hùng lao động, Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú,
Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú và các danh hiệu cao quý khác....
1.2.2.2 Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản
2 Điều 46 Bộ luật hình sự
Theo quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự thì khi quyết định
hình phạt, Tòa án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ nhưng
phải ghi rõ trong bản án. Tại mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày
04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân d ân Tối cao hướng dẫn áp
dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999 thì
các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 46 đó là:
- Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có
trung bình của các năm từ năm 2012 đến năm 2016, mỗi năm Tòa án nhân dân
huyện Bắc Quang xét xử 54 vụ án hình sự với 112 bị cáo. Trong đó năm 2012 có số
lượng vụ án đã xét xử và số bị cáo ít nhất trong các năm và năm 2013 có số lượng
vụ án đã xét xử và số bị cáo tăng vượt trội so với các năm khác. Hà Giang là một
tỉnh miền núi biên giới phía Bắc của Tổ quốc gồm 11 huyện, thành phố với điều
kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn so với cả nước. Trong đó huyện Bắc
Quang là huyện có số lượng án nói chung, án hình sự nói riêng nhiều hơn các
huyện khác trong tỉnh.
Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng nhìn chung, công tác xét xử án hình sự
đạt kết quả tốt. Việc áp dụng pháp luật, thực hiện các trình tự tố tụng theo đúng quy
định của pháp luật. TAND huyện Bắc Quang đã có nhiều cố gắng nên việc giải
quyết các vụ án hình sự đạt tỷ lệ 100%, trong đó xét xử đạt tỉ lệ 98%; đình chỉ, tạm
đình chỉ, trả hồ sơ điều tra bổ sung chiếm tỉ lệ nhỏ 2%. Chất lượng xét xử ngày
càng tiến bộ, việc xét xử các vụ án hình sự đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật, không xét xử oan người vô tội.
Bên cạnh những mặt làm được, thông qua việc nghiên cứu, xem xét một số
vụ án bị hủy, sửa cho thấy thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang
vẫn tồn tại khuyết điểm. Những sai sót thường mắc phải là: áp dụng tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ TNHS chưa phù hợp dẫn đến xử bị cáo quá nhẹ hoặc quá nặng, cho
hưởng án treo không đúng quy định của pháp luật; chưa cân nhắc đúng tính chất và
hậu quả của hành vi bị cáo đã gây ra cho xã hội; việc xử lý vật chứng, tịch thu tài
sản hoặc tiền đã tham gia vào việc phạm tội hoặc do phạm tội mà có chưa đúng quy
định của pháp luật……..Những hạn chế trong hoạt động giải quyết án hình sự
thuộc bốn nhóm vi phạm sau: quyết định hình phạt quá nhẹ, áp dụng 60 của BLHS
năm 1999 để cho hưởng án treo không đúng. Ngược lại, có trường hợp quyết định
hình phạt quá nặng; áp dụng không đúng điều khoản của BLHS, trong đó có trường
hợp áp dụng không đúng quy định về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS; đánh giá
chứng cứ, xác định tiền án, tiền sự, xử lý vật chứng, phân hoá vai trò trong đồng
phạm, cá thể hoá hình phạt không chính xác; coi nhẹ giải quyết phần dân sự trong
nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt không lớn” quy định tại điểm g chỉ có 2 bị
cáo trong số 258 bị cáo được áp dụng, chiếm tỷ lệ 0,7%, tình tiết “người phạm tội
tự thú” quy định tại điểm o cũng chiếm 0,7 %, các tình tiết quy định tại các điểm đ,
n, q, s mỗi tình tiết chỉ có 01 trong số 258 bị cáo được áp dụng chiếm tỷ lệ 0,3%.
