đại học quốc gia hà nội
khoa luật
bùi thị diễm trang
hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật
đối với đoàn viên, thanh niên trên địa bàn
thành phố hà nội trong tiến trình hội nhập
phát triển của đất n-ớc
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2007
đại học quốc gia hà nội
khoa luật
bùi thị diễm trang
hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật
đối với đoàn viên, thanh niên trên địa bàn
thành phố hà nội trong tiến trình hội nhập
phát triển của đất n-ớc
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà n-ớc và pháp luật
Mã số
: 60 38 01
luận văn thạc sĩ luật học
1.1.2.
Các nguyên tắc của hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật
9
1.1.2.1. Đảm bảo quyền được thông tin, quyền được tham gia quản
lý nhà nước của công dân
9
1.1.2.2. Đảm bảo tính phù hợp với đối tượng, tính khả thi, tính hiệu
quả của hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật
15
1.1.3.
Xã hội hóa hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật
20
1.2.
Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đoàn viên, thanh niên
trong điều kiện hội nhập và phát triển
22
2.2.
Cơ cấu, đặc điểm lực lượng đoàn viên, thanh niên trên địa
bàn thành phố Hà Nội
33
2.2.1.
Cơ cấu
33
2.2.2.
Đặc điểm
33
2.2.2.1. Thuận lợi
33
2.2.2.2. Khó khăn
34
2.2.2.3. Tình hình đoàn viên, thanh niên trong các khối đối tượng
40
2.3.3.1. Thực trạng
40
2.3.3.2. Đánh giá chung
46
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
53
HOẠT ĐỘNG PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT ĐỐI
VỚI ĐOÀN VIÊN, THANH NIÊN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP VÀ
PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC
3.1.
Những nhu cầu khách quan
53
3.1.1.
Những nhu cầu mới đặt ra từ chiến lược phát triển Thủ đô
Hà Nội đến 2010
pháp luật
58
3.2.2.
Một số giải pháp trọng tâm
62
3.2.2.1. Nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác lập pháp, tư
pháp, hành pháp
62
3.2.2.2. Đổi mới nhận thức về hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật
65
3.2.2.3. Nâng cao chất lượng hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật
66
KẾT LUẬN
76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
78
PBGDPL : Phổ biến, giáo dục pháp luật
UBND
: Ủy ban nhân dân
Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đối với Đoàn viên thanh niên trên địa bàn Thành phố
Hà Nội trong tiến trình hội nhập và phát triển của đất nước
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã
hội chủ nghĩa là yêu cầu khách quan của một xã hội văn minh, công bằng, dân
chủ, đó cũng đồng thời là phương pháp chủ yếu bảo đảm hiệu lực quản lý của
Nhà nước và đáp ứng những yêu cầu của xu thế hội nhập và phát triển trong
giai đoạn hiện nay. Để thực hiện được điều đó thì việc quan trọng là phải xây
dựng, ban hành đầy đủ, kịp thời, chất lượng hệ thống pháp luật và tổ chức phổ
biến, giáo dục một cách toàn diện pháp luật đến mọi đối tượng trong xã hội.
