BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
___________________________________________________________
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP THU HÚT ĐẦU TƯ
PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH YÊN BÁI ĐẾN NĂM 2020 TRẦN THANH CHƯƠNG HÀ NỘI – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRẦN THANH CHƯƠNG QUẢN TRỊ KINH DOANH 2011 - 2013
Tôi xin cam đoan rằng, bản Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, kiến thức khoa học, nghiên
cứu khảo sát tình hình thực tiễn với sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Kế Tuấn.
Các số liệu tổng hợp, phân tích trong Luận văn là hoàn toàn trung thực, các
luận điểm và phương hướng giải pháp đưa ra xuất phát từ kinh nghiệm, thực tiễn,
khoa học và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào trước khi được trình
bày, bảo vệ và công nhận bởi “Hội đồng đánh giá Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ
Quản trị kinh doanh”.
Tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết.
Hà Nội, tháng 10 năm 2013
Tác giả Trần Thanh Chương LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, Ban giám hiệu Viện Đại học Mở
Hà Nội; Khoa đào sau Đại học thuộc Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và giúp đỡ tôi thực hiện bản Luận văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy GS.TS Nguyễn Kế Tuấn đã
tận tình quan tâm, hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành bản Luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Ban quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Yên
1.3.3. Phát triển kết cấu hạ tầng và xây dựng hệ thống dịch vụ thuận lợi 25
1.3.4. Cơ chế quản lý một cửa 26
1.3.5. Lựa chọn mô hình KCN và lựa chọn dự án đầu tư 27
1.3.6. Môi trường đầu tư và hỗ trợ doanh nghiệp 27
1.3.7. Đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực 28
1.4. KINH NGHIỆM MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VỀ THU HÚT ĐẦU
TƯ PHÁT TRIỂN KCN 28
1.4.1. Kinh nghiệm từ tỉnh Hải Dương 28 1.4.2. Kinh nghiệm từ tỉnh Bắc Ninh 31
1.4.3. Kinh nghiệm từ tỉnh Đồng Nai 34
1.4.4. Kinh nghiệm từ tỉnh Bình Dương 37
1.4.5. Bài học chung cho tỉnh Yên Bái 40
Tiểu kết Chương 1 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH YÊN BÁI TRONG THỜI
GIAN QUA 43
2.1. TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI
CỦA TỈNH YÊN BÁI 43
2.1.1. Điều kiện tự nhiên 43
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 46
2.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC KCN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
YÊN BÁI 49
2.2.1. Quá trình hình thành và phát triển các khu, cụm công nghiệp trên địa
bàn tỉnh Yên Bái đến hết năm 2012 49
2.2.2. Khái quát về các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái 50
2.2.3. Hệ thống tổ chức và quản lý hoạt động của các khu công nghiệp 55
2.2.4. Kết quả hoạt động của các KCN tỉnh Yên Bái trong thời gian qua 60
2.3. THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CÁC KCN
3.2.9. Tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát 103
3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 104
3.3.1. Đối với Nhà nước 104
3.3.2. Đối với tỉnh Yên Bái 104
KẾT LUẬN 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BOT Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
CCN Cụm công nghiệp
CN Công nghiệp
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, Hiện đại hoá
CN-XD Công nghiệp và xây dựng
DN Doanh nghiệp
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GCNĐT Giấy chứng nhận đầu tư
GCNĐTĐC Giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh
HĐH Hiện đại hóa
HĐND Hội đồng nhân dân
KCHT Kết cấu hạ tầng
KCN Khu công nghiệp
KCX Khu chế xuất
KKT Khu kinh tế
NSNN Ngân sách nhà nước
SXCN Sản xuất công nghiệp
SXKD Sản xuất kinh doanh
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư phát triển là nhu cầu tất yếu của mỗi quốc gia và mỗi địa phương. Hoạt
động đầu tư là tác nhân quan trọng tạo ra sự thịnh vượng cho kinh tế - xã hội, những
tiến bộ về khoa học công nghệ và phát triển giáo dục đào tạo cho địa bàn được đầu tư.
