Một số giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình sử dụng đất trên địa bàn huyện chương mỹ hà nội - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------

NGUYỄN THỊ LINH

SỐ LIỆU GỐC

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC MÔ HÌNH
SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN VĂN TUẤN

Hà Nội, 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
---------------------

NGUYỄN THỊ LINH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC MÔ HÌNH
SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI


Hà Nội, 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
---------------------

NGUYỄN THỊ LINH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC MÔ HÌNH
SỬ DỤNG ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHƯƠNG MỸ, HÀ NỘI

Chuyên ngành
Mã số

:

Kinh tế nông nghiệp

:

60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên ban tặng cho con
người. Luật đất đai năm 1993 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã
ghi: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu
dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng”. Đã trải
qua nhiều thế hệ, con người Việt Nam đã hy sinh biết bao xương máu để giữ vững
độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Ngày nay đất nước và con người Việt Nam đã và đang hội nhập ngày càng
sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, chúng ta đang bước những bước dài trong sự
nghiệp Công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Nhưng quá trình đô thị hóa diễn ra
nhanh dẫn đến quỹ đất nông nghiệp và đặc biệt là đất canh tác bị thu hẹp. Trong khi
đó, sự gia tăng dân số đã đến nhu cầu về lương thực, thực phẩm tăng nhanh tạo ra
sức ép đối với đất canh tác. Để giải quyết vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta đã ban
hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác.
Chương Mỹ một huyện cách trung tâm Hà Nội 20 km, có diện tích đất tự
nhiên là 23.240,92 ha có 295.988 dân sống phân bố trên 32 xã, thị trấn. Trên địa bàn
huyện trong thời gian qua đã xuất hiện các điển hình sản xuất và thâm canh giỏi, các
mô hình chuyển đổi đất trồng lúa sang các loại cây hàng hóa, cây đặc sản, các mô
hình đa canh mang lại hiệu quả kinh tế khá cao. Trước tình hình trên, việc nghiên
cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nhằm đề xuất các giải pháp nâng cao sức sản xuất
trên địa bàn huyện là rất cần thiết bởi vậy tôi lựa chọn đề tài:
“Một số giải pháp nâng cao hiệu quả các mô hình sử dụng đất trên địa bàn
huyện Chương Mỹ - Hà Nội”.
2. Mu ̣c tiêu Nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ đặc điểm, vai trò của đất với sản xuất nông nghiệp.
Hệ thống hóa các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả việc sử dụng đất trong nông nghiệp.


2

rồi sản xuất chuyên môn hoá lớn. Đến nay đã hình thành kinh tế tổ hợp “nông –
công – thương” làm nền tảng cho nông nghiệp hàng hoá lớn.
Đạt được kết quả đó là bởi Hà Lan có những chính sách vĩ mô đúng đắn,
sáng tạo từ nhiều năm. Trong đó phải kể đến việc tổ chức sản xuất nông nghiệp
đúng hướng và nổi bật là xây dựng hệ thống nông trại đủ sức làm nền tảng cho nền
nông nghiệp hàng hoá phát triển.[24]


4

 Kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp ở Đức
Là một nước có điều kiện tự nhiên không thuận lợi lắm nhưng sau chiến
tranh thế giới thư hai do tăng cường cơ giới hoá, chuyên mô hoá, hợp lý hoá sản
xuất, sử dụng ngày càng nhiều giống tốt, tiến hành tưới tiêu hợp lý nên năng suất đã
tăng mạnh.
Nông nghiệp nước Đức chuyển từ các trang trại vừa và nhỏ thành các trang
trại lớn nhờ vào sự liên kết với nhau. Nông nghiệp Đức được chuyên môn hoá cao
trên các lĩnh vực canh tác dựa trên các đặc điểm tự nhiên của từng vùng để phá huy
lợi thế so sánh.
Nhà nước Đức chủ trương xây dựng một nền nông nghiệp có tính cạnh tranh
cao và bền vững. Đặc biệt Đức chú trọng bảo vệ môi trường trong lĩnh vực nông
nghiệp và nông thôn. Ngoài ra Nhà nước Đức sử dụng các chính sách hỗ trợ gián
tiếp như thông qua các chương trình bảo vệ môi trường nông nghiệp, và đặc biệt chú
trọng đến việc đào tạo cho người nông dân. Gần đây Chính phủ Đức đặc biệt quan
tâm và đưa ra ba hướng nghiên cứu khoa học nông nghiệp của mình là: Đẩy mạnh
phát triển công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật sinh vật; Tăng cường việc vận
dụng tin tức điện tử, kỹ thuật trên mạng áp dụng trong nông nghiệp; Mở rộng hơn
nữa những phương thức trồng trọt vừa cho năng suất cao vừa bảo vệ được môi
trường hiệu quả. [27]
 Kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp ở Mỹ

đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu.
Thái Lan đã khuyến khích phát triển một số ngành mũi nhọn như sản xuất
hàng nông sản, thúc đẩy công nghiệp chế biến cho nông sản… cơ cấu lại mặt hàng
nông sản trong đó lúa, dứa, tôm sú, gà và cà phê là những mặt hàng chủ yếu. Bên
cạnh đó những chương trình làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích
như chương trình “One Tambon, One product – OTOP” (mỗi làng, một sảm phẩm)
và chương trình quỹ làng (village pund program).[18]
 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Là một trong những nước công nghiệp hàng đầu thế giới, Nhật Bản có một
nền nông nghiệp hiện đại với tỷ lệ cơ giới hoá trong nông nghiệp tương đối cao. Các


6

phương pháp canh tác truyền thống đều được thay thế bằng các loại máy cày, máy
ủi và nhiều loại máy móc khác nhờ vậy mà Nhật Bản đã tăng từ 9,5 triệu tấn năm
1950 lên 13 triệu tấn năm 1975.
Bên cạnh việc cơ giới hoá trong nông nghiệp thì Nhật Bản còn chú trọng phát
triển nông nghiệp du lịch, thực hiện đề án chươn trình phát triển “Mỗi làng, mỗi
nghề” trên cơ sở mỗi làng nghề chọn ra một sản phẩm chủ lực của mình, một sản
phẩm có khả năng cạnh tranh nhất và có trên thị trường rộng nhất để được hỗ trợ về
chính sách, vốn nhằm giúp người tham gia được hưởng lợi ích gia tăng nhiều nhất.
Đến nay chương trình đang được thực hiện với mục tiêu đưa mức tăng trưởng bình
quân của ngành nghề nông thôn ổn định và đạt 15%/năm; tăng kim ngạch xuất khẩu
đạt 20 – 22%, tạo trên 3000.000 việc làm đến năm 2015.[8]
Xu hướng chung trên thế giới hiện nay các nhà khoa học, nhà quản lý đang
tập trung mọi nỗ lực để nghiên cứu, cải tiến hệ thống giống cây trồng vật nuôi có
năng suất cao vào sản xuất để tăng giá trị trên 1 đơn vị canh tác. Đồng thời có các
giải pháp thích hợp để hỗ trợ nền nông nghiệp của đất nước phát triển toàn diện
trong giai đoạn mới.

triển kinh tế nông thôn. Rà soát bổ sung, điều chỉnh và thực hiện tốt chính sách đất
đai, thuế, tín dụng, đầu tư nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp, kinh tế trang trại,
hợp tác xã trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Đa dạng hoá các nguồn vốn để
phát triển mạnh hơn về cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội nông thôn, ưu tiên nâng cấp và
xây dựng hệ thống thuỷ lợi đồng bộ, tiếp tục đầu tư, phát triển giao thông nông
thôn…
Sáu là: Bằng chủ trương xây dựng “mỗi làng, một sản phẩm”, “Mỗi làng,
mỗi nghề” của Thái Lan và Nhật Bản đã đưa nông nghiệp của các quốc gia và vùng
lãnh thổ đạt hiệu quả kinh tế cao, giải quyết được số lượng lớn việc làm cho lao
động dư thừa trong nông thôn. Đó là một trong những biện pháp thúc đẩy sản xuất
nông nghiệp phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Các mô hình
này đã được một số tỉnh của Việt Nam thực hiện như Hà Nam, Hải Dương, Hà Tây
(cũ) …


8

Bảy là: Chủ trương xây dựng các trang trại quy mô lớn, tập trung sản xuất
theo hướng thân thiện bảo vệ môi trường ở Đức đã tăng hiệu suất sử dụng máy móc
thiết bị đồng thời phát huy được lợi thế so sánh của các vùng miền.
1.1.2. Ở Việt Nam
 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển sản xuất nông nghiệp
Tại hội nghị lần thứ Bảy của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá X của
Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định: nông nghiệp, nông thôn, nông dân có vị trí
chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, là cơ sở và là lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ
vững ổn định chính trị xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái. [18]
Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Nghị quyết
xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết sau:

