Giáo dục pháp luật đối với học sinh tại các trường trung học phổ thông, từ thực tiễn quận 10, thành phố hồ chí minh - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ TỨ

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HỌC SINH TẠI CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG, TỪ THỰC TIỄN QUẬN 10, THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS Hoàng Thế Liên

Hà Nội, năm 2019


LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với Ban giám hiệu,
phòng Sau Đại học, các thầy giáo, cô giáo đã tham gia quản lý, giảng dạy và giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn, sự kính trọng đặc biệt đến GS.TS Hoàng Thế Liên
- người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ về khoa học để tôi hoàn thành luận
văn. Tôi xin chân thành cảm ơn:
- Lãnh đạo, chuyên viên Sở GD&ĐT thành phố Hồ Chí Minh
- Ban giám hiệu, các giáo viên dạy trường THPT thành phố Hồ Chí Minh là
trường Trường THPT Nguyễn Khuyến; Trường THPT Nguyễn Du; Trường THPT
Nguyễn An Ninh; Trường THPT Sương Nguyệt Anh; Trường THPT Diên Hồng
- Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, cổ vũ, khích lệ và giúp đỡ tôi

1.4. Quy định pháp luật về giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ
thông……………………………………………………………………………12
1.5. Yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ
thông……………………………………………………………………………20
Tiểu kết Chương 1………………………………………………………………..22
Chương 2: THỰC TIỄN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TẠI
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 10,
THÀNH PHÔ HỒ CHÍ MINH …………………………………………….……23
2.1. Khái quát về thực trạng bậc học ở trung học phổ thông Quận 10, thành phố
Hồ Chí Minh................................................................................................................................ 23
2.2. Thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông tại Quận
10, thành phố Hồ Chí Minh.................................................................................................... 27
2.2.1. Mục tiêu, phương pháp lấy mẫu, phương pháp khảo sát.............................. 27
2.2.2. Kết quả khảo sát và kết luận.................................................................................... 30
2.3. Đánh giá chung về thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh trung học
thông trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh …..…

…….………...50

2.3.1. Ưu điểm ………………….…………………………...………………..50


2.3.2. Hạn chế……………………………………………………. ……………50
2.3.3. Nguyên nhân………………………………………………..……………53
Tiểu kết Chương 2………………………………………………………………...56
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO
DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUẬN 10,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…………………………………………………..57
3.1. Quan điểm chung về giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ
thông………………………………………………………………………..….57

CHXHCN

: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CNH, HĐH

: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CSVC

: Cở sở vật chất

CTĐ

: Công tác Đoàn

ĐTN

: Đoàn Thanh niên

GD

: Giáo dục

GD&ĐT

: Giáo dục và đào tạo

GDPL



MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật là cơ sở tổ chức hoạt động của chính quyền, là sự ghi nhận, bảo vệ
và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, là phương thức quản lý xã
hội có hiệu lực nhất. Vì vậy, việc ban hành pháp luật và bảo đảm thực thi pháp luật
là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Nhà nước. Để thực hiện đúng pháp luật trước
hết cần phải tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật. Vì vậy, tuyên
truyền giáo dục pháp luật là một bộ phận có ý nghĩa đặc biệt trong hệ thống giáo
dục chung của Đảng và Nhà nước nhằm giáo dục đạo đức, ý thức tôn trọng và chấp
hành pháp luật và góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, trong điều
kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ mới.
Quận 10 là một trong những quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh có
nhiều điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa xã hội với các quận
trung tâm và ngoại thành, là cơ hội để thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của
quận trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong thời gian vừa
qua, các cấp ủy, chính quyền, cùng lãnh đạo các trường phổ thông đã có biện pháp
tích cực trong nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục bậc
THPT (Trung học phổ thông) nói riêng. Đối với công tác giáo dục pháp luật cho học
sinh đã được các trường tổ chức triển khai nhằm trang bị kiến thức, hiểu biết pháp
luật, nâng cao ý thức pháp luật, làm hình thành lối sống và làm việc theo pháp luật
cho học sinh; giúp học sinh hiểu rõ về các quyền con người, quyền công dân, về
quyền học sinh...Tuy nhiên, trong những năm qua bên cạnh những thành tựu quan
trọng đạt được cũng còn bộc lộ những hạn chế, bất cập trên nhiều mặt, từ việc xác
định mục tiêu, lựa chọn nội dung, phương pháp cho đến hình thức GDPL (giáo dục
pháp luật) cho học sinh. Có thể thấy, công tác GDPL cho học sinh trong các trường
THPT Quận 10 tuy đã được chú trọng, nhưng chưa được tiến hành thường xuyên;
còn thiếu trọng tâm, trọng điểm, thiếu sự gắn kết nhịp nhàng, phối hợp đồng bộ,
hiệu quả giữa các cơ quan, tổ chức, giữa các cấp, các ngành có liên quan; tình



