BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐỖ TUẤN HANH
TỔ CHỨC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
ĐỐI VỚI THANH NIÊN TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - NĂM 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐỖ TUẤN HANH
TỔ CHỨC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT
ĐỐI VỚI THANH NIÊN TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
các cơ quan, đơn vị và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong
quá trình nghiên cứu, thực hiện luận văn.
Em trân trọng cảm ơn những góp ý của các thầy, cô trong Hội đồng
đánh giá luận văn và em xin tiếp thu đầy đủ các nội dung góp ý vào công trình
nghiên cứu.
Hà Nội, tháng 12 năm 2019
Học viên
Đỗ Tuấn Hanh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT ĐỐI VỚI THANH NIÊN TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP ............... 9
1.1. Thanh niên tại các khu công nghiệp ........................................................ 9
1.2. Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên tại các khu
công nghiệp .................................................................................................. 16
1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đối
với thanh niên tại các khu công nghiệp ........................................................ 25
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1.................................................................................. 32
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP
LUẬT ĐỐI VỚI THANH NIÊN TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP ............. 34
2.1. Thực trạng thanh niên tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh
Phúc .............................................................................................................. 34
2.2. Thực trạng tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh niên tại
các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2014 đến nay ..... 39
2.3. Đánh giá chung về thực trạng tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đối
với thanh niên tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc từ năm
2014 đến nay ................................................................................................ 57
Nhà xuất bản
PBGDPL:
Phổ biến, giáo dục pháp luật
TNCS:
Thanh niên Cộng sản
UBND:
Ủy ban Nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước dẫn đến
việc hình thành các KCN trong cả nước. Các KCN được hình thành đã thu hút
lượng lớn lao động tới làm việc từ nhiều địa bàn khác nhau, trong đó phần lớn
lao động tại các KCN là thanh niên. Thanh niên Việt Nam nói chung và thanh
niên tại các KCN nói riêng là đối tượng dễ tiếp thu cái mới, nhanh nhạy trong
cập nhật thông tin, xu hướng mới. Trong giai đoạn bùng nổ thông tin hiện
nay, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, đã tạo điều kiện
thuận lợi cho thanh niên tiếp cận nhanh hơn các thông tin về tình hình chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và rất nhiều các nội dung khác, bao gồm cả những
thông tin tích cực và tiêu cực. Tuy nhiên, một bộ phận thanh niên, trong đó có
thanh niên tại các KCN, thiếu hiểu biết về pháp luật nên không phân biệt
được những thông tin xấu, độc dẫn đến việc dễ dàng bị kích động tham gia
vào những vụ việc gây rối và vi phạm pháp luật; bên cạnh đó, phần lớn người
trong tổ chức PBGDPL cho người lao động tại các KCN có hiệu quả chưa
cao; một số hình thức tổ chức PBGDPL đối với thanh niên tại các KCN chưa
phù hợp; lực lượng cán bộ, công chức làm công tác PBGDPL còn hạn chế,
chưa có cán bộ chuyên trách làm công tác PBGDPL đối với thanh niên tại các
KCN, v.v. Do vậy, trước yêu cầu phát triển mạnh mẽ của tỉnh Vĩnh Phúc
trong thời gian tới, hướng tới mục tiêu xây dựng Vĩnh Phúc trở thành thành
phố trực thuộc Trung ương vào những năm 20 của thế kỷ XXI như Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 – 2020 đã
đề ra thì công tác PBGDPL cho các tầng lớp nhân dân phải được triển khai
đồng bộ, hiệu quả; đặc biệt cần đẩy mạnh tổ chức PBGDPL đối với thanh
niên tại các KCN khi công nghiệp tiếp tục khẳng định là nền tảng của nền
2
kinh tế, tạo ra sự đột phá trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc.
Để nghiên cứu làm rõ thêm cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất một số
giải pháp hoàn thiện tổ chức PBGDPL đối với thanh niên tại các KCN, việc
nghiên cứu đề tài “Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đối với thanh
niên tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” là yêu cầu tất
yếu khách quan, cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài “Tổ chức phổ biến,
giáo dục pháp luật đối với thanh niên tại các khu công nghiệp trên địa bàn
tỉnh Vĩnh Phúc” cho thấy các nhà khoa học, học giả tiếp cận theo nhiều cách,
với những cấp độ khác nhau. Cụ thể như:
Về các sách chuyên khảo:
Cuốn sách “Bàn về giáo dục pháp luật” của tác giả Trần Ngọc Đường
và Dương Thị Thanh Mai, Nxb. Chính trị quốc gia, 1995, đã tập trung nghiên
cứu khái quát những vấn đề lý luận cơ bản nhất về giáo dục pháp luật như
quan niệm về giáo dục pháp luật; chủ thể, đối tượng giáo dục pháp luật; mục
Đoàn Thanh niên trong công cuộc hội nhập quốc tế [29].
Cuốn sách “Tổng quan về chính sách, pháp luật đối với thanh niên” của
Ủy ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam và Bộ Tư pháp, Nxb. Thanh niên,
2011, đã đánh giá khá toàn diện về thực thi chính sách, pháp luật đối với
thanh niên trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; dạy nghề và việc làm; vui chơi,
giải trí và thể dục thể thao; chăm sóc sức khỏe, hôn nhân và gia đình, v.v;
phân tích chỉ rõ những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân của những khó
khăn, hạn chế của chính sách, pháp luật đối với thanh niên; đề xuất phương
hướng, giải pháp và kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật đối với thanh
niên [42].
Cuốn sách “Tổng quan tình hình thanh niên, công tác Đoàn và phong
4
trào thanh thiếu nhi” của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh
niên, 2012, đã phân tích tổng quan về công tác Đoàn và các phong trào hoạt
động của đoàn viên, thanh niên qua nhiều năm; đánh giá, phân tích về kết quả
đạt được, những hạn chế của hoạt động phong trào thanh niên trong từng đối
tượng như: Thanh niên nông thôn, thanh niên đô thị, thanh niên công nhân,
thanh niên trường học, thanh niên công chức - viên chức, thanh niên lực
lượng vũ trang, v.v; dự báo khả năng và nhu cầu của từng đối tượng thanh
niên trong thời gian tới; đề xuất giải pháp phát triển phong trào thanh niên và
hoạt động của Đoàn Thanh niên [38].
Về đề tài nghiên cứu liên quan đến PBGDPL, có một số luận văn thạc
sĩ đã đề cập như: Luận văn Thạc sĩ Quản lý hành chính công “Công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật đối với đoàn viên thanh niên ở huyện Văn Lâm, tỉnh
Hưng Yên” của Tôn Ngọc Chuẩn (2011); Luận văn Thạc sĩ Quản lý công
“Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ công chức cấp
huyện là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk” của Trần Tuấn Anh (2015);
Luận văn Thạc sĩ Quản lý công “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự,
Thứ nhất, luận văn xây dựng cơ sở lý luận về tổ chức PBGDPL đối với
thanh niên tại các KCN thông qua việc phân tích làm rõ một số khái niệm cơ
bản như: Thanh niên tại các KCN, PBGDPL, tổ chức PBGDPL đối với thanh
niên tại các KCN; xác định chủ thể, nội dung, hình thức tổ chức PBGDPL đối
với thanh niên tại các KCN; đồng thời phân tích làm rõ các yếu tố ảnh hưởng
đến tổ chức PBGDPL đối với thanh niên tại các KCN.
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức PBGDPL đối với thanh
niên tại các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc mà các chủ thể có trách nhiệm
tổ chức PBGDPL đã và đang triển khai thực hiện; trên cơ sở đó, đánh giá
khách quan, khoa học về những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên
nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan của những hạn chế của hoạt động tổ
6
chức PBGDPL đối với thanh niên tại các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Thứ ba, nghiên cứu về các quan điểm và đề xuất các giải pháp cơ bản,
bảo đảm cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện tổ chức PBGDPL đối với thanh
niên tại các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động tổ chức PBGDPL đối
với thanh niên tại các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu tại các KCN trên địa bàn
tỉnh Vĩnh Phúc.
Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng tổ chức
PBGDPL đối với thanh niên tại các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc từ năm
2014 đến nay.
Phạm vi về nội dung: Thanh niên tại các KCN trên địa bàn tỉnh Vĩnh
Phúc gồm nhiều đối tượng, cụ thể như: thanh niên là chủ doanh nghiệp, thanh
Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đối
với thanh niên tại các khu công nghiệp.
Chương 2: Thực trạng tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật đối với
thanh niên tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện tổ chức phổ biến, giáo
dục pháp luật đối với thanh niên tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc.
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC PHỔ BIẾN,
GIÁO DỤC PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI THANH NIÊN
TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.1. Thanh niên tại các khu công nghiệp
1.1.1. Khái niệm Thanh niên tại các khu công nghiệp
Thanh niên là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong mọi mặt của đời
sống hằng ngày cũng như trong các lĩnh vực khoa học. Có nhiều quan niệm
khác nhau về thanh niên.
Theo Từ điển Tiếng Việt, thanh niên là “người còn trẻ, đang ở độ tuổi
trưởng thành” [43, tr. 913].
Dưới góc độ sinh học, các nhà nghiên cứu coi thanh niên là một giai
đoạn trong quá trình phát triển cơ thể vì trong giai đoạn này thể lực, trí tuệ,
sinh lý của con người có sự thay đổi rõ rệt. Thanh niên là độ tuổi sung sức
nhất về thể chất.
Từ góc độ tâm lý học, thanh niên là giai đoạn chuyển từ ý thức, tư duy
theo khuynh hướng lệ thuộc vào gia đình, nhà trường và xã hội sang giai đoạn
tự ý thức, nhận thức được về thái độ, hành vi, tư tưởng.
Thanh niên dưới góc độ kinh tế học là nguồn nhân lực không thể thiếu
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh
tế chung của cả nước.
Nghiên cứu về KCN cho thấy, KCN do Chính phủ hoặc Thủ tướng
Chính phủ thành lập. Các KCN có ranh giới địa lý độc lập với khu dân cư và
không có cư dân sinh sống. Các loại hình doanh nghiệp tại KCN gồm doanh
nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ.
Doanh nghiệp sản xuất KCN là doanh nghiệp sản xuất hàng công
10
nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN. Doanh nghiệp sản xuất KCN
bao gồm cả doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch
vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, gọi là doanh
nghiệp chế xuất.
Doanh nghiệp dịch vụ KCN là doanh nghiệp được thành lập và hoạt
động trong KCN, thực hiện dịch vụ các công trình kết cấu hạ tầng KCN, dịch
vụ sản xuất công nghiệp.
Như vậy, KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất
hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được Chính
phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục
quy định; trong KCN sẽ bao gồm doanh nghiệp sản xuất KCN, doanh nghiệp
dịch vụ KCN.
Từ các khái niệm thanh niên, KCN như phân tích ở trên, thanh niên tại
các KCN được hiểu là những người từ đủ 16 đến 30 tuổi, làm việc tại các
doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp, doanh nghiệp thực hiện dịch
vụ cho sản xuất công nghiệp trong khu vực có ranh giới địa lý xác định do
Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
1.1.2. Đặc điểm thanh niên tại các khu công nghiệp
Tính đến tháng 12/2018, cả nước có 326 KCN được thành lập với tổng
diện tích đất tự nhiên đạt gần 93.000 ha. Có 250 KCN đã đi vào hoạt động với
quen xấu cần phải được chấn chỉnh.
Thứ năm, sự biến động lao động (vào-ra) của các doanh nghiệp trong
các KCN là rất lớn, chủ yếu do lao động tự ý bỏ việc, chuyển từ doanh nghiệp
này sang doanh nghiệp khác. Biến động lao động xảy ra chủ yếu sau các dịp
tết. Thu nhập thấp; ý thức nghề nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật kém nên thanh
niên tại các KCN thường nghỉ tết nhiều hơn số ngày quy định nhưng lại dễ
dàng tìm một công việc mới tại doanh nghiệp khác vì doanh nghiệp thường có
12
nhu cầu tuyển dụng lao động lớn sau dịp tết. Tình trạng này làm cho doanh
nghiệp gặp nhiều khó khăn trong tổ chức sản xuất vì thiếu lao động và phải
đào tạo lao động mới tuyển dụng. Các doanh nghiệp thường có nhiều biến
động lao động là các ngành dệt-may, da-giày, lắp ráp điện tử, v.v.
Thứ sáu, việc làm, thu nhập của thanh niên tại các KCN còn thiếu ổn
định và chưa đáp ứng mức sống tối thiểu của người lao động. Thực trạng
doanh nghiệp chỉ tuyển dụng lao động ở một độ tuổi nhất định và sa thải lao
động sau một thời gian làm việc nhất định đã và đang là vấn đề nhức nhối
hiện nay tại các KCN. Hầu hết lao động tại các KCN có tuổi đời dưới
35. Tiền lương của người lao động trong các doanh nghiệp còn thấp, mức
lương tối thiểu chưa đáp ứng được mức sống tối thiểu của người lao động.
Chi tiêu thường xuyên của lao động di cư luôn ở mức cao hơn so với chi tiêu
của lao động tại địa phương do họ phải chi khá nhiều tiền cho việc thuê nhà ở,
đi lại, chăm sóc y tế, v.v, không ít người còn phải tiết kiệm tiền để gửi về quê
hỗ trợ gia đình.
Thứ bảy, nhu cầu về vui chơi giải trí của thanh niên tại các KCN là rất
lớn nhưng chưa được đáp ứng kịp thời; vấn đề hôn nhân, gia đình và chăm
sóc sức khỏe sinh sản cho thanh niên tại các KCN còn nhiều bất cập.
Đa số các doanh nghiệp chỉ chú trọng cho sản xuất, ít quan tâm đến nhu
cầu sinh hoạt, giải trí cho người lao động nên việc tổ chức các hoạt động vui
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế gắn với phát triển kinh tế tri thức theo định
hướng xã hội chủ nghĩa. Cùng với giai cấp công nhân Việt Nam, thanh niên
tại các KCN có vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước.
Điều này được thể hiện ở một số nội dung sau:
Thứ nhất, về mặt sản xuất, thanh niên tại các KCN là lực lượng quan
trọng, cùng với giai cấp công nhân Việt Nam khẳng định vai trò to lớn trong
nền kinh tế quốc dân. Mặc dù về số lượng, công nhân ở nước ta chiếm tỷ lệ
14
không lớn trong tổng số dân cư (khoảng 14%) nhưng lực lượng này lại nắm
giữ những cơ sở vật chất và các phương tiện sản xuất hiện đại nhất của xã hội,
quyết định phương hướng phát triển chủ yếu của nền kinh tế. Công nhân Việt
Nam nói chung và công nhân tại các KCN nói riêng là lực lượng lao động
đóng góp nhiều nhất vào ngân sách nhà nước hằng năm.
Thứ hai, sự phát triển của thanh niên tại các KCN đã đóng góp tích cực
cho sự lớn mạnh của giai cấp công nhân Việt Nam, là nhân tố quan trọng để
đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước. Cùng với giai cấp công nhân Việt Nam, thanh niên tại các KCN
đang trở thành lực lượng sản xuất tiên tiến, là lực lượng đi đầu trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ ba, thanh niên tại các KCN là lực lượng có nhiều sáng kiến, sáng
tạo góp phần tăng năng suất lao động, hiệu quả kinh tế trong doanh nghiệp.
Thanh niên tại các KCN đang có mặt trong tất cả các thành phần kinh tế, luôn
chủ động và sáng tạo trong tiếp cận với khoa học, công nghệ tiên tiến. Áp lực
về cạnh tranh trong sản xuất, kinh doanh đã đòi hỏi mỗi người lao động phải
năng động, sáng tạo để cùng góp sức mình vào hoạt động chung của doanh
nghiệp. Những ý tưởng, sáng kiến của người lao động ngày càng tăng về số
lượng và chất lượng, trong đó, tập trung vào việc cải tiến công nghệ, máy móc
để giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Thành quả từ quá
cưỡng chế” [43, tr. 767].
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, lịch sử phát triển của xã hội
loài người trải qua 5 hình thái kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, không phải bất kỳ
hình thái kinh tế - xã hội nào cũng có pháp luật. Xã hội cộng sản nguyên thủy
chưa có nhà nước và vì vậy cũng chưa có pháp luật, lúc này mới chỉ là những
quy tắc xử sự chung. Khi chế độ tư hữu xuất hiện và xã hội phân chia thành
giai cấp thì các tập quán thể hiện ý chí chung của mọi người không còn phù
16
hợp nữa. Trong điều kiện lịch sử mới này, bằng sự thừa nhận của nhà nước,
các tập quán đã trở thành những quy tắc xử sự chung, đó là quy phạm pháp
luật. Đúng như Ph.Ăngghen nhận xét: "Quy tắc đó, thoạt nhiên là thói quen,
sau đó trở thành pháp luật" [7, tr.378].
Như vậy, pháp luật ra đời cùng với nhà nước. Cùng với nhà nước, pháp
luật ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội. Xét về
bản chất, pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp lại vừa thể hiện
tính xã hội. Tính giai cấp của pháp luật thể hiện ở chỗ, pháp luật chỉ phát sinh,
tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp; pháp luật phản ánh ý chí nhà
nước của giai cấp thống trị; mục đích của pháp luật trước hết nhằm điều chỉnh
quan hệ giữa các tầng lớp xã hội. Tính xã hội của pháp luật thể hiện ở chỗ
pháp luật là do nhà nước, đại diện chính thức của toàn xã hội ban hành. Ở
chừng mực nào đó, pháp luật còn thể hiện ý chí và lợi ích của các giai cấp và
tầng lớp khác nhau trong xã hội. Như vậy, thuộc tính giai cấp và thuộc tính xã
hội của pháp luật có quan hệ mật thiết với nhau và gắn bó chặt chẽ với nhau
trong một thể thống nhất. Không có kiểu pháp luật nào chỉ thể hiện duy nhất
tính giai cấp; và ngược lại, cũng không có kiểu pháp luật nào chỉ thể hiện tính
xã hội.
Như vậy, có thể khái quát: Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự
chung (quy phạm pháp luật) do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý
pháp luật có thể do nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau thực hiện, khách thể là
toàn bộ công dân, những người cần được tiếp nhận thông tin theo ý chí, mong
muốn của Nhà nước.
Tuy vậy, phổ biến pháp luật có điểm khác tuyên truyền pháp luật ở chỗ
tính động viên, thuyết phục không cao như tuyên truyền. Ở những mức độ
khác nhau, phổ biến pháp luật là nhằm làm cho đối tượng cụ thể hiểu rõ các
quy định của pháp luật để thực hiện pháp luật trên thực tế.
18