Xây dựng nông thôn mới ở huyện Ứng Hòa (Thành phố Hà Nội) giai đoạn 2011- 2015 - Pdf 44

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ
**************

PHẠM HẢI YẾN

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở HUYỆN ỨNG HÒA (HÀ NỘI)
GIAI ĐOẠN 2011 - 2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN VĂN DŨNG

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo khoa Lịch sử,
trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã ân cần dạy dỗ chỉ bảo truyền đạt kiến
thức cho tôi trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại ngôi trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cán bộ, nhân viên các phòng ban trong
Thư viện Hà Nội (Hà Tây cũ), Thư viện Quốc gia, Ủy ban nhân dân huyện
Ứng Hòa,… đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt
quá trình tìm hiều, thu thập tài liệu phục vụ nghiên cứu đề tài khóa luận.
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Nguyễn Văn Dũng đã giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình học tập ở trường và tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu,
thực hiện khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, người thân đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài khóa luận này.

4. HTX: Hợp tác xã


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề .......................................................................... 2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................. 4
3.1. Mục đích nghiên cứu .................................................................................. 4
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................. 4
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu.................................................................. 4
4.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................. 4
4.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................... 4
5. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu .............................................. 5
5.1. Nguồn tư liệu.............................................................................................. 5
5.2. Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 5
6. Đóng góp....................................................................................................... 5
7. Cấu trúc........................................................................................................ 6
Chƣơng 1. THỰC TRẠNG NÔNG THÔN HUYỆN ỨNG HÒA
TRƢỚC NĂM 2011......................................................................................... 7
1.1. Điều kiện tự nhiên và dân cƣ huyện Ứng Hòa ...................................... 7
1.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................... 7
1.1.2. Dân cư ................................................................................................... 14
1.3. Thực trạng nông thôn huyện Ứng Hòa trƣớc năm 2011 .................... 17
1.3.1. Quy hoạch và hiện trạng quy hoạch ...................................................... 17
1.3.2. Hạ tầng kinh tế xã hội ........................................................................... 17
1.3.3. Thực trạng kinh tế và tổ chức sản xuất ................................................. 24
1.3.4. Văn hóa, xã hội, môi trường ................................................................. 29
1.3.5. Hệ thống chính trị.................................................................................. 31


nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời cũng là nơi bảo tồn những giá
trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Tuy nhiên, bên cạnh đó, nông thôn cũng
là nơi còn chứa đựng nhiều yếu tố bảo thủ, lạc hậu.
Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới (1986) cho đến nay, Đảng và Nhà
nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với khu vực nông thôn. Đảng ta xác
định công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn là vấn đề quyết định đến sự
thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Một trong
những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước là triển khai chương trình xây
dựng NTM, với một hệ thống các tiêu chí được xác định, bao quát tất cả mọi
lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội nông thôn. Và chương trình xây dựng
nông thôn mới cho đến nay vẫn đang tiếp tục được tiến hành trên phạm vi cả
nước.
Vấn đề xây dựng nông thôn mới đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của
nhiều học giả trong và ngoài nước, thuộc các lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên,
việc có thêm nhiều công trình nghiên cứu nữa về vấn đề này là rất cần thiết,
có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Đặc biệt là những công trình nghiên
cứu được tiếp cận “trường hợp”, những địa phương điển hình để có điều kiện
nghiên cứu sâu, thấy được rõ sự chuyển biến kinh tế - xã hội ở nông thôn Việt
Nam thời hiện đại.
Tác giả đã chọn huyện Ứng Hòa làm đối tượng nghiên cứu, bởi lẽ, đây là
một xã cách Hà Nội khoảng 30km về phía Nam, có điều kiện tự nhiên khá
thuận lợi, có truyền thống văn hóa. Tuy nhiên kinh tế còn rất nhiều khó khăn.

1


Từ khi triển khai xây dựng nông thôn mới từ năm 2011 đến nay, diện mạo
nông thôn huyện Ứng Hòa đã có sự chuyển biến mạnh mẽ về mọi mặt, tuy
nhiên cũng còn có một số hạn chế.
Để có được sự đánh giá khách quan về những thành tựu, hạn chế, đặc