Vấn đề này được nhiều tác giả nghiên cứu như trong chương trình KN01
(1991 – 1995) do Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì nghiên cứu hệ
thống cây trồng vật nuôi trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng núi trung du
phía Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long… [24]
Các công trình nghiên cứu của Lê Trọng Cúc (1971), Nguyễn Ngọc Bình
(1987), Lê Duy Thước (1991), Lê Thanh Hà (1993),… đã đề cập tới hệ thống cây
trồng trên đất dốc cho phép nâng cao năng suất cây trồng và bảo vệ môi trường sinh
thái ở nước ta. Trong những năm gần đây, do tác động của cơ chế thị trường đã xuất
hiện những mô hình sử dụng đất nông nghiệp mới, những công thức luân canh mới
đạt hiệu quả kinh tế cao trên từng vùng sinh thái. [24]
Trong những năm gần đây nhiều tác giả đã nghiên cứu thành công các loại
cây trồng phù hợp với đặc điểm địa hình cũng như điều kiện khí hậu của nước ta
như: giống ngô chịu hạn, giống lúa thơm đặc sản, giống TH3 – 4 của Viện sinh học
Nông nghiệp - trường Đại học Nông nghiệp I có đặc điểm sinh trưởng nhanh, có khả
năng chống chịu sâu bệnh, chống đổ, có năng suất ổn định từ 5,5 đến 8 tấn/ha… [29,
tr7].


10

Không chỉ dừng ở việc chọn và lai tạo các giống mới, tác giả Lê Quốc
Doanh, Nguyễn Quang Tin (2008) đã nghiên cứu và có kết luận về phương pháp sản
xuất ngô trên đất dốc bền vững và hiệu quả; kỹ thuật trồng cây địa lan đã cho thấy
rằng hiệu quả kinh tế của các mô hình sử dụng đật chịu ảnh hưởng rất nhiều nhân tố
như: Giống ,kỹ thuật, giá cả các yếu tố đầu vào … [6, tr3].
Tác giả Trương Ngọc Chi nghiên cứu về khả năng tiếp cận tiến bộ khoa học
kỹ thuật trong sản xuất lúa, tác giả đã đưa ra nhận định để tăng sự tiếp nhận và áp
dụng kỹ thuật của nông dân trồng lúa trước hết là phải nâng cao trình độ văn hoá,
kiến thức, nhận thức của người dân, sau đó là sự nỗ lực của cá thể và cả cộng đồng
cùng với sự chỉ đạo của địa phương. [5, tr25]

tục nghiên cứu, điều tra, đánh giá nhằm đưa ra cá giải pháp nâng cao giá trị sản xuất
và thu nhập trên một diện tích đất canh tác của nông hộ.
1.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
1.2.1.1. Khái niệm đất nông nghiệp
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, là điều kiện tồn
tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất.
C.Mác viết rằng: Đất là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện cần để
sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản
trong nông lâm nghiệp.
Luật đất đai 1993 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã viết:
“Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu
dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Trải qua
nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập. bảo vệ được
vốn đất đai như ngày nay!”.[16, tr1]
Như vậy, đất đai được dùng hầu hết vào các ngành sản xuất, các lĩnh vực của
đời sống, đất đai được phân thành các loại khác nhau và gọi tên theo lĩnh vực sử
dụng.


12

Với ý nghĩa đó: Đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất
của các ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc sử
dụng để nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp.
Thực tế Đất nông nghiệp được hiểu gồm đất đang sử dụng vào sản xuất nông
– lâm - thủy sản và đất có khả năng nông nghiệp. Trong đó đất có khả năng nông
nghiệp là đất chưa được sử dụng nhưng có khả năng sử dụng vào các mục đích sản
xuất nông nghiệp mà không cần đầu tư, cải tạo lớn và đất đã sử dụng vào nông

