Các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong tác phẩm số đỏ, vỡ đê và giông tố của vũ trọng phụng - Pdf 44

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ HUYỀN TRANG

CÁC BIỂU THỨC ĐỒNG SỞ CHỈ
BIỂU THỊ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM SỐ ĐỎ,
VỠ ĐÊ VÀ GIÔNG TỐ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ HUYỀN TRANG

CÁC BIỂU THỨC ĐỒNG SỞ CHỈ
BIỂU THỊ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM SỐ ĐỎ,
VỠ ĐÊ VÀ GIÔNG TỐ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN TÚ QUYÊN


Cuối cùng tôi xin được gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, khích lê và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
và hoàn thành luận văn này.

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn

Đỗ Huyền Trang

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT .......................................................................... iv
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................... v
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ...................................................................................................... 1
3. Mục đích nghiên cứu ................................................................................................ 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................................ 3
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................ 4
6. Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................... 4
7. Bố cục của luận văn .................................................................................................. 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN .................................................................................... 6
1.1. Khái quát về sở chỉ và hiện tượng đồng sở chỉ ...................................................... 6
1.1.1. Khái quát về sở chỉ ............................................................................................. 6
1.1.2. Khái quát về hiện tượng đồng sở chỉ ................................................................ 16
1.2. Những vấn đề lý thuyết liên quan đến sở chỉ và hiện tượng đồng sở chỉ

3.1.2. Bộc lộ đặc điểm ngoại hình của nhân vật ......................................................... 56
3.2. Bộc lộ tính cách, thái độ của nhân vật ................................................................. 81
3.2.1. Bộc lộ tính cách của nhân vật: .......................................................................... 81
3.2.2. Bộc lộ thái độ của nhân vật ............................................................................... 89
3.3. Bộc lộ nghề nghiệp của nhân vật ....................................................................... 102
3.3.1. Nghề dạy học .................................................................................................. 102
3.3.2. Học sinh, sinh viên.......................................................................................... 103
3.3.3. Nghề khám, chữa bệnh ................................................................................... 103
3.3.4. Nghề buôn bán ................................................................................................ 105
3.3.5. Nghề đưa thư................................................................................................... 106
3.3.6. Nghề nghiệp mang tính chất nghệ thuật ......................................................... 106
3.3.7. Nghề thợ may.................................................................................................. 107
3.3.8. Nghề bói toán .................................................................................................. 107
3.3.9. Nghề hoạt động trong lĩnh vực thể thao ......................................................... 108
3.3.10. Nghề đi tu theo đạo Phật ở chùa ................................................................... 109

iv


3.3.11. Nghề nông ..................................................................................................... 110
3.3.12. Nghề lái đò .................................................................................................... 111
3.3.13. Nghề làm thợ................................................................................................. 111
3.4. Bộc lộ vị thế của nhân vật giao tiếp ................................................................... 112
3.4.1. Vị thế xã hội .................................................................................................... 112
3.4.2. Vị thế gia đình................................................................................................. 122
3.5. Tiểu kết .............................................................................................................. 127
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 129

v

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tổng số các nhân vật, tổng số các biểu thức đồng sở chỉ và tần số xuất hiện của
các biểu thức trong Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng .....................25
Bảng 2.2. Các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong Số đỏ .......................................26
Bảng 2.3: Các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong Vỡ đê ......................................27
Bảng 2.4: Các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong Giông tố ..................................28
Bảng 2.5. Số lượng và tần số xuất hiện của biểu thức tên riêng trong Số đỏ, Vỡ đê và
Giông tố ..................................................................................................................29
Bảng 2.6. Biểu thức tên riêng trong tác phẩm Số đỏ ..............................................................29
Bảng 2.7. Biểu thức tên riêng trong tác phẩm Vỡ đê .............................................................30
Bảng 2.8. Biểu thức tên riêng trong tác phẩm Giông tố .........................................................30
Bảng 2.9. Đặc điểm cấu tạo của biểu thức tên riêng ..............................................................34
Bảng 2.10. Số lượng và tần số xuất hiện của biểu thức miêu tả trong Số đỏ, Vỡ đê và
Giông tố ..................................................................................................................34
Bảng 2.11. Biểu thức miêu tả trong tác phẩm Số đỏ ..............................................................34
Bảng 2.12. Biểu thức miêu tả trong tác phẩm Vỡ đê..............................................................35
Bảng 2.13. Biểu thức miêu tả trong tác phẩm Giông tố .........................................................36
Bảng 2.14. Số lượng và tần số xuất hiện của biểu thức chỉ xuất trong Số đỏ, Vỡ đê và
Giông tố ..................................................................................................................40
Bảng 2.15. Biểu thức chỉ xuất trong tác phẩm Số đỏ .............................................................40
Bảng 2.16: Biểu thức chỉ xuất trong tác phẩm Vỡ đê.............................................................41
Bảng 2.17: Biểu thức chỉ xuất trong tác phẩm Giông tố ........................................................42