2


trường THPT dân lập trên địa bàn thành phố Vinh, Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo
dục, Nghệ An.
Trần Ngọc Minh (2016), Giáo dục pháp luật cho sinh viên từ thực tiễn
các trường cao đẳng tỉnh Bình Dương, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội.
Trần Thị My Ly (2018), Phổ biến, giáo dục pháp luật cho Thanh niên
từ thực tiễn Tỉnh Quảng Bình, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội.
Các công trình đã áp dụng các quy định pháp luật về phổ biến, giáo dục
pháp luật đối với đối tượng học sinh, sinh viên qua quá trình nghiên cứu lý luận và
thực tiễn nói chung về cơ bản đã đáp ứng với yêu cầu của công cuộc cải cách tư
pháp ở nước ta hiện nay. Với ý nghĩa đó, giáo dục pháp luật với đối tượng học sinh
THPT mà tác giả sẽ nghiên cứu sẽ có ý nghĩa thực tiễn cao, trong đó các công trình
đã nghiên cứu trên giúp cho tác giả nghiên cứu luận văn này có thêm tư liệu để
tham khảo và nghiên cứu sâu hơn.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật cho học sinh,
đánh giá thực trạng và luận chứng một số giải pháp nhằm nâng cao công tác giáo
dục pháp luật cho học sinh trên địa bàn Quận 10, thành phố Hồ Chí Minh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn cần có những nhiệm vụ chủ yếu
sau:
- Làm rõ, làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về GDPL cho học sinh tại các
trường Trung học phổ thông
- Phân tích, đánh giá thực trạng GDPL đối với học sinh tại các trường Trung
học phổ thông từ thực tiễn tại Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh làm rõ những ưu,
nhược điểm và nguyên nhân của những nhược điểm đó.

4


ra kết luận, tìm hiểu nguyên nhân vấn đề và các giải pháp hữu hiệu khắc phục hạn chế.
Các phương pháp này được áp dụng trong chương 2 và chương 3 của đề tài. Thông qua
đó, tác giả muốn đưa ra một bức tranh toàn cảnh về giáo dục pháp luật cho học sinh
THPT nói chung và thực tiễn áp dụng trong thực tế cũng như một số biện pháp nhằm
hoàn thiện yêu cầu đề ra của công tác này, đáp ứng với yêu cầu hội nhập và phát triển
đất nước. Phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn làm sáng tỏ, làm sâu sắc hơn, một cách hệ thống một số vấn đề lý
luận về giáo dục pháp luật cho học sinh ở Việt Nam hiện nay.
- Phân tích làm rõ những kết quả, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế
trong giáo dục pháp luật cho học sinh tại các trường THPT Quận 10, Thành phố Hồ
Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục pháp luật
cho học sinh THPT tại Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phục lục, thì nội dung chính
của luận văn gồm có 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận giáo dục pháp luật cho học sinh trung học
phổ thông
Chương 2: Thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh trường THPT, từ thực
tiễn Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Một số giải pháp tăng cường và nâng cao chất lượng giáo dục
pháp luật cho học sinh các trường THPT Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