thực hiện thí điểm mô hình nông thôn mới ở 11 xã điểm đã thu được những
thành công bước đầu, hình hài nông thôn mới đã và đang hình thành. Tác giả
có nói tới nội dung và chức năng của nông thôn mới trong thời đại mới.
Thông qua bài viết, tác giả đã khẳng định vai trò quan trọng của Đảng, của
các Đảng viên trong việc tổ chức triển khai chương trình xây dựng nông thôn
mới.
Bài viết “Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng lâu dài của
Đảng và nhân dân ta”, của tác giả Hồ Xuân Hùng, Tạp chí cộng sản, số 819
đã nêu ra chủ trương và một số nội dung xây dựng nông thôn mới của Đảng.
Đồng thời tác giả khẳng định rằng chương trình xây dựng nông thôn mới là sự
nghiệp cách mạng lâu dài, cần công sức lớn của Đảng và nhân dân phải chung
tay đồng lòng xây dựng chương trình này đạt hiệu quả tốt nhất.
Bài viết “Chính sách phát triển nông thôn trên thế giới và kinh nghiệm
cho xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam”, của tác giả Thảo Linh, Tạp chí
cộng sản, số 57 đã nêu lên những tác động tích cực của chương trình xây
dựng nông thôn mới về vấn đề phát triển nông nghiệp, nâng cao đời sống
nhân dân, ổn định chính trị, xã hội, xóa đói giảm nghèo, và đây chính là mục
tiêu quốc gia của nhiều quốc gia trên thế giới. Tác giả lấy ví dụ những thành
công điển hình từ việc thực hiện nông thôn mới ở một số nước như Nhật Bản,
Hàn Quốc, Pháp, Hà Lan, Đài Loan trong thời gian qua từ đó rút ra những
kinh nghiệm để Việt Nam tham khảo, học tập xây dựng nông thôn mới đạt
thành công.
Tài liệu nghiên cứu về xây dựng nông thôn mới rất nhiều và đa dạng

3


nhưng những bài viết trên mới chỉ nghiên cứu làm rõ chủ trương, chính sách,
quá trình thực hiện, kết quả của chương trình xây dựng NTM trên phạm vi cả
nước chứ chưa đi vào tìm hiểu địa phương cụ thể. Với đề tài “Xây dựng nông

Để nghiên cứu đề tài khóa luận này, tác giả đã sử dụng các nguồn tài liệu
sau:
1. Các tài liệu viết về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của huyện Ứng
Hòa qua các thời kì như tác phẩm: “Địa chí Ứng Hòa” của huyện ỦyHĐND- UBND huyện Ứng Hòa- thành phố Hà Nội xuất bản năm 2015, tác
phẩm “Ứng Hòa trong hành trình phát triển” của Công ty văn hóa trí tuệ Việt
xuất bản năm 2007,…
2. Cùng các văn bản, chỉ thị, nghị quyết, các đề án xây dựng, các báo cáo
tổng kết của huyện Ủy, UBND huyện Ứng Hòa, HĐND huyện Ứng Hòa về
các chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của huyện Ứng Hòa.
Ngoài ra còn có các bài viết trên báo, tạp chí kinh tế, xã hội, tạp chí
Nông nghiệp và Nông thôn thành phố Hà Nội… các kênh thông tin đáng tin
cậy trên truyền hình về xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước,
Đảng bộ địa phương trên cả nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Để thực hiện đề tài, khóa luận đã dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử);
- Về phương pháp cụ thể, luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và phương
pháp lôgic là chủ yếu. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như:
thống kê, so sánh, phân tích,…

6. Đóng góp của bài nghiên cứu
- Nghiên cứu về quá trình huyện Ứng Hòa xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2011- 2015 có những đóng góp về cả mặt lý luận và thực tiễn, cụ thể
như sau:

5


- Khóa luận đã khái quát được thực trạng của nông thôn huyện Ứng Hòa
trước năm 2011

từ 20038’ đến 20043’ vĩ độ Bắc và từ 105054’ đến 105049’ kinh độ Đông. Ứng
Hòa có đường ranh giới giáp với các địa phương sau:
Phía bắc giáp huyện Chương Mỹ và huyện Thanh Oai (thành phố Hà
Nội), nơi xa nhất trong huyện là xã Viên Ngoại, xã Viên An, 20047’ vĩ độ
Bắc, 105044’ kinh độ Đông, giáp ranh huyện Thanh Oai.
Phía đông giáp huyện Phú Xuyên (thành phố Hà Nội), huyện Duy Tiên
(tỉnh Hà Nam), nơi xa nhất trong huyện là thôn Thống Nhất, xã Đông Lỗ,
20038’ vĩ độ Bắc, 105054’ kinh độ Đông.
Phía nam giáp các huyện Duy Tiên, Kim Bảng (tỉnh Hà Nam), nơi xa
nhất trong huyện là thôn Hữu Vĩnh, xã Hồng Quang, 20035’ vĩ độ Bắc,
105047’ kinh độ Đông.
Phía tây giáp huyện Mỹ Đức (thành phố Hà Nội), lấy sông Đáy làm ranh
giới tự nhiên, xa nhất là thôn Vĩnh Thượng, xã Sơn Công, 20043’ vĩ độ Bắc,
105049’ kinh độ Đông.
Ứng Hòa có nhiều điều kiện tự nhiên và dân cư thuận lợi cho phát triển
kinh tế- xã hội. Quốc lộ 21B là trục giao thông chính đi qua huyện dài 22km.
Quốc lộ 428 nối giữa quốc lộ 21B tại thị trấn Vân Đình, gặp quốc lộ 1A và
đường sắt Bắc- Nam tại Cầu Giẽ, dài 17km, từ đây có thể đi khắp các tỉnh
rong cả nước. Tỉnh lộ 424 từ đầu đê Hòa Xá- cầu Tế Tiêu gặp đường Hồ Chí

