BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
.........../...........
.........../...........
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRƯƠNG QUANG TRUNG
CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ TUYÊN TRUYỀN PHỔ BIẾN GIÁO DỤC
PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI THANH THIẾU NIÊN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành : Quản lý công
Mã số
: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ DIỆU OANH
THỪA THIÊN HUẾ - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Cao học Hành chính công “Công tác quản
nghiệp và các học viên cao học - Học viện Hành chính và quý bạn đọc để
Luận văn được hoàn thiện và hữu ích hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Trương Quang Trung
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu
Mục đích cuối cùng của phổ biến, giáo dục pháp luật là nhằm hình thành ở mỗi
thành viên xã hội ý thức pháp luật bền vững..........................................................31
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CĐTS
: Chiếm đoạt tài sản
GTĐB
: Giao thông đường bộ
HĐND
TTĐT-ATGT
: Trật tự đô thị – An toàn giao thông
UBND
: Ủy ban nhân dân
UBMTTQVN
: Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam
DANH MỤC CÁC BẢNG
Mục đích cuối cùng của phổ biến, giáo dục pháp luật là nhằm hình thành ở mỗi
thành viên xã hội ý thức pháp luật bền vững..........................................................31
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Trong bất cứ thời kỳ nào, thanh niên luôn có vai trò đặc biệt quan trọng
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh số đông thanh thiếu
niên sống có lý tưởng, có ước mơ, hoài bão tốt đẹp, ít nhất là cho bản thân họ,
sau nữa là bổn phận với gia đình, xã hội, thì cũng có một bộ phận lớp trẻ đua
đòi, thiếu bản lĩnh, ham hưởng thụ, trở thành nỗi bức xúc của xã hội. Trong
âm mưu thâm độc “Diễn biến hòa bình” của bọn phản động, thanh thiếu niên
còn là đối tượng để các thế lực thù địch với nhân dân ta lôi kéo, kích động các
Thừa Thiên Huế, Đảng bộ và chính quyền thành phố Huế đã huy động toàn
bộ sức mạnh hệ thống chính trị vào cuộc để triển khai và thực hiện tốt các luật
của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, các đề án của Thủ tướng về tuyên
truyền giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên. Qua quá trình triển khai đảm
bảo, bước đầu đã thu được những kết quả nhất định; các cơ quan chuyên môn,
các phòng, ban và các đoàn thể chính trị - xã hội đã tích cực, chủ động triển
khai một cách đồng bộ từ thành phố đến cơ sở từ đó đã góp phần giáo dục ý
thức chấp hành pháp luật cho thanh thiếu niên. Trong đó, đáng chú ý là việc
triển khai thực hiện đề án tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh, thiếu niên giai đoạn 2011 - 2015.
Ðây là đề án quan trọng đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định
số 2160/QÐ-TTg phê duyệt vào ngày 26/11/2010.
Vụ trưởng Phổ biến, Giáo dục pháp luật (Bộ Tư pháp) Nguyễn Duy
Lãm cho biết: “Ðề án phấn đấu 80% số thanh, thiếu niên tự do, sinh sống,
lao động tại địa bàn cư trú được tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật
trong các lĩnh vực liên quan đến quyền, nghĩa vụ và đời sống, công việc của
từng đối tượng, từng địa bàn; 100% số thanh, thiếu niên trong trường học
được phổ biến chính sách, pháp luật trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp
đến đời sống, công việc, học tập phù hợp với lứa tuổi của các em; 80% số
thanh, thiếu niên vi phạm pháp luật được tuyên truyền, phổ biến chính sách,
pháp luật nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật, hạn chế tái vi phạm pháp luật
3
và tạo điều kiện hòa nhập tốt với cộng đồng..” Ðây là những con số, mục tiêu
mà nếu đạt được một cách thực chất thì tình hình vi phạm pháp luật trong thanh,
thiếu niên sẽ được cải thiện rõ nét.
Tuy nhiên, để có thể đạt được những kết quả như mong muốn, công tác
giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho thanh, thiếu niên cần nhận
tác tuyên truyền trong giai đoạn hiện nay.