5


6


- Trong thực tiễn hiện nay đang tồn tại một số quan niệm khác nhau về giáo
dục pháp luật:
Có quan điểm cho rằng giáo dục pháp luật là một bộ phận của giáo dục chính
trị, tư tưởng, giáo dục đạo đức. Nếu biết tiến hành quá trình giáo dục chính trị tư
tưởng, giáo dục đạo đức tốt thì sẽ đem lại ý thức pháp luật cao, có sự tôn trọng và
tuân thủ pháp luật ở con người. Hay nói một cách khác giáo dục chính trị tư tưởng,
giáo dục đạo đức hình thành ý thức pháp luật ở con người. Bên cạnh đó, pháp luật
là qui tắc xử sự có tính bắt buộc chung. Mọi công dân đều phải tuân thủ pháp luật,
do đó không cần phải đặt vấn đề về giáo dục pháp luật, bởi vì bản thân pháp luật sẽ
tự thực hiện chức năng của mình bằng các qui định về quyền và nghĩa vụ thông qua
các chế tài đối với những người tham gia vào các quan hệ xã hội do pháp luật điều
chỉnh.[13]
Mặt khác cũng có người coi giáo dục pháo luật đồng nhất với việc tuyên
truyền, phổ biến, giới thiệu pháp luật bằng các biện pháp khác nhau để mọi người
tuân thủ làm theo pháp luật. [26]
Có thể thấy, GDPL là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức
pháp luật cho đối tượng và bằng mọi cách (Thuyết phục, nêu gương, ám thị...) hình
thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng
pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng. Giáo dục pháp luật là
khâu đầu tiên của quá trình thi hành pháp luật và có vai trò hết sức quan trọng trong
việc tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt
Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Tóm lại: khái niệm giáo dục pháp luật dù được tiếp cận dưới góc độ nào thì
trong khoa học pháp lý, giáo dục pháp luật cần theo tính định hướng của các cơ
quan Đảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội, trong đó người giáo dục và người được
giáo dục luôn tác động qua lại lẫn nhau, thiết lập những hành vi xử sự phù hợp với
các quy phạm pháp luật. Tổ chức thực hiện GDPL nhằm hình thành ở con người

chuẩn mực pháp luật quy định. [30]
GDPL cho HS THPT (Học sinh trung học phổ thông) là một bộ phận của
GDPL nói chung, nghĩa là nó cũng phải tuân theo các quy luật chung của quá trình

8


GDPL cho các đối tượng xã hội khác, phải đáp ứng các yêu cầu về mục tiêu, chủ
thể, đối tượng, nội dung, phương pháp và hình thức GDPL. Bên cạnh đó, GDPT
cho HS THPT còn có những nét đặc trưng riêng xuất phát từ các đặc điểm về độ
tuổi, trình độ, sự phát triển tâm sinh lý. Theo tinh thần đó, GDPT cho HS THPT có
những đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, GDPL cho HS THPT từ lớp 10 đến hết lớp 12 trong hệ thống
giáo dục quốc dân ở nước ta hiện nay, độ tuổi chủ yếu của các em là trong khoảng
16 đến 18. Ở lứa tuổi này học sinh THPT là thời kỳ đầu của giai đoạn tuổi thanh
niên. Học sinh THPT ở giai đoạn này cơ thể đang dần đi đến hoàn thiện về mọi mặt:
cơ bắp, chiều cao, trọng lượng cơ thể tăng nhanh. So với học sinh THCS, thì nhiều
mặt ở lứa tuổi này đã phát triển và trưởng thành hơn nhiều. Do vậy, khả năng hoạt
động trí tuệ ở học sinh THPT vượt xa học sinh THCS. Các em có khả năng tiếp
nhận tác động vô cùng phong phú, phức tạp của thế giới xung quanh. Vì vậy, khả
năng nhận thức của các em về những sự vật hiện tượng thường xuyên xảy ra trong
giới tự nhiên và xã hội được nâng lên, nhân sinh quan và thế giới quan của các em
khá rõ nét. Có thể nói, đây là độ tuổi chủ thể con người đang ở thời kỳ hài hoà, đẹp
đẽ với sức lực dồi dào nhất.
Thứ hai: GDPL cho HS THPT trang bị cho HS những thông tin, kiến thức về
những lĩnh vực pháp luật thiết yếu, gần gũi và phù hợp với mục tiêu, nhu cầu giải
quyết những vấn đề pháp lý nảy sinh trong cuộc sống của HS. Nhà nước pháp
quyền XHCN Việt Nam quản lý xã hội bằng pháp luật, luôn đặt pháp luật ở vị trí
thượng tôn nên với tư cách là những công dân, HS THPT rất cần đến thông tin, kiến
thức pháp luật để có thể “Sống, làm việc theo pháp luật”. Ngoài ra, cần trang bị cho