Yên Bái là tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, cửa ngõ khu vực miền
núi phía Tây Bắc, có vị trí địa lý và địa hình khá thuận lợi hơn trong khu vực, có
nhiều loại khoáng sản và cây trồng là nguyên liệu cho công nghiệp. T
rong
vài năm
gần đây, kinh tế - xã hội của tỉnh Yên Bái có nhiều biểu hiện chững lại, nhịp độ tăng
trưởng kinh tế không cao. Trong khi đó, các địa phương khác
trong cả nước đang
đạt được những cuộc bứt phá ngoạn mục cả về phương diện kinh tế lẫn xã hội nhờ
những nguồn vốn đầu tư liên tục được đổ vào.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XVII (năm 2010) đã khẳng
định: “Tỉnh Yên Bái sẽ đẩy mạnh thu hút đầu tư, tập trung vào phát triển những
ngành hàng, sản phẩm có lợi thế so sánh…; ưu tiên quy hoạch và đầu tư xây dựng
khu công nghiệp phía Nam, khu công nghiệp Minh Quân, khu công nghiệp Âu Lâu
và một số khu công nghiệp vệ tinh ở các huyện vùng thấp,…”
Chủ động trong thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào các khu công nghiệp, phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội là đòi hỏi cấp thiết đối với tỉnh Yên Bái trong giai đoạn
phát triển hiện nay nhằm bắt kịp với xu hướng phát triển của thời đại.
Để thực
hiện điều đó, tỉnh Yên Bái cần phải tìm ra những biện pháp
nhằm
các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái, xác định kết quả tích cực đạt được,
những hạn chế, yếu kém; từ đó đề xuất phương hướng, giải pháp khoa học phù hợp
với điều kiện thực tiễn để góp phần tăng cường thu hút đầu tư phát triển các khu
công nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái từ nay đến năm 2020.
3.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận và thực tiễn về khu công nghiệp và (cơ chế,
chính sách của Nhà nước liên quan đến) thu hút đầu tư phát triển các khu công nghiệp.
- Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình thu hút đầu tư vào các khu công
nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái trong những năm qua.
3
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường (đẩy mạnh)
thu hút đầu tư phát triển các khu công nghiệp của tỉnh Yên Bái đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề liên quan đến
thu hút đầu tư phát
triển
các khu công nghiệp tại tỉnh Yên Bái
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4.2.1. Phạm vi nghiên cứu
- Các dự án đã, đang và sẽ triển khai tại các khu công nghiệp.
- Các hoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài vào các khu công nghiệp.
- Các khu công nghiệp của tỉnh Yên Bái.
- Nghiên cứu các chính sách đầu tư, chính sách thu hút đầu tư vào các khu
công nghiệp của tỉnh Yên Bái.
4.2.2. Về địa bàn nghiên cứu
Do thời gian và điều kiện cũng như năng lực nghiên cứu của bản thân còn hạn
Yên Bái trong thời gian qua.
Chương 3: Phương hướng, giải pháp thu hút đầu tư phát triển các khu công
nghiệp của tỉnh Yên Bái đến năm 2020. 5
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TẾ
THU HÚT ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP
1.1. TỔNG QUAN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm và đặc trưng khu công nghiệp
KCN đã được hình thành và phát triển ở các nước tư bản phát triển vào
những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Năm 1896, KCN đầu tiên trên
thế giới được thành lập ở Trafford Park, thành phố Manchester, Vương quốc
Anh. Tiếp theo, các nước khác cũng lần lượt thành lập các KCN, như Hoa Kỳ
năm 1899, Italy năm 1904 và sau những năm 50 của thế kỷ XX thì sự phát
triển các KCN mới thực sự bùng nổ.
Ngày nay, KCN xuất hiện ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Mặc dù thuật
ngữ KCN được sử dụng khá phổ biến nhưng bản thân nó lại bao hàm nhiều loại
hình, nhiều mô hình tổ chức và tính chất hoạt động khác nhau, mỗi nước đều có
quan niệm khác nhau về KCN. Một số nước sử dụng thuật ngữ “Industrial Parks”:
Công viên công nghiệp thường được hiểu gắn với tính chất “xanh” của KCN. Có
những nước sử dụng thuật ngữ “Industrial Clusters”: Cụm liên kết công nghiệp,
không có ranh giới cụ thể như KCN, mà là khu vực định hướng tập trung các DN
công nghiệp có quan hệ liên kết trong một chuỗi giá trị (value chaine). Những KCN
hoạt động chuyên về sản xuất hàng xuất khẩu với quy chế miễn thuế nhập khẩu
được gọi là khu chế xuất (Export Processing Zones). Khu công nghiệp cũng có thể
là khu công nghệ cao (Hight tech centres) hoặc khu công nghệ cao là một bộ phận
Thứ nhất, KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp có đủ cơ sở pháp lý, chuyên
sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp.