Luận án tiến sĩ của Dương Thanh Mai (1996), Công tác tuyên truyền
giáo dục pháp luật ở nước ta - Thực trạng và giải pháp. Tác giả đã đi sâu
phân tích công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật ở nước ta; đặc biệt là trong
điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện
nay, công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật giữ vị trí quan trọng trong đời
sống xã hội đây là khâu đầu tiên rất quan trọng trong hoạt động thực thi pháp
luật, là cầu nối giữa hoạt động xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật. Tác
giả đã đưa ra những mặt hạn chế trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật,
đặc biệt là trong việc xác định và phân công trách nhiệm của các bộ, ngành,
địa phương, chưa có các quy định rõ ràng về trách nhiệm của các cơ quan,
ban ngành trong việc phổ biến, tuyên truyền các đạo luật hoặc văn bản pháp
luật cụ thể dẫn đến cơ chế phối hợp và chịu trách nhiệm của các cơ quan, tổ
chức trong công tác này còn nhiều bất cập, đôi khi có sự chồng chéo hoặc
ngược lại tồn tại những “khoảng trống” trong công tác tuyên truyền phổ biến
pháp luật mà chưa có biện pháp hiệu quả để khắc phục. Từ đó, tác giả đã đưa
ra một số giải pháp nhằm làm tốt công tác giáo dục pháp luật ở nước ta.
Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Ba đã nghiên cứu “Nâng cao
chất lượng tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho công nhân tại các doanh
nghiệp ở Tỉnh Đồng Tháp giai đoạn hiện nay (2012)”. Tác giả đã đánh giá
thực trạng về chất lượng tuyên tuyền pháp luật cho công nhân tại các doanh
nghiệp ở Tỉnh Đồng Tháp; phân tích nguyên nhân của những ưu điểm, nhược
điểm và nhận thức những yêu cầu đặt ra trong các vấn đề nêu trên, đưa ra một
số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho
công nhân tại các doanh nghiệp cho phù hợp với quy định của pháp luật hiện
5
nay ở nước ta.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với công tác tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên, đề tài đánh giá thực trạng
công tác quản lý nhà nước đối với công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục
pháp luật cho thanh thiếu niên trên địa bàn thành phố Huế để từ đó có cơ sở
đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với
công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên trên
địa bàn thành phố Huế
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
+ Phân tích cơ sở lý luận về QLNN đối với công tác tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên trên cơ sở hệ thống hóa quan
điểm chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng và quy định
của Nhà nước ta.
+ Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với công tác tuyên truyền,
phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên của thành phố Huế trong
những năm gần đây qua đó rút ra những hạn chế cần khắc phục và tìm ra
những nguyên nhân hạn chế đó
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
đối với công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu
niên của thành phố Huế trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quản lý nhà nước đối với công tác
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên trên địa bàn
thành phố Huế.
7
8
cứu liên quan đến đề tài (mục 2, phần mở đầu) và được tác giả sử dụng để
thực hiện Chương 1 của luận văn. Phương pháp này cung cấp cơ sở lý luận,
những luận cứ cho việc đánh giá công tác quản lý nhà nước về tuyên truyền
phổ biến giáo dục pháp luật đối với thanh thiếu niên và cơ sở đề ra giải pháp
cho việc quản lý nhà nước về tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật đối
với thanh thiếu niên trên địa bàn Thành phố Huế.
+ Phương pháp chuyên gia: Tác giả đã trao đổi với đồng chí Phó chủ
tịch Ủy ban nhân dân thành phố Huế và đồng chí Trưởng phòng Tư pháp
thành phố Huế về công tác phổ biến giáo dục pháp luật trên địa bàn Thành
phố Huế.
+ Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Thông qua lĩnh vực công tác trực
tiếp của mình, tác giả đã trực tiếp trao đổi với các đồng chí Bí thư Đoàn thanh
niên cộng sản Hồ Chí Minh cấp cơ sở về nội dung, những thuận lợi và khó
khăn trong việc tổ chức phổ biến giáo dục pháp luật cho thanh thiếu niên.