những tranh cãi sôi nổi về thế giới xung quanh. Các em mong muốn không những
“hiểu biết bản thân mình” mà còn quan tâm đến thế giới nội tâm của con người. Do
vậy, thái độ có ý thức của các em đối với học tập ngày càng phát triển. Đó là lý do
sự tự ý thức hình thành rõ rệt ở học sinh THPT. [16]
1.3. Vai trò của giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông

10


Thứ nhất: Góp phần giáo dục đạo đức, lối sống, hình thành nhân cách, rèn
luyện hành vi ứng xử cho thế hệ trẻ ngay từ trên ghế nhà trường tạo nếp sống, hành
động “Sống và làm việc theo Hiến pháp và Pháp luật.”
Thứ hai: Thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện
GDPL cho HS THPT có vai trò to lớn đối với sự phát triển toàn diện con người
Việt Nam trong đó có việc hình thành ý thức pháp luật, văn hoá pháp lý trong nhân
dân. GDPL cho HS THPT là một hoạt động giáo dục cụ thể gắn bó hữu cơ với hoạt
động giáo dục nói chung. Nội dung GDPL cho HS THPT là một phần của nội dung
chương trình giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc
dân. GDPL cho HS THPT không chỉ góp phần ổn định hoạt động của ngành mà còn
góp phần trực tiếp vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm giáo dục, góp phần quan
trọng đào tạo nguồn nhân lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Thực tế hiện nay cho thấy, tình hình vi phạm pháp luật trong xã hội ngày càng
tăng nhất là trong lứa tuổi thanh thiếu niên mà một trong những nguyên nhân đó là
tình trạng “mù” pháp luật, không hiểu biết gì về pháp luật, hoặc hiểu biết pháp luật
không đầy đủ, từ đó dẫn đến việc có những hành vi vi phạm pháp luật. [30]
Xã hội càng phát triển, nhu cầu hiểu biết pháp luật và vận dụng pháp luật trong
các hoạt động kinh tế hay để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân
trong xã hội càng lớn. Do đó, ngoài việc trang bị các kiến thức văn hoá, khoa học
kỹ thuật, việc phổ biến, giáo dục pháp luật vào nhà trường nhằm trang bị những tri
thức pháp luật cơ bản cho học sinh, giáo dục ý thức tự giác tuân thủ pháp luật cho

vai trò chiến lược của công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường, tạo cơ sở pháp
lý cho việc triển khai thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường. Theo
đó, GDPL cho học sinh trung học phổ thông được xác định là một hệ thống bộ phận
trong hệ thống giáo dục quốc dân, gắn liền chặt chẽ giáo dục nghề nghiệp, giáo dục
truyền thống đạo đức và thực hiện quy tắc chuẩn mực xã hội.
Nội dung của pháp luật về giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ
thông bao gồm:
(i) Xác định mục đích giáo dục giáo dục pháp luật cho học sinh trung học
phổ thông