v


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Lịch sử ngôn ngữ học trước những năm 70 của thế kỷ trước chủ yếu quan tâm
đến cấu trúc nội tại của ngôn ngữ. Theo đó, những câu như Tôi đói, Hôm nay trời lạnh nhỉ


1


Nếu như vấn đề sở chỉ được nhiều nhà Việt ngữ học nghiên cứu thì hiện tượng
đồng sở chỉ chưa được quan tâm một cách thỏa đáng. Hiện nay, chúng tôi mới chỉ tìm
thấy có một công trình nghiên cứu về vấn đề này là Luận án Tiến sĩ “Sở chỉ và đồng sở
chỉ trong tiếng Việt” của Nguyễn Tú Quyên. Trong công trình này, tác giả đã chỉ ra các
cơ sở tạo lập, thay thế, nhận diện các biểu thức đồng sở chỉ trong tiếng Việt cũng như
vai trò của chúng. Tuy nhiên, đây là công trình nghiên cứu hiện tượng đồng sở chỉ nói
chung nên chưa chỉ ra được phong cách của nhà văn khi sử dụng các biểu thức này
trong tác phẩm. Điều này cho thấy, việc tìm hiểu hiện tượng đồng sở chỉ ở một tác giả
cụ thể là điều rất cần thiết.
1.4. Ba tác phẩm Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng được nhiều nhà
phê bình văn học đánh giá là bộ tam kiệt tiểu thuyết đồng sáng tác năm 1936 có nhiều
giá trị to lớn. Bộ tam kiệt tiểu thuyết này đề cập đến xã hội chuyển từ “phi ngã” sang
khẳng định bằng mọi cách và mọi giá cá tính và bản ngã của mỗi cá nhân, cá thể con
người. Đó là một xã hội mà yêu cầu giải phóng cá nhân, cá tính được đặt lên hàng đầu
(kể cả yêu cầu giải phóng bản năng, đề cao đời sống tình dục). Để thể hiện được nội
dung tư tưởng này, tác giả sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật độc đáo trong đó có việc
sử dụng các biểu thức đồng sở chỉ. Trong tác phẩm, các biểu thức này rất phong phú
và được thể hiện có chủ đích.
Những điều trình bày ở trên phần nào cho thấy tính cấp thiết của việc nghiên cứu
vấn đề đồng sở chỉ trong tác phẩm Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng.
2. Lịch sử vấn đề:
2.1. Tình hình nghiên cứu sở chỉ và đồng sở chỉ trong tiếng Việt
Sở chỉ không phải là vấn đề mới mẻ trong giới nghiên cứu ngôn ngữ học. Sự ra
đời của lý thuyết này gắn liền với sự hình thành và phát triển của Ngữ dụng học. Trong
các công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới, các tác giả đề cập đến hiện tượng
sở chỉ như một sự thừa nhận vai trò của nó trong việc hiểu giá trị chân thực của phát

mà chúng tôi chọn vấn đề này làm đối tượng nghiên cứu trong đề tài của mình.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đặt ra ba mục đích sau:
3.1. Tìm hiểu các biểu thức đồng sở chỉ trong tác phẩm Số đỏ, Vỡ đê và Giông
tố xét từ phương diện cấu trúc để thấy được đặc điểm của các biểu thức này trong hành
vi sở chỉ.
3.2. Tìm hiểu các biểu thức đồng sở chỉ trong tác phẩm Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố
xét từ phương diện ngữ nghĩa để thấy được căn cứ xây dựng các biểu thức của tác giả.
3.3. Phân tích vai trò của các biểu thức đồng sở chỉ trong tác phẩm.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, đề tài này phải thực hiện những nhiệm vụ
sau:

3


4.1. Trình bày cách hiểu về sở chỉ và đồng sở chỉ. Tìm hiểu những vấn đề lý
thuyết có liên quan đến đối tượng nghiên cứu của đề tài.
4.2. Thống kê, phân loại và miêu tả các biểu thức đồng sở chỉ trong tác phẩm
Số đỏ xét từ phương diện cấu trúc và ngữ nghĩa.
4.3. Phân tích giá trị của các biểu thức đồng sở chỉ trong tác phẩm.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các biểu thức thức đồng sở chỉ biểu thị
nhân vật (các biểu thức chỉ cá thể nhân vật).
5.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các biểu thức thức đồng sở chỉ biểu thị nhân
vật trong tác phẩm Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng về ba phương diện:
- Cấu tạo ngữ pháp;
- Ngữ nghĩa;


5


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương này trình bày hai vấn đề lớn, đó là:
- Khái quát về sở chỉ và hiện tượng đồng sở chỉ trong tiếng Việt
- Những vấn đề lý thuyết liên quan đến sở chỉ và hiện tượng đồng sở chỉ trong
tiếng Việt.
Những vấn đề lý thuyết trên là cơ sở cho việc nhận diện cũng như tìm hiểu đối
tượng nghiên cứu ở các phương diện khác nhau.
1.1. Khái quát về sở chỉ và hiện tượng đồng sở chỉ
1.1.1. Khái quát về sở chỉ
Nghĩa của từ và những hiện tượng liên quan được bàn đến khá sơ sài trong
Cấu trúc luận, do chỗ chủ nghĩa này chủ trương mô tả hình thức ngôn ngữ thông qua
những thế đối lập và phân bố trong một hệ thống ngôn ngữ. Từ và các hành động
ngôn từ được bàn đến với một nội dung phong phú hơn, khi các nhà triết học ngữ
nghĩa mà mở đầu là B. Carnap (1939) và B. Russell (1903) trong trào lưu triết học
ngữ nghĩa thực chứng, quan niệm rằng hành vi quan trọng nhất của con người là dùng
ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày. Và vì vậy, để hiểu nghĩa của từ phải thông qua
các hành động ngôn từ (J.R. Austin (1962) và J.R.Searle (1969)). Chính bằng cách
đặt vấn đề như vậy, mặt chức năng của ngôn ngữ được chú trọng hơn theo một tiếp
cận hoàn toàn mới: cấu trúc và các đặc điểm cấu trúc của từ hoặc của các cấu trúc lớn
hơn từ, suy cho cùng chỉ là những phương tiện giúp người nói nhận diện ra được
những sự vật có trong thực tế khách quan mà trong nội dung các thông điệp đã được
nhắc tới. Một câu có hình thức trần thuật vẫn có thể đảm đương nhiệm vụ của một
câu nghi vấn hay một câu cầu khiến. Vấn đề là câu đó được sử dụng vào lúc nào và
chủ đích của người nói là hướng tới cái gì, đã sử dụng những phương tiện gì đi kèm
hoặc kết hợp với câu đó khi biểu lộ những chủ đích này. Nói cách khác, cái quan

qua một biểu thức ngôn ngữ.
Cùng quan điểm với M.Green, G. Yule và A. Cruse viết: “Chúng ta, tốt hơn hết
là cho rằng chiếu vật là một hành vi nhờ nó mà người nói và người viết dùng các hình
thức ngôn ngữ nhằm làm cho người nghe hoặc người đọc biết được một sự vật nào đó”
[dẫn theo 70, tr.194].
Và:
“Dưới cái đầu đề sở chỉ, chúng ta sẽ gặp một trong những bình diện cơ bản, sống
còn nhất của ngôn ngữ và việc dùng ngôn ngữ, đó chính là mối quan hệ giữa ngôn ngữ
như là phương tiện giao tiếp giữa con người và cái thế giới mà chúng ta giao tiếp về
nó” [77, tr.137]; “Sở chỉ được quan tâm cùng với việc thể hiện các thực thể có trong
thế giới nhờ các phương tiện ngôn ngữ học” [77, tr.137].
Thừa nhận sở chỉ là một hành vi ngôn ngữ có nghĩa là các nhà ngôn ngữ học đã
đồng thuận khi cho rằng: sở chỉ không phải là “việc làm tự thân của ngôn ngữ mà là
7


của con người” [13, tr.192]. G. Yule nhấn mạnh: “Chúng ta cần phải biết rằng từ ngữ
- ở đây là biểu thức chiếu vật - tự chúng không quy chiếu được với bất cứ một cái gì
cả. Chỉ con người mới chiếu vật.” [dẫn theo 70, tr.192].
Từ sự khẳng định sở chỉ là một hành vi ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ
quan tâm đến các yếu tố làm nên hành vi sở chỉ.
Yếu tố thứ nhất rất dễ nhận diện, đó chính là “cái gì đó có trong thế giới” [77,
tr.17]. Bởi suy cho cùng, mục đích của sự sở chỉ là thông qua ngôn ngữ làm nảy ra
cái thực thể có trong thế giới và để cho người nghe xác định được thực thể đó. Vậy
yếu tố thứ hai là gì? A. Cruse cho rằng, yếu tố thứ hai chính là biểu thức ngôn ngữ
(linguistic expression). Một ví dụ được ông đưa ra để phân tích cho sự khẳng định
này:
(1) Geoge Bush is to visit Ireland in May.
(Tổng thống Geoge Bush sẽ đi thăm nước Ireland vào tháng 5)
Biểu thức Geoge Bush ở đây quy chiếu đến một vị tổng thống Hòa Kỳ. Người

nó khi danh từ này nằm trong phát ngôn, kiểu như:
(2) Hương lớp 7A học rất giỏi.
Nhờ định ngữ lớp 7A mà sở chỉ của từ Hương trong trường hợp này được xác
định (với điều kiện lớp 7A chỉ có một người tên là Hương, còn nếu lớp 2A có hai người
tên là Hương thì phải thêm các điều kiện khác). Đó là một con người cụ thể, phân biệt
với tất cả những người cụ thể khác (cũng có tên là Hương hoặc không có tên là Hương).
Tách từ Hương ra khỏi phát ngôn, Hương vẫn là một danh từ riêng nhưng chúng ta
không thể xác định được nghĩa sở chỉ của từ này, tức là không thể xác định được từ
Hương ở đây chỉ ai, tức chỉ đối tượng cụ thể nào.
+ Về khái niệm nghĩa sở chỉ, Cao Xuân Hạo nói rõ: Nghĩa sở chỉ của từ ngữ “là
mối liên hệ giữa từ ngữ và thế giới hiện thực”. [31, tr.104] Chẳng hạn:
(3) Cái bút ở trên bàn là của bạn Trang.
Cái bút trong trường hợp này đã xác định được sở chỉ bởi ta biết nó quy chiếu
đến đối tượng nào trong thực tế. Đây là một cái bút cụ thể của một nhân vật cụ thể.
Tuy nhiên, để hiểu được nghĩa sở chỉ của từ (cái) bút, người nghe phải có sự liên hệ
với thực tế khách quan, tức là phải biết được một vật như thế nào được gọi là (cái) bút,
nói khác đi là phải hiểu được nghĩa biểu vật của từ bút.
Cao Xuân Hạo còn nói thêm: “Việc xác định sở chỉ của từ ngữ không thuộc bình
diện nghĩa mà thuộc bình diện dụng pháp” [33, tr.54]. Tức là chỉ xác định được nghĩa
sở chỉ của từ ngữ khi chúng đi vào hoạt động.
Ví dụ:
(4) Tôi đói quá!
Khi phát ngôn này tồn tại ở dạng tĩnh tại, người nghe sẽ không thể xác định
được nghĩa sở chỉ của từ tôi bởi không biết tôi ở đây quy chiếu vào ai. Nhưng nếu câu
này phát ra bởi chủ thể A, tại thời điểm t, khi mà A vừa đi làm về và chưa ăn gì thì
người nghe sẽ dễ dàng xác định được nghĩa sở chỉ của từ tôi.

9



quy chiếu của từ hôm nay.
Tóm lại, cách hiểu về chiếu vật và vật quy chiếu (sở chỉ) của Đỗ Hữu Châu
không có gì khác so với cách hiểu của Cao Xuân Hạo.
10


+ Về khái niệm nghĩa sở chỉ, Đỗ Hữu Châu không gọi là nghĩa sở chỉ mà gọi là
nghĩa chiếu vật.
Theo ông, có thể hiểu về nghĩa chiếu vật (nghĩa sở chỉ) như sau:
Nghĩa chiếu vật là sự tương ứng giữa sự vật với một biểu thức chiếu vật. Biểu
thức chiếu vật là kết cấu ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu) được dùng để chiếu vật. Ví dụ:
(6) Con mèo nhà tôi rất thích bắt chuột.
Trong phát ngôn trên, con mèo nhà tôi là một biểu thức chiếu vật và biểu thức
chiếu vật này được cấu tạo bởi một cụm từ. Ở đây, con mèo nhà tôi có nghĩa chiếu vật
là chỉ một con mèo trong thực tế, đã được xác định, phân biệt với những sinh vật khác
cũng được gọi là mèo.
Nằm trong hệ thống, các từ có nghĩa biểu vật (và nghĩa biểu niệm). Nghĩa của
từ ghi trong từ điển là nghĩa biểu vật. Khi được sử dụng, nghĩa biểu vật của từ chuyển
hoá thành nghĩa chiếu vật. Ví dụ, từ mẹ khi chưa sử dụng (trong từ điển) có nghĩa biểu
vật là “người đàn bà có con, trong quan hệ với con” [71, tr.604]. Nhưng khi chúng ta
nói:
(7) a. Mẹ Hương là bác sĩ.
b. Mẹ Trang vừa đi chợ về.
c. Mẹ Minh đang buồn.
thì ba từ mẹ ở trong ví dụ (7) có nghĩa chiếu vật không giống nhau bởi nó chỉ ba
đối tượng khác nhau (ba bà mẹ cụ thể, khác nhau).
Như vậy, tương tự như cách hiểu về sở chỉ, cách hiểu về nghĩa sở chỉ (nghĩa
chiếu vật) của Đỗ Hữu Châu cũng đồng nhất với cách hiểu của Cao Xuân Hạo về khái
niệm này.
1.1.1.2. Khái niệm về sở chỉ

chỉ và làm cho người đọc khó nhận diện được đối tượng được đề cập đến.
Có hai trường hợp trùng tên riêng có thể xảy ra:
+ Các tên riêng trùng nhau nằm trong một phạm trù sự vật.
VD: Thủy là tên của nhiều người. Khi đó, để nhận diện hai đối tượng này, người ta
thường thêm tiểu danh vào sau tên riêng, kiểu như: Thủy cận, Thủy kều, v.v…
+ Các tên riêng trùng nhau không nằm trong một phạm trù sự vật.
VD: Hương Giang có thể là tên của một cô gái, có thể là tên của một dòng sông,
có thể là tên của một khách sạn. Để phân biệt 3 đối tượng này, người ta sẽ thêm danh
từ chung vào trước tên riêng, kiểu như: sông Hương Giang, khách sạn Hương Giang,
cô Hương Giang.
Tóm lại, dùng tên riêng là một trong những phương thức sở chỉ.
b. Phương thức dùng biểu thức miêu tả
Không phải sự vật, đối tượng nào trong hiện thực khách quan cũng có tên riêng.
Nói cách khác, không phải sự vật, đối tượng nào cũng đặt được tên riêng cho nó. Người
ta không thể đặt tên cho từng cái bút, cái cây, từng ngôi nhà bởi số lượng của chúng
12


trong hiện thực là vô số. Song các sự vật, đối tượng này nếu được đưa vào phát ngôn
(dưới hình thức tên chung), chúng phải được người nghe (đọc) xác định đó là sự vật,
đối tượng cụ thể nào.
Để người nghe (đọc) hiểu được nghĩa sở chỉ của những từ ngữ không phải là tên
riêng đó, ngoài ngữ cảnh cụ thể, người ta còn thường dùng yếu tố miêu tả đi kèm với
tên chung và nhờ yếu tố miêu tả này mà ta tách được sự vật - nghĩa sở chỉ (nghĩa chiếu
vật) ra khỏi các sự vật cùng loại.
Chẳng hạn:
Đứng trước vài cái váy trong đó có một cái váy màu tím, A nói:
(9) “Cái váy đẹp quá!”
Trong trường hợp này, ta chưa xác định được nghĩa sở chỉ của váy vì chưa biết
A muốn chỉ cái váy cụ thể nào.