+ Phương pháp kiểm tra, khảo sát: Thông qua chương trình công tác
hàng năm, tác giả đã xây dựng chương trình công tác để định kỳ cuối năm
tiến hành kiểm tra, khảo sát để đánh giá việc tổ chức triển khai phổ biến giáo
dục pháp luật cho thanh thiếu niên trên địa bàn thành phố.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Góp phần vào hệ thống hoá cơ sở lý luận về QLNN đối với công tác
tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong thanh thiếu niên trên địa bàn
thành phố Huế; hệ thống hoá và xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng
tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong thanh thiếu niên; làm rõ
những đặc điểm của thanh thiếu niên và điều kiện khách quan của việc tuyên
truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong thanh thiếu niên trên địa bàn thành
phố Huế trong thời kỳ mới.
- Qua phân tích, so sánh, đánh giá thực trạng, rút ra những mặt mạnh;
những hạn chế và nguyên nhân của thực trạng. Từ đó, làm tiền đề để tuyên
- Theo nghĩa hẹp: Phổ biến, giáo dục pháp luật là giới thiệu tinh thần
văn bản pháp luật cho người có nhu cầu; theo đó phổ biến, giáo dục pháp luật
là việc truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm,
niềm tin pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật,
nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng.
- Theo nghĩa rộng: Phổ biến, giáo dục pháp luật là một khâu của hoạt
động tổ chức thực hiện pháp luật, là hoạt động định hướng có tổ chức, có chủ
định thông qua các hình thức giáo dục, thuyết phục, nêu gương... nhằm mục
đích hình thành ở đối tượng tri thức pháp lý, tình cảm và hành vi xử sự phù
hợp với các đòi hỏi của hệ thống pháp luật hiện hành với các hình thức,
phương tiện, phương pháp đặc thù.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là quá trình hoạt động thường xuyên, liên
tục và lâu dài của chủ thể tuyên truyền lên đối tượng, là cầu nối để chuyển tải
pháp luật vào cuộc sống. Trong công tác quản lý nhà nước, phổ biến, giáo dục
pháp luật được hiểu theo nghĩa rộng và được xác định là một công việc trọng
tâm và thường xuyên của các cơ quan nhà nước, các cấp, các ngành. (TL
PBGD PL 2012).
11
b. Mục đích của việc phổ biến, giáo dục pháp luật.
Một là, nâng cao hiểu biết pháp luật cho đối tượng. Pháp luật của Nhà
nước không phải khi nào cũng được mọi người trong xã hội biết đến, tìm
hiểu, đồng tình ủng hộ và thực hiện nghiêm chỉnh. Tuy rằng bản chất pháp
luật của Nhà nước ta là rất tốt đẹp, nó phản ánh ý chí, nguyện vọng, mong
muốn của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội. Những quy định pháp
luật đó dù tốt đẹp bao nhiêu chăng nữa mà không được nhân dân biết đến thì
vẫn là lý thuyết.
Pháp luật của Nhà nước có thể được một số người tìm hiểu, quan tâm
nguyện vọng, mong muốn của tất cả mọi người trong xã hội. Quá trình điều
chỉnh pháp luật sẽ lấy lợi ích của đông đảo nhân dân trong xã hội làm tiêu chí,
thước đo, do đó sẽ có một số ít không thoả mãn được. Chính các yếu tố hạn
chế và mặt trái của các quy định pháp luật càng tạo nên sự cần thiết của công
tác phổ biến, giáo dục pháp luật để mọi người hiểu đúng pháp luật, đồng tình
ủng hộ pháp luật. Có như vậy mới hình thành lòng tin vào pháp luật của đông
đảo nhân dân trong xã hội.
Ba là, nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của đối tượng.
Ý thức pháp luật của người dân được hình thành từ hai yếu tố đó là tri
thức pháp luật và tình cảm pháp luật.
Tri thức pháp luật là sự hiểu biết pháp luật của các chủ thể có được qua
việc học tập, tìm hiểu pháp luật, qua quá trình tích lũy kiến thức của hoạt
động thực tiễn và công tác.