12


- Xác định mục đích GDPL cho HS THPT là vấn đề quan trọng hàng đầu đối
với việc xây dựng nội dung giáo dục và toàn bộ công tác tổ chức thực hiện. Vì vậy,
cần phải căn cứ theo các tiêu chí sau:
+ Căn cứ từ nhu cầu giáo dục toàn diện cho HS.
+ Căn cứ từ thực trạng tình hình tuyên truyền và hiểu biết pháp luật và ý thức
tôn trọng pháp luật cùng hiểu biết về tệ nạn xã hội, nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn
của đất nước.
+ Căn cứ đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi.
Từ những tiêu chí cơ bản trên, ta có thể nhận thấy mục tiêu của GDPL cho
HS THPT phải đạt được:
Cần phải hình thành, làm sâu sắc và từng bước mở rộng hệ thống tri thức về
pháp luật cho HS. Thông qua GDPL cho HS THP, HS được trang bị những tri thức
cơ bản về pháp luật, vai trò điều chỉnh của pháp luật, các chuẩn mực của pháp luật
trong từng lĩnh vực đời sống.
Hình thành tri thức pháp luật là nền móng cơ bản để xây dựng tình cảm pháp
luật, đất nước giúp HS hiểu hơn về pháp luật và biết cách đánh giá một cách đúng
đắn các hành vi pháp lý. Tri thức pháp luật góp phần định hướng cho lòng tin đúng

vực như : giáo dục về quyền trẻ em, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, bảo vệ
môi trường, chấp hành luật giao thông, phòng chống ma túy, tội phạm và các tệ nạn
xã hội trong học đường, phòng chống HIV/AIDS, luật nghĩa vụ quân sự, giáo dục
giới tính và kỹ năng sống, bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình ...
Nội dung về hệ thống các văn bản QPPL của Nhà nước cũng cần được truyền
đạt cho học sinh THPT một cách khái quát nhất. Trong đó, cần thiết nhất là:
Thứ nhất, nhìn trên phương diện hệ thống các văn bản QPPL do Nhà nước
ban hành, nội dung GDPL cho HS THPT bao gồm các bộ luật, luật, pháp lệnh, nghị
định, các loại văn bản QPPL khác, đang có giá trị và hiệu lực thực thi, như Hiến
pháp, Bộ luật dân sự, Bộ luật lao động, Luật đất đai, Luật hôn nhân và gia đình,
Luật phòng, chống bạo lực gia đình, Luật bình đẳng giới, Luật khiếu nại, Luật giáo
dục, ...

14


Thứ hai, nhìn trên phương diện các văn bản QPPL dưới luật do các cấp, các
ngành giáo dục ban hành, nội dung GDPL cho HS THPT bao gồm: Các quy định
pháp luật về cán bộ, công chức; các quy định pháp luật về thực hành tiết kiệm,
chống lãng phí; các quy định pháp luật về hội nhập quốc tế; các quy định pháp luật
về thực hiện quy chế dân chủ; các quy chế về đào tạo, rèn luyện học sinh, sinh viên;
các bộ luật, luật liên quan tới giáo dục ý thức chấp hành pháp luật của giáo viên,
học sinh..
(iii) Quy định về hình thức giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổ
thông (Điều 24, Luật phổ biến, giáo dục pháp luật (2012)).
GDPL cho HS THPT thông qua một số hình thức sau:
Hình thức thuyết phục kết hợp rèn luyện thực hành: Là những phương pháp
tác động vào lý trí tình cảm của HS để xây dựng những niềm tin pháp luật, gồm các
nội dung sau: Giảng giải về pháp luật: được tiến hành trong giờ dạy môn chuyên
cũng như trong các giờ học môn khác, giờ sinh hoạt lớp. Đồng thời nêu gương

mang, và kinh nghiệm hoạt động được phát huy tính tích cực xã hội được phát huy
tạo động lực thu hút HS tham gia các hoạt động xã hội phong phú và đa dạng. Các
hoạt động xã hội thường được tổ chức dưới các hình thức như các hoạt động tình
nguyện, tuổi trẻ xung kích vì cộng đồng, thông qua các hoạt động của Đoàn Thanh
niên…
Thông qua giáo dục của gia đình: Qua môi trường giáo dục gia đình, HS
được học hỏi tiếp thu những kiến thức, những chuẩn mực về đạo đức, hành vi ứng
xử đúng đắn, về những vấn đề có liên quan đến phòng, chống tệ nạn xã hội, yêu cầu
đối với hình thức giáo dục này là những người lớn trong gia đình phải thực sự
gương mẫu, mẫu mực sống, có văn hóa, có trách nhiệm, biết quan tâm sẻ chia với
nhau những kiến thức kinh nghiệm về phòng chống tệ nạn xã hội
Thông qua hình thức tự giáo dục của HS: Cũng như các hoạt động giáo dục
khác, việc GDPL cho HS sẽ phát huy hiệu quả khi và chỉ khi bản thân sinh viên ý
thức được những tác hại và hậu quả mà tệ nạn xã hội gây ra cho mọi người, gia đình
và toàn xã hội. Từ đó có ý thức chủ động tích cực học tập rèn luyện tu dưỡng bản
thân để phòng chống các tệ nạn xã hội.