7


Minh và quốc lộ 21 tại chợ Bến (huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình), từ đây có
thể dễ dàng đi Xuân Mai, rồi theo quốc lộ 6 đi các tỉnh Tây Bắc, đi Sơn Tây,
qua cầu Vĩnh Thịnh hoặc cầu Trung Hà đi các tỉnh Tây Bắc, hoặc xuôi theo
đường Hồ Chí Minh đi các tỉnh miền Trung, miền Nam. Sông Đáy chảy qua
địa bàn Ứng Hòa dài 31km, sông Nhuệ chảy qua địa bản huyện dài 11km,
sông Đào Vân Đình chảy qua địa bàn huyện dài 6km... Khá thuận lợi cho các
phương tiện đường thủy di chuyển. Từ trụ sở hành chính huyện Ứng Hòa đến

Theo đó, huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Tây gồm thị trấn Vân Đình và 29 xã.
Theo thống kê ngày 15-5-1969, huyện Ứng Hòa có 29 xã, 1 thị trấn, 140
thôn, 405 xóm, phố.
Ngày 27-12-1975, kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa V thông qua Nghị
quyết hợp nhất hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình thành tỉnh Hà Sơn Bình. Theo
đó, huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà Sơn Bình. Theo thống kê, năm 1986, huyện
Ứng Hòa có 29 xã, 1 thị trấn với 141 thôn.
Ngày 12-8-1991, kỳ họp thứ chín Quốc hội khóa VIII thông qua Nghị
quyết chia tỉnh Hà Sơn Bình thành hai tỉnh Hòa Bình và Hà Tây. Theo đó,
huyện Ứng Hòa thuộc tỉnh Hà tây.
Ngày 23-9-2003, Chính phủ ra Nghị quyết số 107/2003/NĐ-CP điều
chỉnh địa giới hành chính mở rộng thị trấn Vân Đình thuộc huyện Ứng Hòa.
Theo đó, sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Tân Phương và
một phần diện tích và dân số của các xã Liên Bạt, Phương Tú, Vạn Thái vào
thị trấn Vân Đình. Sau khi điều chỉnh, huyện Ứng Hòa gồm 29 đơn vị hành
chính.
Từ ngày 1-8-2008, toàn bộ tỉnh Hà Tây được sáp nhập vào Hà Nội theo
Nghị quyết của kỳ họp thứ ba Quốc hội khóa XII ngày 29-5-2008. Theo đó,
huyện Ứng Hòa thuộc thành phố Hà Nội.
Đến năm 2015, huyện Ứng Hòa có 29 đơn vị hành chính, bao gồm 1 thị
trấn và 28 xã, với 138 thôn, tổ dân phố. Đó là các xã/thị trấn sau: Viên An,

9


Viên Nội, Sơn Công, Cao Thành, Vạn Thái, Đồng Tiến, Hòa Nam, Hòa Phú,
Phù Lưu, Lưu Hoàng, Hồng Quang, Hòa Xá, Hoa Sơn, Trường Thịnh, Quảng
Phú Cầu, Liên Bạt, Phương Tú, Tảo Dương Văn, Đại Hùng, Đại Cường, Đội
Bình, Kim Đường, Đông Lỗ, thị trấn Vân Đình, Trung Tú, Trầm Lộng, Đồng
Tân, Minh Đức, Hòa Lâm.