Tình cảm pháp luật chính là trạng thái tâm lý của các chủ thể khi thực
hiện và áp dụng pháp luật, họ có thể đồng tình ủng hộ với những hành vi thực
hiện đúng pháp luật, lên án các hành vi vi phạm pháp luật.
Ý thức tự giác chấp hành pháp luật của nhân dân chỉ có thể được nâng
cao khi công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân được tiến hành
thường xuyên, kịp thời và có tính thuyết phục. Phổ biến, giáo dục pháp luật
không đơn thuần là tuyên truyền các văn bản pháp luật đang có hiệu lực mà
còn lên án các hành vi vi phạm pháp luật, đồng tình ủng hộ các hành vi thực
13
hiện đúng pháp luật, hình thành dư luận và tâm lý đồng tình ủng hộ với hành
vi hợp pháp, lên án các hành vi phi pháp.
Phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm hình thành, củng cố tình cảm tốt đẹp
của con người với pháp luật, đồng thời ngày càng nâng cao sự hiểu biết của
con người đối với các văn bản pháp luật và các hiện tượng pháp luật trong đời
phải hiểu biết, quán triệt đầy đủ đường lối chính sách của Đảng đối với từng
thời kỳ, từng vấn đề và đường lối chung xây dựng kinh tế, văn hoá, xã hội.
Đường lối chính sách của Đảng cũng như pháp luật là những hiện tượng
thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội, phản ánh cơ sở kinh tế, do đó nó cũng thường xuyên được sửa đổi, bổ sung và có quá trình vận động như các hiện
tượng khác. Chính vì thế, phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền đường
lối chính sách của Đảng phải luôn bắt nhịp được với những thay đổi trong đời
sống chính trị - pháp luật của đất nước.
Hai là, bảo đảm tính khoa học, tính chuẩn xác, truyền đạt trung thành
văn bản.
Phổ biến, giáo dục pháp luật không giống với việc tuyên truyền phổ
biến về văn hoá văn nghệ. Khi tuyên truyền, phổ biến về văn hoá văn nghệ,
người ta có thể nhân cách hoá, hư cấu thành những hình tượng nghệ thuật để
phục vụ cho mục đích của họ.
Phổ biến, giáo dục pháp luật khác với các loại hình phổ biến giáo dục
khác ở chổ nội dung được phổ biến, giáo dục là pháp luật, là những quy tắc
xử sự được Nhà nước ban hành, có cấu trúc chặt chẽ từ câu chữ tới nội dung
và yêu cầu của các quy định đó. Do đó, phổ biến, giáo dục pháp luật phải tuân
thủ các nguyên tắc nhất định, bảo đảm tính khoa học, tính chuẩn xác, truyền
đạt trung thành văn bản.
Phổ biến, giáo dục pháp luật không chỉ thông tin cho người nghe về
pháp luật, truyền đạt cho họ biết được các văn bản pháp luật và những điều
luật mới được ban hành mà còn phải giải thích về các văn bản pháp luật và
các điều luật đó. Một trong những yêu cầu đã trở thành nguyên tắc trong giải
thích pháp luật là phải bảo đảm tính khoa học. Tính khoa học trong giải thích
15
pháp luật trước hết đòi hỏi có trình độ pháp lý, chẳng hạn hiểu rõ thành phần
của quy phạm pháp luật để hiểu được quy phạm, hiểu nội dung quan hệ pháp
luật. Bảo đảm tính hệ thống tức là đặt văn bản vào vị trí của nó trong hệ thống
pháp luật, trong ngành luật hoặc lĩnh vực pháp luật có liên quan tới văn bản.
Điều đó giúp cho đối tượng hiểu vấn đề sâu sắc hơn. Bảo đảm tính liên tục nghĩa
là theo phương châm: mưa dầm thấm lâu; việc phổ biến, giáo dục pháp luật phải
được tiến hành liên tục, có hệ thống, tránh hình thức, làm theo phong trào.