16


Thông qua tổ chức nói chuyện, kể chuyện, thi tìm hiểu về truyền thống để bồi
dưỡng niềm tin, ý thức pháp luật cho HS. Thông qua các hoạt động này để nâng cao
nhận thức tư tưởng, tình cảm, cổ vũ, động viên, khích lệ tinh thần của pháp luật
trong giữ gìn, phát huy GDPL của nhà trường. Nói chuyện, kể chuyện, thi tìm hiểu
về pháp luật thường được tổ chức nhân những sự kiện chính trị của dân tộc, của
Đảng. Khi tổ chức phải có lãnh đạo, chỉ huy, tổ chức chặt chẽ, nghiêm túc, chu đáo
từ việc xác định nội dung, đến hình thức, cách tổ chức cụ thể và khi tổ chức nói
chuyện, kể chuyện về pháp luật.
Bên cạnh đó, để thực hiện được GDPL cho HS cần tổ chức các hình thức
như:

- Phương pháp tập thói quen: Đây là phương pháp tổ chức cho sinh viên thực
hiện đều đặn và có kế hoạch hành động đúng đắn nhất định, nhằm biến những hành
động thành thói quen ứng xử và thành kỹ năng, kỹ xảo.
- Phương pháp tạo tình huống giáo dục: Là phương pháp tổ chức cho HS được
thể hiện thái độ nhận thức của mình về những vấn đề nảy sinh trong thực tế cuộc
sống, qua đó nhằm hình thành, củng cố những hành vi, thực hiện những kỹ năng
chính xác, đúng đắn để giải quyết vấn đề.
- Phương pháp tạo dư luận xã hội: là một hình thức biểu thị trạng thái ý kiến của
xã hội khi một hiện tượng xã hội xuất hiện, một số người nắm bắt được, họ truyền
đi cho những người khác cùng trao đổi, bàn bạc, tranh luận, xem xét, lên án hiện
tượng đó và tạo ra dư luận tốt hoặc xấu về hiện tượng đó để mọi người biết và có
những hành vi ứng xử phù hợp.
(v). Quy định về các điều kiện đảm bảo giáo dục pháp luật cho học sinh
trung học phổ thông (Điều 38 và Điều 39, Luật phổ biến, giáo dục pháp luật
(2012)).
Để thực hiện GDPL cho HS cần thiết có những điều kiện như :
Về mặt nhân lực : Sư phối hợp, huy động giữa các lực lượng giáo dục.

18


Để đạt hiệu quả cao trong công tác GDPL cho HS cần phải phối hợp với các
lực lượng trong nhà trường (Ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn,
các tổ chức đoàn thể). Phối hợp với các lực lượng xã hội (các ban, ngành, chính
quyền địa phương và các tổ chức xã hội). Phối hợp với gia đình các em HS.
Trong GDPL cho HS, đội ngũ hỗ trợ GDPL cho HS như cán bộ QL, GV, Đoàn
thanh niên... là những người trực tiếp biến mục tiêu GDPL cho HS thành hiện thực.
Họ là nhân tố quyết định chất lượng GDPL cho HS. Vì vậy, điều kiện tiên quyết để
thực hiện được các mục tiêu GDPL cho HS là các giáo viên làm nhiệm vụ GDPL
cho HS phải được trang bị đầy đủ các kiến thức và kiến thức về pháp luật để có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status