ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
KHOA LUậT
*************
NGUYễN THị KIM NHUNG
PHòNG, CHốNG THAM NHũNG Từ ph-ơng DIệN
GIáO DụC PHáP LUậT ĐốI VớI CáN Bộ, CÔNG CHứC
Bộ MáY HàNH CHíNH NHà NƯớC
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s NN & PL
Mó s: 60.38.01
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: PGS. TS. V Hng Anh
H NI, 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính
chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và
đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật
Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có
thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài.
Trong những năm qua, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng
và lãnh đạo đã thu được những thành tựu quan trọng, song đất nước ta
cũng còn gặp nhiều khó khăn, trong đó có sự hoành hành của tệ tham
nhũng. Tham nhũng đã trở thành "quốc nạn". Tham nhũng cản trở quá
trình phát triển kinh tế. Tham nhũng làm đảo lộn các giá t rị đạo đức.
Tham nhũng làm vẩn đục các quan hệ xã hội. Do vậy, công tác phòng
ngừa, đấu tranh chống tham nhũng luôn được coi là nhiệm vụ chiến
lược của Đảng và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện
nay mà Thanh tra Nhà nước giữ một vai trò quan trọng trong công tác
phòng, chống tham nhũng.
Tham nhũng là một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất của các
chế độ xã hội và đặc biệt nguy hiểm đối với chế độ xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Trước hết, nó làm tha hoá bộ máy Nhà nước, làm hư hỏng
đội ngũ cán bộ, nhất là những viên chức ở cấp cao, có quyền lớn.
Những cán bộ, viên chức có hành vi tham nhũng mất đi khả năng điều
hành, xử lý công việc một cách đúng đắn. Một khi chính họ đã trở
thành những kẻ phạm pháp thì nói gì đến chức năng "Cầm cân nẩy
mực" trong đời sống xã hội. Tham nhũng làm cho nhân dân mất tin
tưởng, thậm chí bất bình, oán thán bộ máy Nhà nước, do đó làm cho
Nhà nước tách rời, thậm chí đối lập với nhân dân. Điều này đặc biệt
nguy hiểm đối với Nhà nước ta, bởi nó như một sự làm trái, thậm chí
phản bội lại những lý tưởng cao cả mà quần chúng vẫn tin tưởng hết
3
nên quá trình triển khai thực hiện còn thiếu thống nhất, công dân, cơ quan, tổ
chức gặp khó khăn khi thực hiện các quy định pháp luật.
Thứ hai, nội dung giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng,
chống tham nhũng chưa phong phú, đa dạng, chưa được chuẩn hoá. Đối tượng
được tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng còn hẹp, thời gian
qua mới tập trung vào thực hiện Đề án 137 đưa nội dung phòng, chống tham
nhũng vào chương trình giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng. Bên cạnh đó hình thức,
phương pháp tuyên truyền còn đơn điệu, tự phát, thiếu sự gắn kết giữa các
hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật; chưa thu hút được sự tham gia
sâu của báo chí và các phương tiện thông tin chúng.
Thứ ba, các cơ quan, tổ chức làm công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ
biến pháp luật về PCTN chưa có đội ngũ báo cáo viên được trang bị đầy đủ
kiến thức, kỹ năng tuyên truyền, phổ biến pháp luật; nghiệp vụ về công tác
tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa được nghiên cứu, hướng dẫn đầy đủ, do
vậy, khi triển khai tuyên truyền, phổ biến pháp luật đã gặp nhiều khó khăn,
nhất là khâu tổ chức và mời báo cáo viên.
Thứ tư, điều kiện về trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động
tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng, chống tham nhũng cũng còn
khiêm tốn; kinh phí phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhiều
khi chưa được ưu tiên, đảm bảo.
Trước những hạn chế, bất cập nêu trên thì cần phải triển khai nghiên cứu
thấu đáo về công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về phòng,
chống tham nhũng, tạo cơ sở nâng cao hiệu quả việc tuyên truyền, phổ biến
trong thực tế, qua đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các
cơ quan nhà nước. Do vậy, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục pháp luật nói
chung và pháp luật về PCTN nói riêng cho đội ngũ cán bộ, công chức trong
5
Tăng cường công tác giáo dục pháp luật cho cán bộ, chính quyền cơ sở tỉnh
Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay, Hà Nội.
- Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hiện
nay(2003), của tác giả Tô Tử Hạ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, …
- Luận văn tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị của Lê Thị Xuân Hương
(2009), Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức cấp xã ở các huyện miền
núi tỉnh Thanh Hóa hiện nay, Hà Nội.
- Luận văn thạc sĩ luật học của Đinh Thị Loan(2010), “Giáo dục pháp
luật cho đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Hà Giang, Hà Nội.
Những công trình nghiên cứu, tài liệu nêu trên là nguồn tư liệu tham
khảo có giá trị, mang tính lý luận và thực tiễn cao. Nhưng các công trình nay
chỉ mới dừng lại nghiên cứu ở góc độ lý luận chung về các vấn đề giáo dục
pháp luật nói chung cho đội ngũ cán bộ, công chức trong tỉnh hoặc trong cơ
quan nhà nước mà chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ
thống về giáo dục pháp luật về phòng chống tham nhũng cho đội ngũ cán bộ,
công chức trong hệ thống cơ quan nhà nước. Vì vậy, đây là đề tài mới, đầu
tiên nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề này.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề có tính lý luận về phòng,
chống tham nhũng; giáo dục pháp luật về phòng chống tham nhũng cho
cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, từ đó
đánh giá đúng thực trạng và nhằm xác định những phương hướng, giải
pháp để đổi mới công tác giáo dục pháp luật về phòng chống tham nhũng
cho đối tượng nêu trên.
7
* Nhiệm vụ: Để thực hiện được mục đích trên, luận văn có các nhiệm
và pháp luật. Cùng với các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nhà nước
kiểu mới, về việc tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam,
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước trong sạch, vững
mạnh, nâng cao chất lượng hoạt động công vụ phục vụ nhân dân.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: đề tài sẽ sử dụng một cách linh hoạt và
hợp lý các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu;
Phương pháp khảo sát thực tế; Phương pháp phân tích tổng hợp; Phương pháp
phân tích, đối chiếu; Phương pháp so sánh; Phương pháp tọa đàm trao đổi.
6. Tính mới và những đóng góp của luận văn
- Nhìn nhận thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức của chúng ta
hiện nay
- Nhận thức được vai trò, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức
trong cơ quan hành chính nhà nước.
- Cho thấy rõ tác hại của tê nạn tham nhũng đối với sự phát triển
của xã hội.
- Đổi mới công tác giáo dục pháp luật để góp phần phòng, chống
tham nhũng có hiệu quả
- Góp phần đưa ra những giải pháp nhằm giáo dục pháp luật về
phòng chống tham nhũng cho cán bộ, công chức trong thời gian tới đem
lại hiệu quả cao.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, phần nội dung của luận văn
được cấu trúc thành 03 chương:
Chương I: Cơ sở lý luâ ̣n về phòng , chống tham nhũng , giáo dục pháp
luâ ̣t về phòng , chố ng tham nhũng cho cán bô ̣ , công chức trong bô ̣ máy hành
chính nhà nước
9
quan niê ̣m về tham nhũng cũng khác nhau . Trong mô ̣t quố c gia thì ở các giai
đoa ̣n lich
̣ sử khác nhau điề u kiê ̣n xã hô ̣i và các chủ thể mang quyề n lực khác
nhau thì hành vi tham nhũng cũng có những biể u hiê ̣n khác nhau. Vì vậy, viê ̣c
đưa ra mô ̣t khái niê ̣m hay đinh
̣ nghiã hoàn chỉnh phản ánh đúng bản chất hành
vi tham nhũng và đươ ̣c chấ p nhâ ̣n rô ̣ng raĩ là điề u không đơn giản.