hoạch sử dụng đất.
Nhìn chung, điều kiện địa hình của huyện cơ bản thuận lợi cho việc khai
thác triệt để quỹ đất đai, xây dựng cơ sở hạ tầng, bố trí dân cư, phát triển sản
xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi.
*Khí hậu
Khí hậu Ứng Hòa mang những nét đặc trưng của khí hậu đồng bằng Bắc
Bộ, có tính nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, có mùa đông lạnh, khô được hình
thành do tác động kết hợp giữa các nhân tố: hoàn lưu khí quyển, chế độ bức
xạ và nhất là vị trí địa lý khu vực Đông Nam Á.
Diễn biến phức tạp của chế độ gió mùa đã làm khí hậu biến động thất
thường theo mùa. Ứng Hòa nói chung và vùng đồng bằng Bắc Bộ nói riêng
chịu ảnh hưởng lớn của hai hướng gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió mùa
Đông Nam.
Mùa đông với gió mùa Đông Bắc lạnh, khô xen lẫn gió biển nhiệt đới ẩm
gây nên những giao động mạnh trong chế độ nhiệt ẩm và cả chế độ mưa.
Trong mùa đông thường xuất hiện những ngày rét xen kẽ những ngày nắng
ấm, có những ngày hanh khô “nứt nẻ da chân”, lại có những ngày nồm khiến
nền nhà “đổ mồ hôi”. Ngay trong tháng lạnh nhất, có năm cũng gặp những
ngày nóng nực, nhiệt độ lên đến 25-260C. Mùa hè nằm trong phạm vi khống
chế của áp thấp lục địa châu Á và dải hội tụ nhiệt đới Thái Bình Dương tạo
nên khí hậu nóng, mưa nhiều, nhiều năm có bão. Xen giữa mùa đông và mùa
hè là hai mùa chuyển tiếp. Mùa xuân bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 4, nhiệt độ
tăng dần kèm theo mưa xuân, cây trồng phát triển nhanh. Mùa hạ từ tháng 5

11


đến tháng 7, thời tiết nóng nực, kéo theo mưa rào và gió bão. Mùa thu từ
tháng 8 đến tháng 10, thời tiết mát mẻ. Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 1
năm sau, nhiệt độ xuống thấp, giá rét, kéo theo mưa phùn, ảnh hưởng đến sản

- Đất nông nghiệp: 12.730,16ha chiếm 69,28% diện tích tự nhiên
- Đất phi nông nghiệp: 5.608,72ha, chiếm 30,52% diện tích tự nhiên
- Đất chưa sử dụng: 36,37ha, chiếm 0,002% diện tích tự nhiên
- Đất đô thị: 538,83ha, chiếm 0,03% diện tích tự nhiên
- Đất khu dân cư nông thôn; 2.519,79ha, chiếm 0,14% diện tích tự
nhiên”. [5; tr.37]
Như vậy, có thể nói đất đai của huyện Ứng Hòa khá đa dạng, hầu hết là
đất phù sa sông Hồng, có độ phì cao, thích hợp và rất tốt cho nhiều loại cây
trồng, đặc biệt là cây lương thực, rau, đậu, thực phẩm và cây ăn quả.
*Tài nguyên nước
Tài nguyên nước của Ứng Hoà chủ yếu từ ba nguồn: nước mặt, nước
ngầm và nước mưa.
Nước mặt: Trên địa bàn huyện có ba con sông lớn chảy qua: sông Đáy
chảy qua phía tây nam dài 31km, sông Nhuệ chảy qua phía đông nam dài
11km, sông Đào Vân Đình chảy từ Thanh Oai xuống trung tâm huyện dài
6km. Bên cạnh đó, với địa hình trũng tạo nên cho vùng nhiều ao, hồ. Tổng
diện tích mặt nước của huyện là 1,488ha. Nguồn nước của sông Đáy và sông
Nhuệ có chứa phù sa. Bên cạnh đó các sông, hồ, ao còn có vai trò quan trọng
trong việc tiêu thoát nước vào mùa mưa.
Nước ngầm: Hiện chưa có tài liệu đầy đủ về trữ lượng nước ngầm của
toàn huyện, nhưng theo khảo sát sơ bộ, nước ngầm của huyện có trữ lượng
lớn, mức thủy tĩnh cao, chỉ cần khoan sâu khoảng 15- 20m là đã có nước dùng
cho sinh hoạt, khoan sâu hơn 100m là có nguồn nước cho sản xuất công
nghiệp.
Nước mưa: Nguồn nước mưa phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và chế độ