trái đất của chúng ta mới có bề mặt như hiện nay. Nói đất đai là sản phẩm của tự
nhiên là nói tới sự tồn tại khách quan của đất đai trước khi lao động xuất hiện với tất
cả thuộc tính lý học, sinh học, hoá học trong từng loại đất. Đất đai vận động theo
quy luật của tự nhiên và phụ thuộc vào các điều kiện của tự nhiên như thời tiết, khí
hậu, sông ngòi … ở mỗi khu vực. Các yếu tố tự nhiên cấu thành nên đất như vi sinh
vật, các yếu tố vi lượng, hàm lượng các chất, thành phần cơ giới… quy định độ phì
tự nhiên của các loại đất. Đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của
lao động bởi đất đai vốn là sản phẩm của tự nhiên, chỉ khi con người tiến hành khai
phát đưa đất hoang hoá vào sử dụng để tạo ra sản phẩm cho con người, thì ruộng đất
đã kết tinh lao động con người và đồng thời trở thành sản phẩm của lao động. Cũng
do vậy mà đất đai đòi hỏi con người trong quá trình khai thác, sử dụng phải bảo tồn
diện tích và các thuộc tính tự nhiên của ruộng đất, bên cạnh đó phải có các biện
pháp cải tạo bồi dưỡng thường xuyên chống sự suy kiệt đất đai.
 Đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động: Khác với các yếu tố
sản xuất khác, đất đai trở thành đối tượng lao động khi con người với các kỹ năng
của mình sử dụng các tư liệu sản xuất (cày, bừa…) nhằm làm thay đổi hình dạng và
tính chất của rộng đất, sử dụng các đặc tính lý học, sinh học và hoá học của ruộng
đất để tác động vào cây trồng, vật nôi. Đây là đặc điểm riêng của đất đai, đòi hỏi
người sử dụng phải sử dụng các biện pháp canh tác hợp lý đối với từng loại đất ở
từng khu vực nhất định. Khi đất đai là đối tượng lao động, chúng ta cần bố trí cây
trồng, vật nuôi phù hợp để tận dụng tối đa độ phì nhiêu của đất đai.
Đối với sản xuất nông nghiệp đất đai là TLSX không thể thiếu và không thể
thay thế được. Trong lịch sử sự phát triển của loài người có rất nhiều hình thức sản


14

xuất nông nghiệp tồn tại nhưng tất cả đều dựa trên nền tảng cơ bản TLSX chủ yếu là
đất đai. Ruộng đất với độ phì nhiêu tự nhiên và nhân tạo sẽ quyết định loại cây
trồng, vật nuôi nào sẽ được đưa vào sản xuất với quy mô nào. Ngoài ra, vị trí của

Quá trình kiến tạo của bề mặt trái đất đã tạo ra các loại đất khác nhau trên các
vùng, miền khác nhau, quan trọng hơn là do quá trình canh tác của con người theo
tập quán canh tác từng vùng, miền. Do vậy, đất đai có chất lượng không đồng đều
trong một khu vực hay trên một xứ đồng, một cánh đồng. Vì thế trong quá trình
canh tác sử dụng đất đai cần thiết phải cải tạo và bồi dưỡng đất, không ngừng nâng
dần độ đồng đều của ruộng đất ở từng cánh đồng, từng khu vực để đạt năng suất cây
trồng cao.
 Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không bị hao mòn và đào thải khỏi quá trình
sản xuất, nếu sử dụng hợp lý thì ruộng đất có chất lượng ngày càng tốt hơn.
Các tư liệu sản xuất khác sau thời gian sử dụng đều bị hao mòn hữu hình hoặc hao
mòn vô hình, cuối cùng sẽ bị đào thải khỏi quá trình sản xuất và thay thế bằng tư
liệu sản xuất mới, chất lượng cao hơn, giá rẻ hơn, còn Ruộng đất – tư liệu sản xuất
chủ yếu không bị hao mòn, nếu sử dụng hợp lý, chất lượng ruộng đất ngày càng tốt
hơn, sức sản xuất của ruộng đất lớn hơn, cho nhiều sản phẩm hơn trên một đơn vị
canh tác.
1.2.2. Một số khái niệm trong nghiên cứu về sử dụng đất
1.2.2.1. Kiểu sử dụng đất
Kiểu sử dụng đất là một dạng sử dụng đất được mô tả chi tiết hơn so với loại
hình sử dụng đất. Trong đánh giá đất đai một cách định lượng, dạng sử dụng đất nào
cũng chứa những kiểu sử dụng đất. Kiểu sử dụng đất thực ra không phải là một đơn
vị phân loại rõ ràng trong sử dụng đất đai. Nhưng, nó chỉ ra một đơn vị đất đai có
khả năng đo vẽ bản đồ, trong đó hệ thống biện pháp kỹ thuật được áp dụng, nó có
thể tính toán được đầu vào và đầu ra. Do đó kiểu sử dụng đất có thể được xem là
một trong những đối tượng hay đơn vị nghiên cứu và đánh giá hiệu quả sử dụng đất.
1.2.2.2. Hệ thống sử dụng đất
Theo FAO (1983) hệ thống sử dụng đất được hình thành khi một kiểu sử
dụng đất hoặc một loại hình sử dụng đất nào đó thể hiện trong một điều kiện cụ thể,
như việc bố trí các cây, con trên một diện tích nào đó. [24]