Tuy nhìn nhâ ̣n dưới nhiề u góc đô ̣ khác nhau
, nhưng nhìn chung các
quố c gia, các học giả đều nhận định: Tham nhũng là mô ̣t hiê ̣n tươ ̣ng xã hô ̣i có
tính lịch sử , xuấ t hiê ̣n trong xã hô ̣i có phân chia giai cấ p và hiǹ h thành nhà
nước. Tham nhũng là mô ̣t biể u hiê ̣n của sự lơ ̣i du ̣ng hay la ̣m du ̣ng quyề n lực
nhà nước và được thực hiện bởi chủ thể
11
đươ ̣c nhà nước trao quyề n . Tham
nhũng ngày nay không còn là vấn đề riêng của mỗi quốc gia mà đã trở thành
vấ n đề toàn cầ u . Các quốc gia trên thế giới đang cùng nhau thực hiện các biện
pháp mạnh mẽ để phòng ngừa và đấu t ranh chố ng tham nhũng. Đó cũng là lý
do khiế n 136 quố c gia trên thế giới phê chuẩ n , tham gia và áp du ̣ng các biê ̣n
pháp thực thi công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng
(United
nations Convention Against Corruption, viế t tắ t là: UNCAC, đươ ̣c thông qua
, Nhà nước ,
trong đơn vi ̣kinh tế và tổ chức xã h ội lợi dụng địa vị công tác của mình để vụ
lơ ̣i cho cá nhân , gây thiê ̣t ha ̣i đế n lơ ̣i ích nhà
[57,tr.21-22]
12
nước và của nhân dân” ...
Thuâ ̣t ngữ “tham nhũng” đươ ̣c sử du ̣ng sớm nhấ t trong các văn bản
pháp luật của nhà nước Việt
Nam ta ̣i Quyế t đinh
̣ số
240- HĐBT (ngày
26/6/1990) về đấ u tranh chố ng tham nhũng của Hô ̣i đồ ng Bô ̣ trưởng
(nay là
Chính phủ) và nghị quyết của Quốc hội (ngày 30/12/1993) về thực hành tiế t
kiê ̣m chố ng lañ g phi,́
Theo từ điể n Ti ếng Việt, “tham nhũng” đươ ̣c hiể u là hành vi “lơ ̣i du ̣ng
quyề n hành để nhũng nhiễu nhân dân và lấ y của”[18, tr. 910]
Theo Từ điể n giải thić h thuâ ̣t ngữ Luâ ̣t ho ̣c , “tham nhũng” đươ ̣c hiể u là
(hành vi) lơ ̣i du ̣ng chức vu ̣ , quyề n ha ṇ hưởng lơ ̣i ić h vâ ̣t chấ t trái pháp luâ ̣t ,
của “tham nhũng” . Căn cứ vào đó , các cơ quan chức năng sẽ xem xét , đánh
giá hành vi để xác định hành vi tham nhũng.
13
Khái niệm tham nhũng trong Luậ t PCTN (2006) phản ánh được đầy đủ
hơn về tham nhũng hiê ̣n nay vì cũng giố ng như các nước khác trên thế giới
,
tham nhũng ở Viê ̣t nam có biể u hiê ̣n rấ t đa da ̣ng dưới nhiề u hiǹ h thức khác
nhau, trong nhiề u liñ h vực khác nhau . Vì vâ ̣y, viê ̣c mô tả , liê ̣t kê những hành
vi tham nhũng cùng với những đă ̣c điể m cu ̣ thể của nó là điề u không thể và
không cầ n thiế t và sẽ dẫn đế n tiǹ h tra ̣ng “bỏ lo ̣t”.
1.1.2. Quan niệm về phòng, chống tham nhũng
Ở Việt Nam, sau cách mạng tháng Tám, ngay từ những ngày đầu Cách
mạng mới thành công, trong nhiều bài nói, bài viết và trong các bức thư gửi
các cơ quan dân chính của Nhà nước, Hồ Chí Minh đã luôn nhắc nhở cán bộ,
đảng viên phải sống cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư. Trên cơ sở nhận
thức sâu sắc sự nguy hiểm, tìm ra bản chất, nguyên nhân của tham ô, lãng phí,
quan liêu, Hồ Chủ Tịch đã nêu ra hàng luật biện pháp nhằm đấu tranh PCTN.