Thứ hai, KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh
sống, xây dựng theo quy hoạch tổng thể đã được Chính phủ phê duyệt.
7
Thứ ba, KCN phải do Chính phủ hoặc do Thủ tướng Chính phủ quyết định
thành lập. Khi muốn hình thành KCN đã có trong quy hoạch tổng thể thì UBND
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo việc lập báo cáo nghiên cứu khả thi
thành lập KCN và trình Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định thành lập.
Thứ tư, trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất. Đó là các doanh nghiệp
chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng
xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu.
Trên cơ sở 4 tiêu chí trên, thống nhất khái niệm về KCN đã được nêu ra trong
các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam như sau: Khu công nghiệp là khu tập
trung các doanh nghiệp khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực
hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có
dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập.
Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất [8].
Với khái niệm như vậy, KCN của Việt Nam được hiểu là khu công nghiệp tập
trung, không có dân cư sinh sống nhằm giải quyết tốt hơn vấn đề hạ tầng và ô
nhiễm môi trường, có phân biệt với các vùng công nghiệp (bao gồm nhiều KCN),
với các đặc khu kinh tế (có bộ máy quản lý hành chính độc lập). Theo quan niệm
của Việt Nam, các KCX (chuyên sản xuất hàng hoá xuất khẩu và dịch vụ cho sản
xuất hàng hoá xuất khẩu), khu công nghệ cao (tập trung các DN có công nghệ cao
hoặc DN dịch vụ cho các DN có công nghệ cao) chỉ là hình thái đặc thù của KCN
tập trung.
1.1.2. Vai trò của khu công nghiệp trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam
Trải qua một thời gian xây dựng và phát triển, các KCN nước ta từng bước
phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại ngang tầm với các nước trong khu vực. Việc cho
phép thực thi đa dạng các mô hình kinh doanh hạ tầng KCN (doanh nghiệp 100%
vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp nhà nước), Việt Nam muốn
tận dụng mối quan hệ quốc tế của chủ đầu tư nước ngoài trong việc kêu gọi đầu tư,
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước sử dụng có hiệu quả nguồn vốn từ
ngân sách để thúc đẩy quá trình CNH, HĐH đất nước.
Kết cấu hạ tầng trong KCN sẵn có và những chính sách ưu đãi cùng với cơ chế
9
quản lý đặc biệt, thủ tục đầu tư ngày càng đơn giản, thuận tiện hơn so với bên ngoài
KCN sẽ giúp nhà đầu tư nhanh chóng triển khai dự án, tránh bỏ lỡ cơ hội kinh
doanh. Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp tìm mọi cách tối
thiểu hoá chi phí để đạt được giá thành rẻ nhất. KCN là địa bàn mà doanh nghiệp có
thể thực hiện được điều đó. KCN được xây dựng tập trung theo chiều dọc, là nơi có
nhiều đất trống, gần cảng, giao thông thuận lợi cho xe trọng tải lớn ra vào, mạng
lưới điện để cho nhà đầu tư có thể xây dựng và vận hành các nhà máy. KCN còn
được trang bị kết cấu hạ tầng đầy đủ nên khi đầu tư vào thì các nhà đầu tư sản xuất
sẽ giảm được rất nhiều chi phí như chi phí mua đất xây dựng nhà máy với giá cao,
chi phí xây dựng hệ thống đường dây tải điện, đường giao thông vận tải vào nhà
máy, thiết lập hệ thống thông tin liên lạc Việc bố trí các nhà máy theo chiều dọc
(sản phẩm của nhà máy này là nguyên liệu của nhà máy khác) và tập trung vào một
khu vực nên các doanh nghiệp dễ dàng giải quyết đầu vào và đầu ra với chi phí thấp
nhất. Do đó, các doanh nghiệp KCN có điều kiện thuận lợi để đạt mục tiêu lợi
nhuận hơn bên ngoài KCN nên KCN hấp dẫn nhà đầu tư hơn.