17

thời gian tức là mối quan hệ sinh thái vì vậy đối tượng nghiên cứu hệ thống cây
trồng là:
- Các công thức luân canh và hình thức đa canh.
- Cơ cấu cây trồng hoặc tỷ lệ diện tích dành cho mùa vụ cây trồng nhất định.
- Kỹ thuật canh tác cho cả hệ thống đó.
1.2.2.5. Mô hình sử dụng đất (MHSDĐ)
MHSDĐ có thể hiểu là một kiểu sử dụng đất hay một hệ thống sử dụng đất ở
địa phương nhưng nó thể hiện tính phổ biến, tính đại diện lâu dài.
 Các quan đểm về MHSDĐ
Hiện nay có rất nhiều các quan điểm, quan niệm khác nhau về MHSDĐ.
Quan điểm MHSDĐ đang được thay đổi dần dần, từ chỗ chỉ mang tính chất thuần
tuý là đáp ứng được nhu cầu của con người có lâu bền hay không? Có phù hợp với
năng lực thực tế của đất đai và các nguồn lực khác hay không?
 Đặc điểm chính của MHSDĐ
+ MHSDĐ mang tính đại diện cho một hoạt động sử dụng đất. Trong sản
xuất nông, lâm nghiệp bao gồm nhiều lĩnh vực: Nông nghiệp, Lâm nghiệp, chăn
nuôi…, các MHSDĐ phải đại diện cho từng lĩnh vực này như: nông nghiệp có
MHSDĐ lúa nước, mô hình vườn cây ăn quả…
+ MHSDĐ mang tính phổ biến: Có nghĩa là MHSDĐ đó có quy mô phải lớn
và đặc trưng cho khu vực đó.
+ MHSDĐ phải dễ nhận biết.
 Một MHSDĐ có hiệu quả khi nó đáp ứng được các nhu cầu chủ yếu sau
+ MHSDĐ phải phù hợp với đặc điểm, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, môi
trường sinh thái của vùng.
+ MHSDĐ phải có khả năng nhân rộng, dễ áp dụng và được người dân chấp
nhận.


đất sử dụng.


19

Hiệu quả sử dụng đất là mối quan tâm hàng đầu trong điều kiện diện tích đất
đai sử dụng trong sản xuất nông nghiệp đang ngày càng bị thu hẹp.
 Nội dung hiệu quả sử dụng đất
Từ những quan điểm trên, hiệu quả sử dụng đất được xem dưới ba góc độ:
Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả về mặt môi trường sinh thái.
- Hiệu quả kinh tế của sử dụng đất: Là kết quả hay lợi ích thu được từ hoạt
động trồng trọt và hoạt động chăn nuôi diễn ra trên 1 đơn vị diện tích đất sử dụng.
Các kết quả thu được bao gồm: số lượng sản phẩm sản xuất ra, giá trị sản phẩm, lợi
nhuận …
- Hiệu quả xã hội của việc sử dụng đất trong nông nghiệp: Là các tác động
của hoạt động canh tác trên đất tới các vấn đề xã hội ở địa phương như tác động tới
nhận thức và trình độ canh tác của người dân, vấn đề việc làm, thu nhập và đời
sống, văn hoá tinh thần, điều kiện sinh hoạt.
- Hiệu quả về mặt môi trường, sinh thái của việc sử dụng đất trong nông
nghiệp: Là việc các hoạt động canh tác của con người tới độ che phủ của cây trồng,
mức xói mòn, khả năng giữ đất, giữ nước của đất, đa dạng sinh học trong môi
trường sống…
Trong đề tài tác giả chỉ tập trung đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình
sử dụng đất.
 Bản chất hiệu quả sử dụng đất
Bản chất đánh giá hiệu quả mô hình sử dụng đất: Là sự tính toán, phân tích,
xem xét mối quan hệ giữa phần thu được của mô hình (vật chất và phi vật chất) từ
các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi diễn ra trên đất tính trên một đơn vị diện tích
đất sử dụng và các yếu tố tác động tới mối quan hệ trên.
Hiệu quả sử dụng đất trong nông nghiệp là xem xét phần thu được từ các

IC = (Cj x Pj)
Trong đó:

Cj là lượng tiêu hao vật chất loại j
Pj là giá của một đơn vị vật chất loại j

+ Giá trị gia tăng (VA)
Giá trị gia tăng (Value Added) là giá trị được sáng tạo ra của chủ thể kinh tế
trong một thời kỳ nhất định.
Giá trị gia tăng VA được xác định trên cơ sở lấy tổng doanh thu trừ đi các
khoản chi phí trung gian.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status