Người nói: “làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu;
biến hàng ức, hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành
những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tệ tham ô, lãng phí,
quan liêu còn chỗ ẩn nấp” [21, tr.576]. Theo Hồ Chủ Tịch, đấu tranh chống
chủ nghĩa cá nhân, bệnh quan liêu chính là biện pháp phòng ngừa tham ô,
lãng phí hữu hiệu nhất. Để đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân hiệu quả,
Người chỉ thị, “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý
tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và
Về cơ bản tham nhũng là hành vi vi phạm pháp luật hướng tới mục đích
vụ lợi của những người có quyền lực. Chính vì vậy mà cuộc đấu tranh chống
tham nhũng là hết sức cam go, phức tạp, cần có một sức mạnh tổng hợp của
cả hệ thống chính trị và sự tham gia của toàn xã hội. Ở đây chính là sự thể
hiện vai trò lãnh đạo của Đảng, hoạt động của các cơ quan nhà nước và sự
tham gia của quần chúng nhân dân. Mặt khác PCTN là cuộc đấu tranh lâu dài
và toàn diện, bao gồm các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và phát hiện, xử
lý các hành vi tham nhũng, chính vì vậy mà khi bàn đến cơ chế đấu tranh
chống tham nhũng sẽ là đề cập đến một vấn đề hết sức rộng lớn.
15
Vậy PCTN được hiểu là tổng thể các biện pháp của các cơ quan có
thẩm quyền nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh của các chủ thể được
trao quyền lực công lợi dụng quyền lực công đó để thực hiện hành vi tư lợi.
Các biện pháp PCTN là cách thức tác động mà các cơ quan có thẩm
quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề nghiệp và mọi cá nhân
trong xã hội sử dụng nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh chống mầm
mống phát sinh tham nhũng, các hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã
lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao nhằm chiếm đoạt bất hợp pháp lợi ích
vật chất hoặc lợi ích khác cho mình hoặc cho người khác.
Xuất phát từ đặc trưng của “tham nhũng” là: Chủ thể có chức vụ, quyền
hạn, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao và hành động vì mục đích vụ lợi,
có thể thấy, PCTN có những đặc điểm như sau:
- Tham nhũng là căn bệnh của quyền lực, đấu tranh PCTN chủ yếu và
trước hết là chống tham nhũng trong bộ máy quyền lực. Đối tượng của nó
chính là bản thân những con người và khuyết tật của hệ thống các cơ quan
trong bộ máy Đảng và Nhà nước. Trong số các đối tượng tham nhũng, có
những người có chức vụ cao, là đảng viên đảm nhiệm những vị trí lãnh đạo
thống. Và về cơ bản có các quan niệm như sau:
- Trước hết, quan niệm cho rằng, pháp luật là những quy tắc xử sự có
tính chất bắt buộc chung. Vì vậy mọi công dân đều phải có nghĩa vụ tuân thủ
thủ theo pháp luật, theo đó không cần đặt vấn đề giáo dục pháp luật nữa. Pháp
luật không thể là cái thuộc tính tuyên truyền, vận động, ngược lại, bản thân
pháp luật sẽ tự thực hiện chức năng của mình bằng chính các quy định về
quyền và nghĩa vụ thông qua các chế tài đối với những người tham gia vào
các quan hệ xã hội do pháp luật điều chỉnh.
- Quan điểm thứ hai, đồng nhất hoặc coi GDPL là một bộ phận của giáo
dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức. Vì thế chỉ cần thực hiện tốt công tác
giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức thì mọi công dân sẽ có ý thức
17
pháp luật cao, từ đó có sự tôn trọng và tuân thủ pháp luật. Với quan niệm này
đã từng tồn tại trong một thời gian khá dài ở nước ta. Do đó, việc đào tạo các
chuyên ngành liên quan đến lĩnh vực pháp luật chưa được nhà nước chú trọng
đào tạo đúng mức, mãi đến năm 1979 mới có cơ sở chuyên ngành đào tạo các
luật gia ở bậc đại học và đến những năm 1987- 1988, việc GDPL mới bắt đầu
đưa vào chương trình giáo dục ở bậc phổ thông.