Xác định được vai trò, vị trí quan trọng của việc ban hành, PBGDPL
đối với đời sống xã hội nên từ nhiều năm qua và đặc biệt trong thời gian gần
đây Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản, kế hoạch chỉ đạo triển
khai công tác này như: Quyết định 13/2003/QĐ-TTg ngày 17/01/2003 của
Chính phủ về việc phê duyệt chương trình PBGDPL từ 2003-2007; Chỉ thị số
32-CT/TW ngày 9/12/2003 của Ban Bí thư TW Đảng về tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng trong hoạt động PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật
của cán bộ, nhân dân; Quyết định 212/2004/QĐ-TTg của Chính phủ phê
duyệt chương trình hành động quốc gia PBGDPL và nâng cao ý thức chấp
hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân xã, phường, thị trấn từ năm 2005-2010;
Quyết định 28/2006/QĐ-TTg ngày 28/01/2006 về việc phê duyệt các đề án
Là người đã từng có thời gian tham gia công tác Đoàn tại Hà Nội, tôi
nhận thấy hoạt động PBGDPL cho ĐVTN trên địa bàn thành phố Hà Nội là
vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu. Chính vì vậy, tôi lựa chọn đề tài:
“Hoạt động PBGDPL đối với ĐVTN trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong
tiến trình hội nhập và phát triển của đất nước” làm luận văn Thạc sỹ của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu:
Hoạt động PBGDPL là vấn đề cấp thiết, được Đảng và Nhà nước quan
tâm sâu sát, chính bởi vậy nó trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều nhà khoa
học. Thành quả nghiên cứu khoa học đó được thể hiện ở các cấp độ khác nhau
2
Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đối với Đoàn viên thanh niên trên địa bàn Thành phố
Hà Nội trong tiến trình hội nhập và phát triển của đất nước
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
như: sách; các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, cấp Bộ; các luận án, luận văn,
các bài đăng báo, tạp chí…
Hoạt động PBGDPL không phải là vấn đề mới trong khoa học pháp lý
Việt Nam, song việc tiến hành nghiên cứu có phần chậm hơn so với yêu cầu
“Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp
chế XHCN” đã được ghi nhận từ Hiến pháp 1980. Trong những năm 1990
mới chỉ có một số ít nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề này như: “Ý thức
pháp luật và giáo dục pháp luật ở Việt Nam”, luận án Phó tiến sỹ luật học của
tác giả Nguyễn Đình Lộc (bảo vệ ở Liên Xô cũ năm 1977); “Giáo dục ý thức
pháp luật với việc tăng cường pháp chế XHCN”, Luận án Phó tiến sỹ Luật
học của tác giả Trần Ngọc Đường (bảo vệ ở Liên Xô cũ năm 1988);
Từ năm 1990 tới nay vấn đề PBGDPL được nhiều cơ quan, tổ chức và
tiến sỹ Luật học của tác giả Dương Thanh Mai, 1996; Giáo dục pháp luật
trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không
chuyên luật) ở nước ta hiện nay, Luận án Phó tiến sỹ Luật học của tác giả
Đinh Xuân Thảo, 1996 và một số luận văn thạc sỹ luật học, Luận văn cử nhân
của Học viện Báo chí và tuyên truyền, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và
các cơ sở khác cũng đề cập đến chủ đề PBGDPL.
Ngoài ra, còn có nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu, giảng dạy pháp
luật hay các cán bộ, công chức làm việc trong các tổ chức, cơ quan nhà
nước... được công bố trên các báo, tạp chí...
Các công trình nghiên cứu này đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ
bản về ý thức pháp luật, giáo dục pháp luật và đưa ra những mô hình, giải
pháp thực tiễn về giáo dục pháp luật cho những đối tượng khác nhau như cán
bộ công chức, sinh viên học sinh, dân tộc ít người…
Mỗi nhà khoa học có một cách khám phá, khai thác đề tài này ở những
góc độ khác nhau. Nhìn chung các công trình nghiên cứu đó đã làm sáng tỏ
những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động PBGDPL đồng thời góp phần
bổ sung vào kho tàng tài liệu quý báu cho các thế hệ tiếp theo tham khảo, kế
thừa và tiếp tục nghiên cứu về lĩnh vực này .Tuy nhiên chưa có nhà khoa học
nào nghiên cứu cụ thể về vấn đề PBGDPL đối với ĐVTN trên địa bàn Thành
4
Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đối với Đoàn viên thanh niên trên địa bàn Thành phố
Hà Nội trong tiến trình hội nhập và phát triển của đất nước
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
phố Hà Nội - lực lượng trẻ đóng vai trò xung kích, sáng tạo- trong tiến trình
hội nhập và phát triển của đất nước.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
riêng đang có những bước tiến dài trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Đây cũng là khoảng thời gian gần nhất đối với việc nghiên cứu và hoàn thành
luận văn của tác giả)
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
1- Phương pháp biện chứng, lịch sử.
2- Phương pháp phân tích, tổng hợp.
3- Phương pháp so sánh, thống kê.
4- Phương pháp điều tra xã hội học.
5- Phương pháp mô hình hoá, hệ thống hoá.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Luận văn tiếp cận việc tìm hiểu, nghiên cứu về vai trò và thực trạng của hoạt
động PBGDPL đối với ĐVTN trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong tiến trình
hội nhập và phát triển của đất nước. Từ đó, đề ra một số kiến nghị và giải
pháp cần thiết để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác trên. Kết quả
nghiên cứu này có thể sử dụng để tham khảo trong hoạt động PBGDPL đối
với ĐVTN cả nước nói chung, ĐVTN trên địa bàn Thành phố Hà Nội nói
riêng.