13


mưa theo mùa. Với lượng mưa hàng năm lớn (1.900mm), Ứng Hòa có nguồn

chủ yếu số nhân khẩu và lao động tăng thêm. Năm 1996, dân số trung bình
của Ứng Hòa có 194.282 người, thì tổng số nhân khẩu trong các hợp tác xã
nông nghiệp có 188.363. Trong đó, lĩnh vực nông nghiệp có 176.595 người.
Như vậy, lao động nông nghiệp chiếm khoảng 80-90% tổng số lao động . Lao
động trong các ngành kinh tế khác (công nghiệp, xây dựng, thương nghiệp,
vận tải,…) chiếm số lượng không đáng kể.
Cơ cấu dân cư nông thôn và dân cư thành thị: Sự phát triển của các khu
công nghiệp, những thành tựu của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ,... đã thúc đẩy quá trình đô
thị hóa trên vùng đất Ứng Hòa. Cùng với sự ổn định của một bộ phận lớn cư
dân quần cư ở nông thôn là quá trình cư dân tập trung sinh sống ở các thị trấn,
thị tứ. Đây là bước chuyển tạo ra nét đặc trưng của huyện thuần nông dưới tác
động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Lao động: Trước đây, nguồn lao động dựa trên một số cơ cấu dân số trẻ,
gia tăng dân số còn cao, thì trong những năm đầu thế kỷ XXI trở lại đây,
nguồn lao động dồi dào lại được nâng cao về chất lượng. Về trình độ chuyên
môn, kỹ thuật của lực lượng lao động, đã có gần 20% lao động đã được đào
tạo chuyên môn, kỹ thuật. Khu vực trung tâm huyện và khu vực đô thị hóa
mạnh có lợi thế trong thu hút lao động có trình độ chuyên môn cao, thợ lành
nghề, càng có thêm động lực để phát triển trong những năm tới.
Những năm gần đây, số dân trong độ tuổi lao động tiếp tục gia tăng, là
một lợi thế về cung cấp nguồn nhân lực cho huyện. Số lao động có việc làm
trong nền kinh tế quốc dân tăng bình quân khoảng 1,45%/năm. Đến tháng 122012, tổng số lao động toàn huyện là 115.346 người, chiếm 60,8% dân số.
Nhu cầu giải quyết việc làm cho người lao động tăng thêm bình quân gần
3.500 người/năm. Công tác đào tạo nghề được quan tâm, mỗi năm có hàng
nghìn người được đào tạo nghề. Chất lượng nguồn nhân lực được tăng lên

15



Tổng chiều dài đường thôn, liên thôn là 86,67km đã cứng hóa bằng bê
tông được 65,66 km đạt 75,7% các tuyến đường này từ nay đến năm 2020 cần

17


đầu tư cải tạo lại vì hầu hết chưa có rãnh thoát nước, mặt đường nhỏ nhiều
đoạn xuống cấp, còn 21,01 km là đường đất, đường đá cấp phối cần đầu tư
cứng hóa.
Tổng chiều dài ngõ xóm là 212,66km, có 174,4km đã cứng hóa bằng bê
tông chiếm 82,2%. Còn lại 38,26 km là đường đất, đá cấp phối, đường gạch
đã xuống cấp. Do yêu cầu tăng dân số, sẽ có những khu dân cư mới nên cần
mở thêm các tuyến đường ngõ xóm có chiều dài 30km.
Tổng chiều dài đường trục chính nội đồng là 504km chiều rộng mặt
đường từ 1,5 đến 4,5m, chiều rộng nền đường từ 2,5 đến 6m, trong đó đã
cứng hóa được 35,1 km chiếm 7%, hện tại đã xuống cấp cần cải tạo lại, còn
lại 468,9 km là đường đất, đá cấp phối cần đầu tư mở rộng và cứng hóa đạt
chuẩn nhằm phục vụ nhu cầu đi lại, vận chuyển phân bón, vật tư và sản xuất
nông nghiệp. Trong đó có một số tuyến nội đồng đồng thời cũng là đường
giao thông phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân cần tính toán cải tạo đạt chuẩn
đường cao AH khu vực đồng bằng (theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận
tải).
Trên các tuyến đường giao thông trong huyện có 11 cầu phục vụ dân
sinh do huyện quản lý và 15 cầu dân sinh do xã quản lý, đến nay đã xuống
cấp không đảm bảo, đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân và nhu cầu phát triển
kinh tế trên địa bàn vì vậy cần được xây dựng lại theo cấp H30 và H10.
Như vậy, so với tiêu chí: đạt 35%.
* Thuỷ lợi
Hệ thống thủy lợi trên địa bàn cơ bản đáp ứng được nhu cầu phục vụ sản
xuất và dân sinh, tổng diện tích cần tưới tiêu là 27.552 ha (3vụ).

* Điện
Lưới điện huyện Ứng Hòa nằm trong hệ thống điện của thành phố Hà
Nội. Hệ thống cung cấp điện nguồn và phân phối điện cho huyện chủ yếu từ
trạm 110KV Vân Đình lấy từ trạm 110KV Hà Đông. Các đường trục truyền

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status