- Quan niệm thứ ba, cho rằng GDPL đồng nhất với việc tuyên truyền,
giới thiệu, phổ biến các văn bản pháp luật. Và với quan niệm này, việc GDPL
thực chất chỉ là các đợt tuyên truyền, vận động khi có văn bản pháp luật quan
trọng của nhà nước mới được ban hành như: Hiến pháp, Bộ luật Dân Sự, Bộ
luật đất đai, Bộ luật Hình sự hoặc trước các kỳ bầu cử Quốc hội và Hội đồng
nhân dân các cấp….Một khi thực hiện tốt công tác này là đã thực hiện tốt
công tác GDPL. Chính vì vậy mà coi công tác này là của các phương tiện
thông tin đại chúng, của các cơ quan có chức năng tuyên truyền, vận động.
Qua tất cả các quan niệm trên đây về GDPL có thể thấy rằng ở chúng
chỉnh hành vi của con người một cách phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Vì vậy,
quá trình GDPL phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, có định
hướng, có tổ chức. Điều này, càng thấy rõ hơn trong điều kiện hiện nay, khi
mà nền kinh tế - xã hội đã có những biến đổi to lớn thu được nhiều thành tựu
to lớn trên các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, xã hội…
Hai là, khái niệm GDPL còn có ý nghĩa trong việc phân biệt phạm trù
giáo dục với phạm trù ý thức pháp luật, hai phạm trù này có quan hệ mật thiết
với nhau nhưng không phải là đồng nhất với nhau. Hoạt động GDPL là sự tác
động của nhân tố chủ quan, là hoạt động có tính định hướng, có chủ định, có
tính tổ chức, trong khi sự hình thành ý thức pháp luật là hình ảnh, sản phẩm
của điều kiện khách quan.
19
Từ những sự phân tích trên đây chúng ta có thể thấy được rằng, những
quan niệm về giáo dục theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp là cơ sở để đưa ra được
khái niệm hoàn chỉnh về GDPL: GDPL là hoạt động định hướng có tổ chức,
có chủ định của chủ thể giáo dục, tác động lên đối tượng giáo dục nhằm mục
đích hình thành ở họ những tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi phù hợp với
các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành.
1.2.2. Khái niệm giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng
cho cán bộ, công chức trong cơ quan hành chính nhà nước
Khái niệm GDPL về PCTN được hiểu trong quan niệm chung về hoạt
động GDPL được nhiều người thừa nhận, song có những đặc thù của hoạt
động tuyên truyền pháp luật trong lĩnh vực này. Căn cứ vào các quy định
pháp luật hiện hành chúng ta thấy rằng, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có chức
năng cơ bản trong đấ u tranh phòng , chố ng tham nhũng có trách nhiệm chủ
động phát hiện các hành vi tham nhũng, xử lý vi phạm theo thẩm quyền hoặc
kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý. Để thực hiện hiệu quả
GDPL về PCTN là nhiệm vụ rất quan trọng , vì hiệu quả công tác GDPL về
PCTN không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực pháp luật về phòng, chống tham
nhũng mà còn góp phần vào việc hình thành văn hoá pháp lý nói chung cho
mọi công dân, cơ quan, tổ chức trong xã hội đă ̣c biê ̣t là với đô ̣i ngũ cán bô ̣ ,
công chức trong bô ̣ máy hành chính nhà nước.