tượng khác đang cùng xuất hiện. Do đó, trong một ngữ cảnh cụ thể, nghe phát ngôn
trên, người nghe sẽ dễ dàng nhận diện được đối tượng mà người nói muốn quy chiếu
đến là đối tượng nào.
Cần phải nói thêm rằng, một biểu thức miêu tả được coi là xác định khi biểu
thức đó có tính duy nhất trong thế giới khả hữu - hệ quy chiếu. Chẳng hạn như để phát
ngôn (11) thực hiện được chức năng quy chiếu hoàn hảo, chỉ một đối tượng được có
đặc điểm mặc áo tím. Nếu trong bối cảnh, có hai đối tượng cùng có đặc điểm này, rõ
ràng biểu thức sẽ không giúp cho người nghe xác định được đối tượng mà biểu thức
quy chiếu.
- Biểu thức miêu tả không xác định:
Khi nghĩa sở chỉ của một biểu thức chưa được người nói và người nghe biết thì
biểu thức đó sẽ là biểu thức miêu tả không xác định.
Biểu thức miêu tả không xác định được đánh dấu bằng mạo từ a/ un trong tiếng
Anh và une/ des trong tiếng Pháp. Trong tiếng Việt, “biểu thức miêu tả không xác định
thường bắt đầu bằng một với danh từ có hoặc không có loại từ ở giữa” [13, tr.223]. Theo
đó, một cái bút, một người đàn bà, một quyển sách sẽ được coi là những biểu thức miêu
tả không xác định.
Do nghĩa sở chỉ của biểu thức miêu tả không xác định chưa được người nói và
người nghe biết cho nên biểu thức này thường có vai trò dẫn nhập. Thông qua biểu
thức, sự vật/ đối tượng lần đầu tiên được đưa vào diễn ngôn. Sau lần đầu tiên này, sự
vật/đối tượng sẽ được biểu thị bằng các biểu thức miêu tả xác định.
c. Phương thức dùng chỉ xuất
Chỉ xuất là phương thức xác định nghĩa sở chỉ bằng ngôn ngữ dựa trên hành
động chỉ trỏ. Ví dụ, ta có phát ngôn sau đây:
(12) Ngôi nhà này mới xây.
Từ này trong ví dụ trên đã tách được Ngôi nhà ra khỏi một tập hợp các ngôi nhà
khác để ta có thể xác định được đó là ngôi nhà nào.
Khác với các biểu thức miêu tả, các biểu thức chỉ xuất thực hiện hành vi sở chỉ
thông qua chức năng định vị, có nghĩa là “chiếu vật (sở chỉ) thông qua việc xác định vị
14

(14) Con đi học đây bố ạ.
Con là danh từ thân tộc được dùng để chỉ ngôi thứ nhất. Bố là danh từ thân tộc
được dùng để chỉ ngôi thứ hai.
• Dùng danh từ chỉ các chức vụ hoặc nghề nghiệp để xưng hô. Ví dụ:
(15) Cho tôi gặp hiệu trưởng được không ạ?
Hiệu trưởng là từ chỉ chức vụ được dùng để chỉ ngôi thứ ba.

15


(16) Thưa cô giáo, tôi là phụ huynh của em Hương ạ.
Cô giáo là danh từ nghề nghiệp được dùng để chỉ ngôi thứ hai.
- Phạm trù chỉ xuất không gian:
“Chỉ xuất không gian là phương thức chiếu vật (sở chỉ) bằng cách định vị sự vật
- nghĩa chiếu vật (nghĩa sở chỉ) (sự vật được nói tới trong diễn ngôn) theo quan hệ
không gian với sự vật mốc” [26, tr.310].
Một ví dụ của Đỗ Hữu Châu:
(17) Cuốn sách này rất thú vị.
Trong biểu thức cuốn sách này, danh từ ở vị trí trung tâm (cuốn sách) biểu thị
sự vật được định vị; từ này định vị cuốn sách trong tương quan với người nói.
- Phạm trù chỉ xuất thời gian:
“Chỉ xuất thời gian là phương thức chiếu vật (sở chỉ) thời gian bằng cách định
vị thời gian - nghĩa chiếu vật (nghĩa sở chỉ) theo quan hệ thời gian với một thời gian
mốc (thời gian trung tâm chỉ xuất)” [13, tr.329].
Ví dụ:
(18) Người lúc nãy là bạn của tôi.
Người lúc nãy là một biểu thức chỉ xuất thời gian và để xác định được nghĩa sở
chỉ của biểu thức này, người nghe phải dựa vào mốc định vị thời gian là lúc nãy.
Tóm lại, muốn hiểu được nghĩa của phát ngôn, phải nắm được nghĩa sở chỉ của
biểu thức sở chỉ trong phát ngôn đó. Có ba phương thức sở chỉ, đó là dùng tên riêng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status