- Luận văn góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của ĐVTN đối với pháp
luật và hoạt động PBGDPL.
- Luận văn đã hệ thống hoá tư liệu, tài liệu, văn bản pháp lý về hoạt động
PBGDPL nói chung, về PBGDPL của Hà Nội và PBGDPL cho ĐVTN nói
riêng.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về PBGDPL;
6
niệm) của vấn đề cần được nghiên cứu.
Xung quanh vấn đề PBGDPL có rất nhiều những phân tích, lý giải khác
nhau nhằm hình thành nên khái niệm PBGDPL, bên cạnh những khái niệm rõ
nghĩa, còn có những trường hợp đánh đồng khái niệm giữa phổ biến và giáo
dục pháp luật. Thực chất thì đây là những khái niệm hoàn toàn khác nhau.
PBGDPL là một từ ghép hai từ phổ biến pháp luật và giáo dục pháp
luật.
Phổ biến pháp luật được hiểu theo hai nghĩa:
Nghĩa hẹp: Là giới thiệu tinh thần văn bản pháp luật cho đối tượng của
nó;
Nghĩa rộng: Là truyền bá pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân trên cả
nước.
Trong hầu hết các văn bản của ta, phổ biến pháp luật được sử dụng theo
nghĩa rộng. Một hoạt động phổ biến pháp luật được thực hiện thường nhằm
vào những đối tượng cụ thể mà hành động của họ có liên quan trực tiếp đến
sự điều chỉnh của một loại văn bản pháp luật cụ thể, giúp đối tượng nắm vững
để điều chỉnh hành vi của mình.
8
Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đối với Đoàn viên thanh niên trên địa bàn Thành phố
Hà Nội trong tiến trình hội nhập và phát triển của đất nước
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Khác với phổ biến pháp luật, giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng
bao gồm cả quá trình truyền tải những thông tin pháp luật nhằm nâng cao tri
thức, phát triển nhận thức pháp luật cho đối tượng và bằng mọi cách (thuyết
phục, nêu gương, ám thị...), hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối
tượng, đồng thời nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp
hành pháp luật của đối tượng từ đó có thể điều chỉnh được cách hành vi, xử sự
1.1.2. Các nguyên tắc của hoạt động PBGDPL
1.1.2.1. Đảm bảo quyền được thông tin, quyền được tham gia quản lý nhà
nước của công dân
a) Đảm bảo quyền được thông tin của công dân
Nhà nước ta từ khi thành lập đến nay luôn luôn lấy quyền con người
làm mục tiêu đấu tranh, phấn đấu, tôn trọng và bảo vệ quyền con người,
quyền công dân được khẳng định là nguyên tắc hiến định trong mọi hoạt động
lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi Nhà nước
ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì hơn bao giờ hết
quyền con người, quyền công dân được đặc biệt quan tâm. Trong các quyền
đó, quyền được thông tin đóng vai trò hết sức quan trọng. Có thể nói quyền
được thông tin là cầu nối để công dân thực hiện các quyền khác của mình.
Cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong tiến trình đàm phán
gia nhập WTO, BTA…chúng ta đã cam kết thực hiện một cơ chế hoàn toàn
minh bạch bằng cách cho phép góp ý kiến vào các dự thảo luật và quy định,
đảm bảo sẽ công khai trước tất cả các luật và các quy định đó. Theo cam kết
này, không chỉ công dân Việt Nam và các công dân, tổ chức nước ngoài đến
sinh sống và đầu tư tại Việt Nam đều phải được đảm bảo quyền được thông
tin về các chính sách, pháp luật của nhà nước Việt Nam trước khi các chính
sách, văn bản đó có hiệu lực. Quyền được thông tin giúp cho mọi công dân
trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia thực hiện các chủ trương, chính sách trên,
hoàn thành các cam kết quốc tế, vững vàng cùng đất nước bước vào tiến trình
hội nhập quốc tế, tham gia vào WTO với tư cách là thành viên.