1.3. Vai trò của giáo dục pháp luật về đấu tranh phòng, chống
tham nhũng cho đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thông cơ quan hành
chính nhà nƣớc
1.3.1. Nâng cao nhận thức, ý thức kỷ luật về phòng, chống tham
nhũng cho đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan hành chính
nhà nước
GDPL về PCTN giúp cho đội ngũ cán bộ, công chức trong cơ quan nhà
nước nói chung và trong bộ máy hành chính nhà nước nói riêng ý thức được
một cách đúng đắn cũng như thực thi một cách có hiệu quả quyền hạn, trách
nhiệm và nghĩa vụ của mỗi người cán bộ, công chức trong sự nghiệp xây
21
dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân, góp phần thiết thực vào việc phát
triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy quá trình hội nhập của đất nước về chính trị,
kinh tế, văn hóa… ngày càng sâu rộng trong phạm vi khu vực và trên toàn thế
giới; GDPL về PCTN là một trong những khâu quan trọng tạo ra tiền đề ý
thức kỷ luật và nâng cao nhận thức của người cán bộ, công chức trong quá
trình thực thi nhiệm vụ công vụ của mình. Thông qua hoa ̣t đô ̣ng GDPL về
PCTN cho cán bô ̣ , công chức , mỗi người cán bô ̣ , công chức đươ ̣c trang bi ̣
những tri thức cơ bản về trách nhiê ̣m cũng như nghiã vu ̣ của ho ̣ trong quá
trình thực thi công vụ , mỗi người trong số ho ̣ cầ n thấ y rõ rằ ng viê ̣c miǹ h làm
là để phục vụ Nhà nước , xã hội và nhân dân . Từ nhâ ̣n thức đó người cán bô ̣ ,
công chức phải luôn gương mẫu trong lời nói viê ̣c làm để xứng đáng là công
Nguồn gốc xuất phát của mỗi người cán bộ, công chức đều từ nhân dân,
ở trong nhân dân mà ra, nhưng họ lại có nhiệm vụ quản lý và phục vụ nhân
dân. Người cán bộ, công chức là đầy tớ nhân dân trong thời ký đổi mới nên
cũng sẽ có nhiều vấn đề phát sinh so với người cán bộ trong thời chiến, đó là
đối tượng họ quản lý, phục vụ, đó là sự chi phối của cơ chế thi trường, bối
cảnh toàn cầu hoá…. Vì vậy phải hiểu được người cán bộ, công chức có gì,
cần gì để đánh giá đúng và sử dụng hiệu quả. Một người cán bộ, công chức
không thể tốt khi đạo đức, và năng lực họ kém hơn so với nhân dân - đối
tượng mà họ phục vụ. Công việc họ đảm nhiệm là công vụ nên tất yếu không
cho phép nãy sinh tư lợi trong quá trình họ làm việc. Xuất phát từ những vấn
đề đó, công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, giúp họ có đủ trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ phải được coi trọng hơn, phải từng bước được nâng
lên theo yêu cầu của xã hội. Đặc biệt, cần quan tâm đến công tác giáo dục các
kỹ năng mềm như: kỹ năng sắp xếp thời gian, kỹ năng bố trí và quản lý công
việc, kỹ năng giao tiếp, xử lý tình huống …
Học tập đạo đức Hồ Chí Minh tất cả vì nhân dân, mỗi cán bộ, đảng
viên, dù ở bất cứ cương vị nào phải gần dân, học dân, có trách nhiệm với
dân. Phải trăn trở và thấy trách nhiệm của mình khi dân còn nghèo đói.
Không chỉ sẻ chia và đồng cam, cộng khổ với nhân dân, mà còn phải biết tập
hợp nhân dân, phát huy sức mạnh của dân, tổ chức, động viên, lãnh đạo nhân
dân phấn đấu thoát khỏi đói nghèo. Nhân dân là người thầy nghiêm khắc và
nhân ái, luôn luôn đòi hỏi cao ở cán bộ, đảng viên, đồng thời cũng sẵn lòng
giúp đỡ cán bộ, đảng viên hoàn thành nhiệm vụ, phát huy ưu điểm, sửa chữa
sai lầm, khuyết điểm.
Chúng ta đang xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, do dân và
vì dân . Để đa ̣t đươ ̣c mu ̣c đić h đó trước hế t đô ̣i ngũ cán bô ̣
, công chức phải
mới đối với mỗi chúng ta trong lĩnh vực đạo đức. Hơn lúc nào hết, hiện nay
toàn Đảng, toàn dân ta phải quan tâm đầy đủ đến vấn đề đạo đức, tiếp tục xây
dựng, hoàn thiện những chuẩn mực đạo đức đúng đắn, tiến bộ; đẩy mạnh giáo
dục, rèn luyện và tăng cường quản lý đạo đức trong Đảng và trong nhân dân.
Kế thừa truyền thống đạo đức tốt đẹp của ông cha, học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh là một trong những biện pháp quan trọng để
24