Xây dựng khu công nghiệp là một trong các biện pháp thu hút đầu tư nước
ngoài hiệu quả vì ưu điểm nổi bật của KCN là: Đối với nhà đầu tư nước ngoài, họ
được cung cấp các dịch vụ kỹ thuật thuận tiện, cơ sở hạ tầng phù hợp và sản phẩm
của họ có thể tiêu thụ tại thị trường nội địa. Đối với nước chủ nhà, tập trung được
vốn đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng có trọng điểm, phát triển liên kết kinh tế giữa
tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Tạo điều kiện phát triển công nghiệp theo quy
hoạch, tránh tự phát, phân tán, tiết kiệm đất đai, sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, tiết
kiệm chi phí sản xuất.
KCN là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, lãnh thổ, đẩy nhanh tốc độ
đô thị hoá. Phát triển các KCN là nhân tố thúc đẩy tốc độ đô thị hoá và tác động lan
toả tích cực trong việc CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Mặt khác, KCN là ″hạt
nhân” trong chuỗi quy hoạch đô thị sẽ được hình thành trong tương lai với hệ thống
kết cấu hạ tầng ngoài KCN có chất lượng cao, gắn với sự hình thành các khu dân
cư, khu thương mại, dịch vụ và các khu phù trợ khác.
11
1.1.2.3. Đẩy mạnh xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ
Cơ chế quản lý ″một cửa, tại chỗ” trong KCN, tạo điều kiện thuận lợi cho các
nhà đầu tư trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến các thủ tục xuất, nhập
khẩu vật tư, hàng hoá cho sản xuất, thủ tục hải quan, thuế, tuyển dụng lao động
Trong khi đó, các doanh nghiệp công nghiệp ở ngoài KCN rất vất vả khi phải giải
quyết các vấn đề nêu trên.
KCN là nơi tiếp nhận kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và học tập kinh nghiệm
quản lý các công ty tư bản nước ngoài. Để tránh bị tụt hậu về kinh tế, đặc biệt trong
sản xuất công nghiệp và tăng sức cạnh tranh hàng xuất khẩu trên thị trường thế giới,
sản xuất công nghiệp được đưa vào các KCN, KCX, KKT sẽ được các nhà đầu tư
ưu tiên lựa chọn vì là giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa xuất khẩu,
thương hiệu và tính chất chuyên môn hóa ở trình độ cao cho nhà sản xuất. Đây
chính là yếu tố quan trọng trong chiến lược marketing của DN, góp phần đẩy mạnh
xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ cho nhà đầu tư.
1.1.2.4. Là đầu mối tạo việc làm và đào tạo nguồn nhân lực
KCN góp phần giải quyết nhiều việc làm cho người lao động. Các KCN là nơi
thu hút được nhiều lao động hoạt động trong các doanh nghiệp và trong các lĩnh vực
xây dựng, cung cấp dịch vụ cho KCN: Nước ta từ một nước nông nghiệp đang ở
được cơ sở công nghiệp của mình. Chính vì vậy Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn
quốc của Đảng lần thứ VIII cũng đã nêu rõ “cần cải tạo các KCN hiện có về kết cấu
hạ tầng và công nghệ sản xuất, xây dựng mới một số KCN phân bố trên các vùng”.
Để tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng và vận hành KCN tập trung trên cả
nước, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 322/HĐBT
ngày 18/10/1991 về quy chế KCN, KCX. Tiếp đến là Nghị định số 192/CP ngày
25/12/1994 của Chính phủ về quy chế KCN. Sau đó là Nghị định 36/CP ngày
24/4/1997 của Chính phủ về KCN, KCX, khu công nghệ cao thay thế các Nghị định
trước đó đã ban hành.