Chính quyền được thông tin có vai trò quan trọng như vậy nên sau sự ra
đời của ba bản Hiến pháp, đến Hiến Pháp 1992, quyền được thông tin của
công dân đã được ghi nhận tại Điều 69: “ Công dân có các quyền tự do ngôn
10
Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đối với Đoàn viên thanh niên trên địa bàn Thành phố
pháp luật thực định); các thông tin về việc thực hiện pháp luật, về tình hình vi
11
Bùi Thị Diễm Trang - Lớp Cao học Luật chuyên ngành Lý luận khoá X
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
phạm pháp luật và tội phạm; về vị trí, tác động của từng văn bản pháp luật đối
với đời sống xã hội, đối với từng đối tượng và ý kiến của nhân dân, của các
chuyên gia trong từng lĩnh vực đánh giá hiệu lực pháp lý, hiệu quả kinh tế xã
hội của các văn bản pháp luật và các biện pháp thi hành pháp luật; các thông
tin hướng dẫn hành vi pháp luật cụ thể (các quá trình, thủ tục đơn giản để
người dân có thể tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình). Những vấn đề
nêu trên đã lý giải “quyền được nhận thông tin” của công dân. Bên cạnh đó
“quyền truyền thông tin” của công dân cũng cần được đảm bảo. Nhận biết,
nắm được thông tin pháp luật đến với mình, công dân có quyền được phản hồi
lại ý kiến trước những thông tin pháp luật đó. Với khâu dự thảo, xây dựng
pháp luật công dân tham gia ở góc độ góp ý vào các dự thảo văn bản pháp
luật; với khâu ban hành, thực hiện pháp luật công dân tham gia ở góc độ phản
ánh tính khả thi của pháp luật, những vướng mắc khi vận dụng pháp luật để
giải quyết vấn đề trong đời sống xã hội cũng như các hiện tượng vi phạm
pháp luật xảy ra. Nhà nước phải có trách nhiệm tiếp nhận những thông tin
được truyền đến từ công dân, xem xét và có biện pháp xử lý kịp thời, thích
hợp.
Việc cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác các loại thông tin trên cho
công dân giúp họ có khả năng phân tích, đánh giá một cách khoa học và định
hướng hành vi của mình khi gặp những sự kiện pháp lý trong trường hợp cụ
thể. Ví dụ đối với doanh nghiệp:
Thứ nhất, tiếp cận được thông tin cần thiết sẽ giúp doanh nghiệp giảm
thiểu các chi phí khởi nghiệp khi có kế hoạch kinh doanh, hoạch định chính
vào tình thế bị động: "giá mà biết trước..."! Đồng thời đây cũng là yêu cầu
không thể thoái thác khi là thành viên WTO.
Chúng ta cần phải ý thức được tầm quan trọng của việc bảo đảm quyền
được thông tin không chỉ đối với đời sống kinh tế mà đối với cả đời sống xã
hội hàng ngày của công dân, đối với Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng
và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Cởi mở thông tin, minh bạch hoá sẽ làm cho
xã hội lành mạnh hơn và chúng ta cũng sẽ mạnh hơn, đủ sức cạnh tranh với
bên ngoài và đảm bảo thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO.
13
Bùi Thị Diễm Trang - Lớp Cao học Luật chuyên ngành Lý luận khoá X
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Qua đó cũng có thể khẳng định xây dựng một đạo luật về bảo đảm
quyền được thông tin là nhu cầu cần thiết hơn bao giờ hết trong bối cảnh hiện
nay.
b) Đảm bảo quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân
Hoạt động PBGDPL góp phần đảm bảo thực hiện nguyên tắc quyền
tham gia quản lý nhà nước của nhân dân. Nguyên tắc này được thể hiện ngay
từ khâu xây dựng pháp luật, để phổ biến nội dung pháp luật đến nhân dân và
để pháp luật đi được vào cuộc sống, đồng thời để người dân gián tiếp thực
hiện quyền năng của mình trong quản lý nhà nước và xã hội theo quy định tại
Hiến pháp. Cụ thể đó là việc tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước
và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước
trưng cầu dân ý được thể hiện trong bốn bản Hiến pháp và các văn bản pháp
luật khác. Việc lấy ý kiến diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng, để tạo điều
kiện cho các cơ quan tổ chức, nhân dân tham gia đóng góp ý kiến một cách
thiết thực, thể hiện tính dân chủ, tính nhân dân trong việc đề ra các chủ trương
các quyền lợi chính đáng của mình được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn
bản quy phạm pháp luật, đó cũng là nghĩa vụ, trách nhiệm của người dân đối
với đất nước, bởi ở bất kỳ xã hội, thời đại nào thì lực lượng là ở nơi dân, Nhà
nước muốn làm việc gì đều phải dựa vào sức dân, thông qua việc huy động
công sức và trí tuệ của nhân dân.
Hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật với những hình thức phổ biến,
giáo dục phong phú, thiết thực đã trực tiếp và gián tiếp giúp người dân thực
hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của mình. Khi người dân hiểu biết,
nắm vững pháp luật, họ có thể tự tin để “bàn”, để “làm” và để “kiểm tra”.
Khi nhà nước ta đang xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn
minh thì một trong những điều kiện quan trọng là làm sao để người dân được
tham gia tích cực vào các hoạt động quản lý xã hội bằng pháp luật. Tăng
cường dân chủ cũng có nghĩa là mở rộng sự tham gia của người dân vào các
hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp, thực hiện giám sát hoạt động của
các cơ quan Nhà nước. Chính điều này đã nâng cao trách nhiệm của mỗi
người trong xã hội. PBGDPL góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự lớn
mạnh của tính tích cực, đảm bảo hành trang kiến thức pháp lý cần thiết cho sự
tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật, để mỗi cơ
15
Bùi Thị Diễm Trang - Lớp Cao học Luật chuyên ngành Lý luận khoá X
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
quan đơn vị, các cấp, các ngành quan tâm đến pháp luật và sử dụng công cụ
pháp luật một cách có hiệu quả. Đó chính là trách nhiệm của hoạt động
PBGDPL.
1.1.2.2. Đảm bảo tính phù hợp với đối tượng, tính khả thi, tính hiệu quả của
hoạt động phổ biến giáo dục pháp luật
a) Tính phù hợp với đối tượng
chức quá trình PBGDPL, qua đó thể hiện nội dung PBGDPL. Trên thực tế, có
nhiều hình thức PBGDPL khác nhau như: qua các phương tiện thông tin đại
chúng; tổ chức nói chuyện chuyên đề; câu lạc bộ pháp luật; thi tìm hiểu pháp
luật; dạy và học pháp luật trong các nhà trường; qua các hoạt động lập pháp,
hành pháp, tư pháp của các cơ quan nhà nước; các hoạt động của tổ chức xã
hội, tổ chức quần chúng, tổ chức nghề nghiệp pháp luật…
Bên cạnh sự phù hợp về nội dung, hình thức PBGDPL là sự phù hợp về
phương tiện, phương pháp PBGDPL. Đa số các chuyên gia pháp lý hiện nay
đều đồng tình với quan điểm về phương tiện và phương pháp PBGDPL như
sau: Phương tiện PBGDPL là các công cụ, các kênh truyền tải PBGDPL từ
chủ thể đến đối tượng để đạt được mục tiêu PBGDPL. Phương pháp PBGDPL
là cách thức, biện pháp tổ chức quá trình PBGDPL.
Trong một hình thức PBGDPL có thể sử dụng nhiều phương tiện,
phương pháp khác nhau với từng đối tượng, trong những điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể, chủ thể PBGDPL cần vận dụng sáng tạo việc sử dụng các phương tiện,
phương pháp khác nhau nhằm tác động sâu sắc và mạnh mẽ tới ý thức pháp
luật của công dân.
b) Tính khả thi
PBGDPL là hoạt động vừa mang tính thời sự, vừa mang tính lâu dài,
thường xuyên, do đó khi tiến hành PBGDPL phải xem xét đến tính khả thi.
Ngoài việc lựa chọn nội dung, hình thức, phương thức phổ biến, giáo dục cho
phù hợp với đối tượng, tính khả thi trong hoạt động PBGDPL còn dựa trên
những yếu tố về tổ chức và nguồn nhân lực; về cơ sở vật chất và điều kiện của
địa bàn thực hiện.
PBGDPL là một hoạt động quan trọng đòi hỏi sự phối hợp giữa nhiều
cơ quan Nhà nước, nhiều cấp, nhiều ngành, tổ chức xã hội. Với tính chất và
qui mô như vậy hoạt động PBGDPL đòi hỏi phải được tổ chức chặt chẽ, có
17
18