Nhìn chung, công tác xét xử tại TAND huyện Bắc Quang đã có những tiến bộ rõ
rệt, chất lượng xét xử ngày càng được nâng cao. Các HĐXX đã nâng cao tinh thần
trách nhiệm, thận trọng khi áp dụng pháp luật hình sự, cân nhắc khi áp dụng các
tình tiết giảm nhẹ TNHS. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy giữa các HĐXX vận
dụng chưa thống nhất một số tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều
46 BLHS năm 1999.
2.2.2 Thực trạng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
theo khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự hiện hành
Qua khảo sát 150 bản án với 258 bị cáo được xét xử trên địa bàn huyện
Bắc Quang, tỉnh Hà Giang thì số vụ án và số bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ
quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS có tỉ lệ tương đối cao, gần 50% số vụ án và bị
cáo đã xét xử. Các tình tiết giảm nhẹ thường xuyên được HĐXX Tòa án nhân dân
huyện Bắc Quang áp dụng đối với các bị cáo như:
- “Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với
nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh
dự......hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước”;
- “ Người bị hại cũng có lỗi” ;
- “Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo”;
- “Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình
phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khỏe của người bị hại, gây
thiệt hại về tài sản”.
Ngoài ra, căn cứ vào quy định cuối tại điểm c “khi xét xử, tùy từng trường
hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết
khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án” nên HĐXX Tòa án nhân
dân huyện Bắc Quang cũng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản
2 Điều 46 BLHS trong một số trường hợp tùy theo đánh giá của HĐXX. Nhìn
dụng như sau:
+ Xác định tình tiết giảm nhẹ qua việc mở rộng các yếu tố về chủ
thể, phạm vi, điều kiện áp dụng của các tình tiết giảm nhẹ được liệt kê tại
điểm c Mục 5 kết hợp với nội dung mở ở cuối điểm c Mục 5 Nghị quyết số
01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân
dân Tối cao.
- Đối với tình tiết thứ nhất quy định tại điểm c Mục 5 Nghị quyết
số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân Tối cao có nội dung: Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị
cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước
tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực
lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỳ nhân dân, nghệ sĩ ưu
tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú
hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước. Khi xét xử,
có HĐXX đã mở rộng “chủ thể” được tặng danh hiệu cao quý có quan hệ
với người phạm tội là “ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cháu ruột kêu
người phạm tội là ông, bà nội, ngoại”. Nhiều HĐXX đã chấp nhận các hình
14
thức khen thưởng trong đấu tranh giải phóng dân tộc, chống Mỹ cứu nước là
tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
- Đối với tình tiết thứ sáu quy định tại điểm c Mục 5 Nghị quyết
số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân Tối cao có nội dung: “Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt
hại thay cho bị cáo”. Thực tế, có HĐXX đã mở rộng phạm vi chủ thể sửa
chữa, bồi thường thay cho bị cáo vì cho rằng dù gia đình hay là ai bồi
thường thay cho bị cáo mà không có sự tác động của bị cáo thì bản chất sự
việc như nhau; việc mở rộng chủ thể bồi thường trong trường hợp này
không nên giới hạn để nhanh chóng khắc phục, hạn chế hậu quá mà hành vi
“Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo
khoản 1 Điều 202 BLHS. HĐXX đã cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ
TNHS tại khoản 2 Điều 46 BLHS và nêu rõ lý do “sau khi phạm tội bị cáo
đã đến Cơ quan Công an huyện Bắc Quang đầu thú; Bố đẻ của bị cáo là
15
người có công với cách mạng, được Hội đồng Nhà nước tặng Huân chương
kháng chiến hạng nhì và hiện là hội viên của hội nạn nhân chất độc da cam
Dioxin tỉnh Tuyên Quang. Trong giai đoạn điều tra người đại diện hợp
pháp của người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình ph ạt cho bị cáo”. Trong vụ
án này, HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 46 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho
bị cáo là đúng pháp luật.
Ví dụ thứ hai: tại bản án số 45/2013/HSST ngày 13/09/2013,
TAND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã xét xử đối với bị cáo Trịnh
Minh Tiến về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 139 BLHS. Bị
cáo Trịnh Minh Tiến là thương binh nên HĐXX cho bị cáo được hưởng
tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 46 BLHS là hoàn toàn phù hợp với quy
định tại điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ -HĐTP của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Ví dụ thứ ba: tại bản án số 31/2016/HSST ngày 30/06/2016 của
TAND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã xét xử đối với bị cáo Bàn Văn
Lâm về tội “Giao cấu với trẻ em” theo điểm a khoản 2 Điều 115 BLHS. Vụ
án có tình tiết như sau: bị cáo Bàn Văn Lâm và người bị hại Lý Thị Linh
(chưa đủ 15 tuổi) quen biết và có quan hệ tình cảm với nhau, cùng xác định
hướng tới hôn nhân. Trong thời gian tìm hiểu yêu đương bị cáo Lâm đã dẫn
cháu Linh về ra mắt bố mẹ cũng như giúp đỡ việc gặ t hái của gia đình. Tuy
nhiên, do không làm chủ được bản thân nên bị cáo Lâm đã thực hiện hành
vi giao cấu với cháu Linh nhiều lần. Do bị cáo Bàn Văn Lâm là người dân
tộc Dao, nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một
140 BLHS và áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Đi ều 46 BLHS đối với
bị cáo nhưng không nêu rõ lý do trong bản án là không đúng với quy định
“Khi quyết định hình phạt, Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình
tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án”.
Ví dụ thứ bảy: tại bản án hình sự số 08/2 014/HSST ngày
26/02/2014 của TAND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang đã xét xử đối với
bị cáo Hoàng Thị Lan về tội “Chứa mại dâm” theo Điều 254 BLHS và cho
bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 46 BLHS với lý do
“bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi”. Theo nhiều quy định có thể
thấy những người phạm tội là nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì được
hưởng chính sách hình sự đặc biệt hơn người phạm tội khác. Chính vì vậy,
tác giả luận văn đồng tình với việc bị cáo là nữ nuôi con nhỏ dưới 36 tháng
tuổi được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 46 BLHS.
2.2.3 Đánh giá thực trạng áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự của Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
2.2.3.1 Mặt tích cực
Qua phân tích thực tiễn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS cụ thể tại
TAND huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang có thể thấy rằng HĐXX vận dụng các tình
tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại Điều 46 BLHS năm 1999 tương đối chính xác,
đúng quy định của pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành, thực hiện đúng
chính sách hình sự của Nhà nước, nâng cao chất lượng xét xử. Việc cho phép Tòa
án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ TNHS trong từng vụ án đối với
từng bị cáo cụ thể nhằm mở rộng tính linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động xét xử
của Tòa án, bảo đảm cho hoạt động xét xử được công bằng, chính xác, khách quan.
Nó giúp Tòa án tính toán được sự tương xứng giữa mức độ nguy hiểm của hành vi
phạm tội với chế tài hình sự.
2.2.3.2 Hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân
Trong thực tiễn áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS còn có nhiều
trường hợp HĐXX áp dụng một cách tùy tiện không có căn cứ, không đảm
bảo điều kiện luật định. Việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS theo khoản
định hình phạt nhằm nâng cao nhận thức pháp luật và áp dụng đúng khi
quyết định mức hình phạt.
Chương 3
CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG
CÁC TÌNH TIẾT GIẢM NHẸ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
3.1 Các yêu cầu áp dụng đúng pháp luật hình sự về các tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự
3.1.1 Mục đích áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Khi xét xử các vụ án hình sự, một trong những phần việc quan
trọng và thường xuyên nhất đối với các thành viên HĐXX là cân nhắc mức
hình phạt cho các bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS giữ vai trò là một
trong những căn cứ chủ yếu khi quyết định hình phạt, bảo đảm cho hoạt
động xét xử của Tòa án được chính xác, khách quan, công bằng, hợp lý.
Việc quy định các tình tiết giảm nhẹ TNHS trong pháp luật hình sự thể
hiện chính sách hình sự nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta, chúng cũng
góp phần thực hiện mục đích của hình phạt “không chỉ nhằm trừng trị
người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội”.
Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS khi quyết định hình phạt có vai
trò tác động tích cực tới người phạm tội trong việc giáo dục người phạm
tội, hạn chế hậu quả, tác hại của tội phạm, đấu tranh phòng ngừa tội p hạm,
tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm.
3.1.2 Yêu cầu áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Để áp dụng đúng các tình tiết giảm nhẹ TNHS phải đạt được các yêu
18
cầu cơ bản sau đây:
Thứ nhất, các chủ thể áp dụng pháp luật phải có nhận thức đúng về
các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại Điều 46 BLHS năm 1999.
Thứ hai, yêu cầu bảo vệ quyền con người được ghi nhận trong
bổ sung vào điều luật. Có như vậy thì quy định về các tình tiết giảm nhẹ TNHS
trong Luật hình sự mới ngày càng hoàn thiện, bảo đảm cho việc thực hiện và áp
dụng pháp luật đạt được kết quả cao trong thực tiễn.
Trước hết, việc cụ thể hóa thêm và đưa thêm một số tình tiết giảm
nhẹ TNHS vào khoản 1 Điều 46 BLHS là rất cần thiết, vì trong thực tiễn và
qua các văn bản hướng dẫn thì nhận thấy mức độ giảm nhẹ ở khoản 1 Điều
46 BLHS sự so với mức độ giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự là
có sự chênh lệch và khác nhau rất đáng kể khi quyết định hình phạt. Do vậy,
tác giả xin đưa ra phương án kiến nghị là đưa thêm một số tình tiết giảm
nhẹ theo tác giả là có giá trị pháp lý rất đáng kể vào khoản 1 Điều 46 Bộ
19
luật hình sự. Đó là các tình tiết: Bị cáo là thương binh, Bị cáo là người có
công với Đất nước, người được tặng huân chương kháng chiến , Bị cáo đang
mắc bệnh hiểm nghèo, bị cáo phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu
công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu, chữa cháy, bị cáo mắc
bệnh tâm thần trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, mới tạm điều trị ổn định ,
người bị hại cũng có lỗi.
Thêm nữa, cần phải mở rộng phạm vi áp dụng của tình tiết gi ảm
nhẹ “người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục
hậu quả”. Cần phân biệt việc bị cáo tự thực hiện việc bồi thường và việc gia
đình bị cáo tự nguyện bồi thường là tình tiết giảm nhẹ TNHS được áp dụng
tùy theo điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS trong một số trường hợp chưa đảm
bảo tính công bằng, chưa khuyến khích việc sửa chữa, bồi thường, khắc
phục hậu quả của tội phạm một cách kịp thời, nhanh chóng hoặc trong
trường hợp pháp nhân có trách nhiệm bồi thường và đã bồi thường thì người
phạm tội có được hưởng tình tiết giảm nhẹ không? Trong thực tế các vụ án
tai nạn giao thông, nhiều vụ người phạm tội vẫn được Tòa án áp dụng tình
tiết giảm nhẹ này khi quyết định hình phạt. Do đó nên quy định mở rộng
v.v...
- Về tình tiết giảm nhẹ TNHS “người phạm tội là người có thành
tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đ ấu, học tập hoặc công tác” cần hướng
dẫn bổ sung là bằng khen ở cấp nào, cơ quan nào, chiến sỹ thi đua ở cấp
nào, huy chương gì, thì được áp dụng tình tiết này.
Đối với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khoản 2 Điều
46 Bộ luật hình sự, để tránh việc áp dụng tùy tiện, thiếu thống nhất thì cần
có quy định hướng dẫn một cách chi tiết hơn. Cụ thể như sau:
- Đối với những tình tiết giảm nhẹ đã được liệt kê tại tại điểm c
Mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 ngày 04/8/2000
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, khi mở rộng chủ thể áp
dụng, phạm vi áp dụng hay điều kiện áp dụng phải không vượt quá nội dung
đã được quy định và phải đảm bảo giá trị giảm nhẹ của tình tiết được áp
dụng.
- Đối với những tình tiết được áp dụng là tình tiết giảm nhẹ tại
khoản 2 Điều 46 BLHS mà chưa được liệt kê tại các tình tiết của điểm c
Mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì áp dụng phần cuối của điểm c Mục
5 Nghị quyết vì đây là quy định mở. Tuy nhiên, liên ngành các cơ quan tư
pháp Trung ương cần ban hành văn bản hướng dẫn xác định các tiêu chí để
coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS theo khoản 2 Điều 46 BLHS như: Tình tiết
đó phải có ý nghĩa làm giảm nhẹ mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội hoặc góp phần làm giảm bớt tác hại của tội phạm, góp phần bồi
thường, khắc phục hậu quả của tội phạm; Tình tiết đó phản ánh đặc điểm về
hoàn cảnh phạm tội, về nhân thân, hoàn cảnh gia đình bị cáo và những yếu
tố này đã tác động, chi phối đến việc thực hiện hành vi phạm tội của người
phạm tội hoặc thể hiện có khả năng thực tế để giáo dục, cải tạo bị cáo.
3.2.2 Tăng cường tổng kết thực tiễn, thanh tra, kiểm tra việc áp dụng
các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn xét xử. Thường
nhẹ TNHS và cấu thành cụ thể của từng tình tiết giảm nhẹ. Tòa án Tối cao cần kịp
thời ban hành Nghị quyết hướng dẫn mới của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao
hoặc sửa đổi đối với những điểm hướng dẫn trước đây về các tình tiết giảm nhẹ
TNHS mà đến nay không còn phù hợp, bổ sung hướng dẫn những điểm chưa được
hướng dẫn hoặc hướng dẫn chưa cụ thể. Gắn với việc xây dựng là hướng dẫn áp
dụng thống nhất pháp luật với công tác thi hành pháp luật.
3.2.5 Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng
Trong tố tụng hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng tuy có chức năng,
nhiệm vụ khác nhau nhưng đều có mục đích chung là phát hiện, xử lý nghiêm
minh, kịp thời các hành vi phạm tội. Trong những năm vừa qua công tác tư pháp có
nhiều thay đổi theo hướng tích cực. Tuy nhiên, còn bộc lộ nhiều hạn chế, đặc biệt
trong hoạt động tư pháp hình sự, nơi mà mọi hoạt động chính đều liên quan lớn đến
quyền, lợi ích của công dân thì việc quy định rõ quyền hạn và trên cơ sở đó, xác
định cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan tiến hành tố tụng có ý nghĩa rất quan
trọng, không chỉ trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng, mà còn có ý nghĩa
trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Do đó, sự phối hợp giữa
các cơ quan tiến hành tố tụng là tất yếu, khách quan. Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát, Toà án cần có sự phối hợp chặt chẽ trong quá trình tiến hành tố tụng.
3.2.6 Tăng cường tinh thần thực hiện chức năng, quyền hạn,
nhiệm vụ về kháng nghị theo thủ tục phúc t hẩm, giám đốc thẩm của
VKSND, TAND các cấp (Chánh án, Thẩm tra viên, chuyên viên pháp
luật)
Tăng cường công tác giám đốc kiểm tra của Tòa án cấp trên đối
với Tòa án cấp dưới nhằm phát hiện kịp thời và khắc phục nhữn g sai sót,
hạn chế về nghiệp vụ. Điều này nói lên trách nhiệm của chuyên viên pháp
luật, Thẩm tra viên phải có “tâm”, “có tầm” nghiên cứu đề xuất đúng quy
định của pháp luật cho Chánh án ký ban hành quyết định kháng nghị; đồng
thời những người này cũng nghiên cứu, đề xuất xem xét kháng nghị của
Viện trưởng Viện kiểm sát có cơ sở chấp nhận hay không khi Hội đồng
giám đốc thẩm, tái thẩm mở phiên họp. Tăng cường trách nhiệm của kiểm
đúng mức độ nguy hiểm hành vi của người phạm tội cũng như khả năng cải
tạo của người phạm tội, từ đó đưa ra những biện pháp xử lý đún g, đảm bảo
nguyên tắc bình đẳng, công bằng, đảm bảo được quyền con người.
Quá trình hình thành và phát triển các tình tiết giảm nhẹ TNHS là
sự kế thừa có chọn lọc và phát triển phù hợp điều kiện kinh tế, lịch sử của
từng thời đại, những việc kế thừa này là truyền thống nhân đạo, khoan
hồng. Cho đến nay, BLHS năm 1999 quy định các tình tiết giảm nhẹ TNHS
tại Điều 46 với 2 khoản, khoản 1 quy định cụ thể các tình tiết giảm nhẹ
TNHS được áp dụng đối với mọi tội phạm và khoản 2 quy định theo hướng
cho phép HĐXX cân nhắc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS khác. Quy
định về các tình tiết giảm nhẹ TNHS cũng được hướng dẫn trong các văn
bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao và được vận dụng khá linh hoạt trong thực ti ễn xét xử.
Trên cơ sở khảo sát 150 bản án hình sự được thu thập ngẫu nhiên
trên địa bàn huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang, nhận thấy về cơ bản quy định
tại Điều 46 BLHS hiện hành đã tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc quyết
23