KCN phát triển kéo theo sự phát triển mạnh của các ngành công nghiệp,
những vùng đất sản xuất nông nghiệp có hiệu quả thấp sẽ được chuyển sang xây
13
dựng KCN để sản xuất công nghiệp có hiệu quả cao hơn nhiều. Sự phát triển của
các KCN góp phần to lớn vào sự hình thành các khu đô thị mới với hàng loạt các
ngành dịch vụ phát triển như thông tin liên lạc, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải và
thương mại. Từ đó, cơ cấu GDP của nền kinh tế quốc dân có sự chuyển dịch theo
hướng tăng dần tỷ trọng giá trị ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng giá
trị ngành nông nghiệp. Đây là xu hướng phù hợp với quá trình CNH, HĐH đất nước
và hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1.2.6. Vai trò khác
Góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường
KCN là nơi tập trung các cơ sở sản xuất với hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, hệ
thống xử lý chất thải được trang bị đồng bộ thuận lợi cho các nhà máy mới hoạt
động có hiệu quả, nên có điều kiện thuận lợi trong việc kiểm soát, xử lý chất thải và
bảo vệ môi trường. Mặt khác KCN là địa điểm tốt để di dời các nhà máy cũ, các cơ
sở sản xuất gây ô nhiễm từ nội thành, góp phần bảo vệ môi trường nhất là các khu
vực có đông dân cư sinh sống.
Phát triển KCN là phát triển công nghiệp theo quy hoạch, qua đó góp phần đẩy
học kỹ thuật ) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc có năng suất trong nền sản
xuất xã hội.
Tuy nhiên, nếu xem xét trên giác độ toàn bộ nền kinh tế thì không phải tất cả
các hoạt động trên đều đem lại lợi ích cho nền kinh tế và được coi là đầu tư của nền
kinh tế.
- Các hoạt động như gửi tiền tiết kiệm, mua cổ phần, mua hàng tích trữ chờ
dịp tết không hề làm tăng tài sản cho nền kinh tế. Các hành động này thực chất chỉ
là chuyển giao quyền sử dụng tiền, quyền sở hữu cổ phần và hàng hoá từ người này
sang người khác, do đó chỉ làm cho số tiền thu về của người đầu tư lớn hơn số tiền
mà họ bỏ ra tuỳ thuộc vào lãi suất tiết kiệm, lợi tức cổ phần hoặc giá hàng vào dịp
tết. Giá trị tăng thêm của người đầu tư ở đây lại chính là giá trị mất đi của quỹ tiết
kiệm (lãi suất phải trả), của cổ đông đã bán lại cổ phần (lợi tức cổ phần), của người
15
mua hàng vào dịp tết (với giá cao). Tài sản của nền kinh tế trong những trường hợp
này không có sự thay đổi một cách trực tiếp.
- Các hoạt động như bỏ tiền xây dựng thêm kho chứa nguyên vật liệu, chi tiền
học đại học, phát hành chứng khoán để xây dựng thêm một phân xưởng mới, tổ
chức báo cáo khoa học đã làm tăng thêm tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn
nhân lực cho nền kinh tế.
Do đó, trên giác độ nền kinh tế "đầu tư được hiểu là sự hy sinh giá trị hiện tại
gắn với việc tạo ra các tài sản mới cho nền kinh tế".
Theo quan điểm tái sản xuất mở rộng, "đầu tư là quá trình chuyển hoá vốn
thành các yếu tố cần thiết cho việc tạo ra năng lực sản xuất, tạo ra những yếu tố cơ
bản, tiên quyết cho quá trình phát triển sản xuất".
Theo Luật Đầu tư được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 có hiệu lực từ ngày 01/7/2006
giải thích: "Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô
hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này
gia,
cộng đồng và nhà đầu tư.
Đối với mỗi quốc gia hay một nền kinh tế thì hoạt động đầu tư phát triển luôn
đóng một vai trò quyết định trong sự đi lên phát triển hay hưng thịnh của chính
quốc gia đó.
Trong thu hút đầu tư phát triển, các nhà đầu tư đóng vai trò là chủ thể thực
hiện với hành vi bỏ vốn và tài sản của mình để tạo ra các sản phẩm vật chất. Tuy
nhiên, trong phạm vi của marketing địa phương, nhà đầu tư lại đóng vai trò là khách
thể marketing địa phương cần hướng tới nhằm thu hút hành vi đầu tư của họ.
1.2.1.2. Vốn đầu tư, nguồn vốn đầu tư
a) Vốn đầu tư
Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch
vụ, là tiền tiết kiệm của dân cư và vốn huy động từ các nguồn khác, được đưa vào
sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm