ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
TIỂU LUẬN MÔN PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI
ĐỀ TÀI: PHÂN TÍCH QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG SỰ
TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Văn Tiến
Lớp Luật kinh tế K15TN
Nhóm thực hiện:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Nguyễn Minh Ngọc
Nguyễn Thanh Tùng
Đỗ Anh Dũng
Nguyễn Duy Nguyên
Nguyễn Đình Phước
Trần Ái Vân
Buôn Ma Thuột, ngày 15/7/2016
Mục lục
được đảm bảo.
Cụ thể, nội dung nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự được thể hiện
trong Bộ luật Tố tụng dân sự như sau:
3
“1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm
quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có
đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu đó.
2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền chấm dứt,
thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi
phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội”.
Như vậy quyền tự định đoạt của đương sự là quyền tự quyết định tham gia tố
tụng dân sự, tự quyết dịnh quyền và lợi ích của họ trong tố tụng dân theo quy định
của pháp luật và trách nhiệm của tòa án giải quyết trong phạm vi yêu cầu của đương
sự trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong trong việc giải quyết các
tranh chấp thương mại bắt nguồn từ nguyên tắc bảo đảm quyền tự quyết của các bên
đối với các vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ dân
sự. Trong tố tụng dân sự, nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự thể hiện ở khả
năng những người tham gia tố tụng tự do định đoạt các quyền dân sự của mình và các
quyền, phương tiện tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại. Đó cũng
là quan niệm chung nhất về nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự được nhiều
luật gia trên thế giới chia sẻ. Trong Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam, quyền quyết
định và tự định đoạt của đương sự phải được thực hiện với vai trò tích cực và kiểm
soát từ phía Nhà nước (mà cụ thể là các cơ quan Toà án và Viện kiểm sát). Trong mối
quan hệ với nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, vai trò tích cực và kiểm
soát từ phía Nhà nước Việt Nam được biểu hiện rõ nét nhất ở hai khía cạnh: thứ nhất,
dân sự
* Cơ sở lý luận
Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự có quan hệ mật thiết với
quyền tự định đoạt của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng.
Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự xuất phát từ quyền tự định
đoạt của các chủ thể trong quan hệ pháp luật nội dung.
* Cơ sở thực tiễn
Xã hội ngày càng phát triển dẫn đến phát sinh ngày càng nhiều quan hệ dân sự
và không thể tránh khỏi mâu thuẫn. Giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp là một nhu cầu
tất yếu và giải quyết tại Tòa án là một trong các phương thức giải quyết tranh chấp.
Xuất phát từ bản chất của các quan hệ pháp luật dân sự là các bên có quyền tự định
đoạt và căn cứ nhu cầu giải quyết kịp thời, nhanh chóng các tranh chấp, pháp luật quy
định đương sự có quyền tự định đoạt trong tố tụng dân sự. Sau đây là những phương
thức giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật : Thương lượng; Hòa giải;
Trọng tài thương mại; Tòa án nhân dân.
6
Theo nguyên tắc này các bên tranh chấp trong hợp đồng kinh doanh quốc tế
hoàn toàn có quyền tự quyết định có đưa vụ việc ra xét xử tại tòa án hay không. Tức
là các bên đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu tòa án có thẩm
quyền giải quyết vụ việc. Tòa án chỉ thụ lý vụ việc khi có đơn khởi kiện và chỉ giải
quyết trong phạm vi khởi kiện đó. Trong quá trình tòa án giải quyết tranh chấp, các
bên tranh chấp có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu khởi kiện nếu sự thay đổi đó
không trái với pháp luật và đạo đức xã hội. Đây là một trong những nguyên tắc thể
hiện sự khác biệt rất lớn giữa tố tụng kinh tế và tố tụng hình sự. Trong tố tụng hình sự
thì các đương sự rất ít khi có quyền tự quyết định việc có đưa vụ việc ra tòa hay
không.
Bình đẳng trước pháp luật là nguyên tắc “hiến định” tức là đã được quy định
xâm phạm nhưng họ khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người khác hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước được pháp luật quy
định. Tuy nhiên, trên thực tế, thực hiện quyền khởi kiện, quyền yêu cầu vụ án thương
mại thường là những chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp trực tiếp bị xâm phạm. Việc
thực hiện quyền khởi kiện, quyền yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức là cơ sở pháp
lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự (Tố tụng dân sự). Không có hành vi
khởi kiện, hành vi yêu cầu thì sẽ không có quan hệ pháp luật Tố tụng dân sự.
2.2. Quyền quyết định và tự định đoạt đưa ra yêu cầu độc lập, phản tố
Về yêu cầu độc lập: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tham gia
tố tụng khi đã hình thành người khởi kiện, người bị kiện, để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tham gia tố
tụng hoặc là người chỉ có quyền lợi, hoặc là người có nghĩa vụ hoặc là người vừa có
quyền lợi, vừa có nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án tham gia tố tụng do chính họ chủ động hoặc theo yêu cầu của đương
sự hoặc theo yêu cầu của toà án. Về nguyên tắc, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bằng việc khởi kiện
một vụ án độc lập, nhưng khi họ tham gia tố tụng vào vụ kiện giữa người khởi kiện,
người bị kiện thì họ có thể bảo vệ mình một cách nhanh nhất, kịp thời nhất, hiệu quả
nhất là đưa ra yêu cầu độc lập. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
tham gia tố tụng có ba dạng: độc lập hoặc đứng về người khởi kiện, hoặc đứng về
người bị kiện.
Theo Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án tham gia tố tụng độc lập khi có các điều kiện sau: việc giải quyết vụ
án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ; yêu cầu độc lập của họ có liên quan
8
đến vụ án đang được giải quyết; yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng
một vụ án làm cho việc giải quyết được chính xác và nhanh hơn. Như vậy, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có yêu cầu độc lập là người có quyền lợi,
a) Yêu cầu phản tố để bù trư nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
b) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trư việc chấp nhận một phần
hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu
cầu độc lập.
c) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết
trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
3. Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước khi toà án ra quyết định đưa
vụ án ra xét xử sơ thẩm” (Điều 176).
Còn Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm
phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) hướng dẫn thi hành các quy định trong
Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng
dân sự tại phần I, mục 11 có nêu: “được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với
nguyên đơn nếu yêu cầu đó được coi là độc lập, không cùng về yêu cầu mà người
khởi kiện yêu cầu toà án giải quyết”.
Như vậy, quyền quyết định và tự định đoạt phản tố của người bị kiện chỉ được
thực hiện khi có những mối ràng buộc nhất định với yêu cầu khởi kiện của người
khởi kiện. Mặt khác, quyền quyết định và tự định đoạt phản tố chỉ được thực hiện tại
những thời điểm, những giai đoạn tố tụng nhất định. Việc quy định cụ thể các trường
hợp được phản tố bảo đảm cho người bị kiện thực hiện quyền quyết định và tự định
đoạt đưa ra các yêu cầu độc lập, phản tố để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình.
2.3. Quyền quyết định và tự định đoạt trong việc thay đổi, bổ sung, rút yêu
cầu
Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “1. Hội đồng xét xử chấp nhận việc
thay đổi, bổ sung yêu cầu của các đương sự, nếu việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của
họ không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập
ban đầu.
10
uỷ quyền cho người khác. Trong quá trình hoà giải, toà án giữ vai trò trung gian, giải
thích pháp luật, chứ không được hướng dẫn thương lượng, nội dung thoả thuận, bởi
vì quyền thương lượng, nội dung thoả thuận là nội dung của quyền quyết định và tự
định đoạt của đương sự. Tuy nhiên, Toà án chỉ công nhận thoả thuận của đương sự
11
khi thoả thuận đó phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội (Khoản 2, 3 Điều 180 Bộ
luật Tố tụng dân sự).
Theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm
phán TANDTC, tại phần I, mục 7 quy định: “Trường hợp có tranh chấp và có đơn
khởi kiện yêu cầu toà án giải quyết, nếu sau khi toà án thụ lý vụ án và trong thời hạn
chuẩn bị xét xử sơ thẩm các đương sự tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết
toàn bộ vụ án thì toà án phải lập biên bản về sự tự thoả thuận đó và ra quyết định
công nhận sự thoả thuận của đương sự theo quy định tại Điều 187 Bộ luật Tố tụng
dân sự”.
Còn tại phiên toà sơ thẩm, “trong trường hợp các đương sự thoả thuận được
với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp
luật hoặc trái đạo đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra quyết định công nhận sự thoả
thuận của đương sự về việc giải quyết vụ án” (Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự).
“Tại phiên toà phúc thẩm, nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án và thoả thuận của họ là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc trái đạo
đức xã hội thì Hội đồng xét xử ra bản án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận
sự thoả thuận của đương sự” (Điều 270 Bộ luật Tố tụng dân sự).
Và theo Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP phần III, mục 5 ngày 4/8/2006 của
Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ
ba “Thủ tục giải quyết vụ án tại tòa án cấp phúc thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự,
thì “Trường hợp trước phiên toà phúc thẩm, các đương sự đã tự thoả thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ án và các đương sự yêu cầu toà án cấp phúc thẩm công
nhận sự thoả thuận của họ, thì toà án yêu cầu các đương sự làm văn bản ghi rõ nội
phiên toà và tại phiên toà (trong vụ án không còn có kháng cáo, kháng nghị) thì vụ án
được đình chỉ. Người kháng cáo rút một phần kháng cáo trước khi bắt đầu phiên toà
và tại phiên toà (trong vụ án không còn có kháng cáo, kháng nghị) thì toà án cấp phúc
thẩm ra quyết định đình chỉ đối với những phần của vụ án mà người kháng cáo đã rút
kháng cáo khi trong vụ án không còn có kháng cáo, kháng nghị của người khác. Bản
án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực từ ngày toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình
chỉ.
- Đương sự, người đại diện của đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền
khiếu nại bản án, quyết định, hành vi tố tụng khi có căn cứ cho rằng bản án, quyết
định, hành vi tố tụng đó là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp
của mình. Căn cứ vào nguyên tắc các cơ quan nhà nước, người đứng đầu các cơ quan
nhà nước phải chịu trách nhiệm về hành vi công vụ do công chức của đơn vị mình
thực hiện. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét, giải
13
quyết kịp thời các khiếu nại và thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết cho
người khiếu nại.
Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong lĩnh vực khiếu nại, kháng
cáo là một trong những quyền tố tụng quan trọng, bảo đảm cho đương sự có điều kiện
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng như phát hiện, khắc phục, sửa chữa
những sai sót của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ
việc.
14
CHƯƠNG 2: NHỮNG BẤT CẬP VÀ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ
1. Bất cập trong việc áp dụng pháp luật về quyền quyết định và tự định
tụng cũng không có quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thể hiện yêu cầu
độc lập của mình như thế nào cũng như thời điểm tham gia và thẩm quyền của toà án
trong việc giải quyết yêu cầu tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
Pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự còn có nhiều mâu thuẫn, thiếu
thống nhất và không hợp lý. Ví dụ như, Điều 192 khoản 1 điểm c Bộ luật Tố tụng dân
sự quy định căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp người khởi kiện rút
đơn khởi kiện và được toà án chấp nhận. Quy định này vô hình trung đã làm hạn chế
quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện và đồng nghĩa với việc toà án
có quyền định đoạt, quyết định “ép buộc” người khởi kiện phải tiếp tục “cuộc chơi”,
mà cuộc chơi này lại là do họ mới là người có toàn quyền quyết định theo Điều 5 Bộ
luật Tố tụng dân sự.
Bộ luật Tố tụng dân sự được sửa đổi và bổ sung năm 2011 quy định thủ tục
giải quyết việc dân sự và vụ án dân sự là hai thủ tục khác nhau, mà không có quy
định sự chuyển hoá, dẫn đến phức tạp hoá, thiếu tính linh hoạt, mềm dẻo khi giải
quyết vụ việc dân sự. Ví dụ, đương sự muốn ly hôn với người mất tích thì toà án phải
thụ lý giải quyết việc yêu cầu tuyên bố mất tích trước, rồi tiếp tục thụ lý giải quyết vụ
án ly hôn.
Điều 269 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “việc người khởi kiện rút đơn khởi
kiện trước khi mở phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm phải được sự đồng ý của
người bị kiện” là bất hợp lý, mâu thuẫn, vi phạm nguyên tắc quyền quyết định và tự
định đoạt của đương sự.
Khoản 2 Điều 283 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định căn cứ để kháng nghị theo
thủ tục giám đốc thẩm là “Khi có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” là không
hợp lý. Bởi vì, trên thực tế nhiều trường hợp đương sự thấy có vi phạm nghiêm trọng
thủ tục tố tụng nhưng các bên vẫn đồng ý với nội dung bản án, quyết định của toà án
và tự nguyện thi hành án, nhưng bản án, quyết định đó vẫn bị người có thẩm quyền
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Đây là một khiếm khuyết, là sự can thiệp quá
sâu vào đời sống dân sự của đương sự, làm mất thời gian, lãng phí tiền bạc, vi phạm
nghiêm trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự đã được pháp luật ghi
quyền và nghĩa vụ đương nhiên khác nhau.
Bỏ quy định căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp người
khởi kiện rút đơn khởi kiện và được toà án chấp nhận, mà chỉ nên quy định “căn cứ
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong trường hợp người khởi kiện rút đơn khởi kiện”.
17
Bổ sung, sửa đổi quy định về trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự và vụ án
dân sự theo hướng có sự chuyển hoá về mối liên hệ giữa hai thủ tục này để linh hoạt,
mềm dẻo khi giải quyết vụ việc, kết thúc vụ việc một cách nhanh chóng mà vẫn bảo
đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Bỏ quy định “việc người khởi kiện rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên toà
hoặc tại phiên toà phúc thẩm phải được sự đồng ý của người bị kiện”, bởi nó mâu
thuẫn, vi phạm nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự được quy
định tại Điều 5, Điều 59 và Điều 218 Khoản 2 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bổ sung vào Khoản 2 Điều 283 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định căn cứ để
kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là “Khi có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố
tụng và có khiếu nại của đương sự”.
Ngoài ra, pháp luật cần quy định trách nhiệm của tòa án trong việc bảo đảm
thực hiện quyền quyết định và tư định đoạt của đương sự.
2.2. Nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân
Việc hiểu và thực hiện pháp luật tố tụng đối với những người tham gia tố tụng
có ý nghĩa cực kỳ quan trọng và cần thiết vì, khi những người này hiểu và thực hiện
đúng pháp luật tố tụng, họ sẽ bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của mình,
cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác và giúp cho cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng giải quyết vụ việc được nhanh chóng, kịp thời
và đúng pháp luật. Do đó, Nhà nước cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật,
nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân.
2.3. Nâng cao chất lượng giải quyết vụ việc
Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, quyền quyết định và tự
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011.
3.
Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải
quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng dân sự
4.
Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất "Những
quy định chung" của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004
5.
Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04/8/2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án
nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba "Thủ tục
giải quyết vụ án tại Toà án cấp phúc thẩm" của Bộ luật tố tụng dân sự
6.
Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự, tố
tụng hành chính, Tạp chí nghiên cứu lập pháp
19