Gắn việc phổ biến, giáo dục pháp luật với việc thực hiện nhiệm vụ
chính trị trong địa bàn. Điều đó, một mặt phát huy tác dụng của phổ biến, giáo
dục pháp luật, mặt khác làm tăng hiệu quả của phổ biến, giáo dục pháp luật.
Tóm lại, trong rất nhiều hình thức như vậy khi tiến hành phổ biến, giáo
dục pháp luật cần chọn một hình thức phù hợp cho đối tượng được phổ biến
hoặc kết hợp đan xen các loại hình thức.
d. Yêu cầu đối với người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.
Một là, có kiến thức pháp lý nhất định: bởi vì hoạt động tuyên truyền
giáo dục pháp luật là khâu đầu tiên của hoạt động thực thi pháp luật, là cầu
nối để chuyển tải pháp luật vào cuộc sống, quá trình đưa pháp luật vào
cuộc sống được bắt đầu bằng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, bởi vì
thực hiện pháp luật dù bằng hình thức nào tuân theo pháp luật, thi hành
(chấp hành) pháp luật, sử dụng (vận dụng) pháp luật hay áp dụng pháp luật
trước hết đều phải có hiểu biết pháp luật. Nếu không nhận thức đầy đủ vị
trí quan trọng và không thực hiện tốt công tác giáo dục pháp luật thì dù
công tác giáo dục pháp luật tốt đến mấy cũng không đạt hiệu quả thực thi
pháp luật.
Hai là, có nhiệt tình, tâm huyết, tận tụy với công tác phổ biến, giáo dục
pháp luật.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là một hoạt động mang tính chất xã hội,
đối tượng phục vụ của phổ biến, giáo dục pháp luật là quản đại quần chúng
nhân dân, do đó một trong các yêu cầu đầu tiên và hết sức quan trọng của
17
18
giáo dục pháp luật là ai, họ cần gì, công việc của họ ra sao, họ đang cần lĩnh
vực pháp luật nào và mình phải quan hệ công tác với họ như thế nào?
Phổ biến, giáo dục pháp luật là một hoạt động mang tính chất hai chiều,
không đơn thuần là sự truyền đạt thông tin và giải thích pháp luật của người
làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật có mà sự phản hồi của đối tượng
được tuyên truyền.
Họ có lắng nghe thông tin về pháp luật không ? Đồng thời, họ có thể
đặt câu hỏi hay thể hiện chính kiến về việc giải thích pháp luật đúng hay
không đúng của người đi giải thích không ? Sự cọ sát hai chiều về cùng vấn
đề được trao đổi sẽ làm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đạt chất
lượng và hiệu quả cao.
Chính các yếu tố được nêu và phân tích trên đòi hỏi người làm công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật phải có khả năng hòa đồng và giao tiếp.
Năm là, biết tích luỹ tư liệu, kiến thức.
Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật vừa mang tính thời sự vừa
mang tính lâu dài. Chỉ có thể tham gia vào hoạt động phổ biến, giáo dục pháp
luật khi có đủ kiến thức, trình độ, kinh nghiệm về công tác pháp luật. Để đạt
được các điều kiện đó thì người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần
phải tích luỹ tư liệu, kiến thức; bao gồm kiến thức pháp lý, pháp luật hiện
hành, đường lối chính sách của Đảng, kiến thức chuyên ngành, kiến thức xã
hội, kinh nghiệm thực tiễn ở Việt Nam và nước ngoài.
Sáu là, có kiến thức nhất định về tâm lý học tuyên truyền.
Hiểu được tâm lý học tuyên truyền chính là hiểu được các quy luật tâm
lý phát sinh, vận động trong quá trình tiếp nhận thông tin pháp luật của các
loại đối tượng được thể hiện trong tất cả các giai đoạn tiến hành phổ biến,
giáo dục pháp luật đối với các đối tượng. Trong quá trình phổ biến, giáo dục
pháp luật còn phải nắm bắt sự phản ứng, sự tiếp nhận của họ như thế nào về
nội dung được tuyên truyền.
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cũng cần phải lưu ý kết hợp giải thích có
ngọn ngành cho nhân dân để họ vừa tôn trọng pháp luật, vừa hiểu biết thêm