PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay lao động chính là hoạt động tay chân và trí óc của con người nhằm tác
động biến đổi các vật phẩm tự nhiên thành các vật phẩm có ích đáp ứng với nhu cầu sử
dụng của con người. Chính vì thế mà trong các doanh nghiệp thì tiền lương là yếu tố
cơ bản quyết định đến quá trình sản xuất kinh doanh có diễn ra liên tục, thường xuyên
hay ngưng trễ thì chúng ta phải trả phần thù lao xứng đáng với công sức của người lao
động bỏ ra. Thù lao của người lao động được đo bằng mức lương mà người sử dụng
lao động trả cho người lao động.
Tiền lương chính là biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp phải trả cho người lao
động tương ứng với thời gian chất lượng và kết quả lao động mà họ đã cống hiến. Tiền
lương chính là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động. Ngoài ra chế độ các khoản
trích theo lương là hình thức khuyến khích, thúc đẩy động lực của người làm việc như
các khoản: tiền phụ cấp nghề nghiệp, trợ cấp, BHXH, tiền thưởng, bảo hộ lao động…
Đối với doanh nghiệp thì chi phí tiền lương là một bộ phận chi phí cấu thành nên giá
thành sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra. Chính điều này nên doanh
nghiệp cần phải quan tâm đến người lao động và phải trả lương xứng đáng với công
sức người lao động, thông qua việc tính lương và các khoản trích theo lương đúng đắn,
kịp thời sẽ kích thích người lao động làm việc đúng thời gian quy định và hiệu qua
đem lại chất lượng tốt cho những sản phẩm làm ra. Từ đó sẽ nâng cao được năng suất
lao động, tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm sẽ làm tăng lợi nhuận tạo
cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả.
Công ty TNHH TMTH Tuấn Việt là công ty kinh doanh trong lĩnh vực thương mại,
phạm vi hoạt động lớn, nhân lực nhiều, đa dạng các loại hàng kinh doanh và thương
mại, lao động của công ty đa cấp, đa bậc, đa hình thức. Vì vậy công tác hạch toán
lương cũng nhiều phức tạp, việc trả lương phải trải qua nhiều khâu, nhiều cấp quản lý.
Do đó hạn chế không nhỏ đến thời gian và quy trình trả lương. Điều này ảnh hưởng
không nhỏ đến nhu cầu tài chính của người lao động và đời sống của họ. Vì vậy, việc
thực hiện công tác kế toán kịp thời và trả lương, thưởng kịp thời là một yêu cầu rất
quan trọng. Trước những vai trò của công tác kế toán tiền lương và các khoản trích
theo lương, việc tổ chức công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại
Thương mại tổng hợp Tuấn Việt.
Phạm vi nghiên cứu
2
+ Thực trạng các thông tin về tổng quan nguồn lao động, hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty trong 3 năm 2014-2016
+ Nội dung tiền lương, các khoản phải trích theo lương và cách hạch toán lương
của công ty trong tháng 01 năm 2017
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, em đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp thu thập số liệu, quan sát: bằng việc sử dụng phương pháp phỏng
vấn trực tiếp và nghiên cứu, tìm hiểu các sổ sách, báo cáo kế toán từ phòng Tài vụ và
phòng tổ chức hành chính của công ty để thu thập những số liệu cần thiết cho đề tài.
- Phương pháp phân tích: trên cơ sở hệ thống số liệu thu thập được, thông qua
sàng lọc xử lý số liệu để từ đó là cơ sở cho việc phân tích thực tế hoạt động của đơn vị.
- Phương pháp tổng hợp, phân bổ: thông qua việc tổng hợp những số liệu, chứng
từ làm cơ sở để tiến hành nghiên cứu.
- Phương pháp kế toán:
+ Phương pháp chứng từ kế toán: là phương pháp chứng từ kế toán phản ánh các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực sự hoàn thành theo thời gian và địa điểm phát sinh
của nghiệp vụ kinh tế vào các bản chứng từ kế toán và vật mang tin
+ Phương pháp tính giá: Là phương pháp thông tin và kiểm tra về chi phí trực
tiếp và gián tiếp cho từng loại hoạt động. từng loại tài sản.
+ Phương pháp đối ứng tài khoản: Đối ứng tài khoản là phương pháp thông tin
và kiểm tra quá trình vận động của mỗi loại tài sản. nguồn vốn và quá trình kinh doanh
và mối quan hệ biện chứng được phản ánh vào trong mỗi nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
+ Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán: Phương pháp náy dùng để kiểm tra
Về tổng thể tiền lương được xem như là một phần của quá trình trao đổi giữa
doanh nghiệp và người lao động.
- Người lao động cung cấp cho họ về mặt thời gian, sức lao động, trình độ nghề
nghiệp cũng như kỹ năng lao động của mình.
- Đổi lại, người lao động nhận lại doanh nghiệp tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp
xã hội, những khả năng đào tạo và phát triển nghề nghiệp của mình.
Đối với thành phần kinh tế tư nhân, sức lao động rõ ràng trở thành hàng hoá vì
người sử dụng tư liệu sản xuất không đồng thời sở hữu tư liệu sản xuất. Họ là người
làm thuê bán sức lao động cho người có tư liệu sản xuất. Giá trị của sức lao động
thông qua sự thoả thuận của hai bên căn cứ vào pháp luật hiện hành.
Đối với thành phần kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước, tập thể người lao động từ
giám đốc đến công nhân đều là người cung cấp sức lao động và được Nhà nước trả
công. Nhà nước giao quyền sử dụng quản lý tư liệu sản xuất cho tập thể người lao
động. Giám đốc và công nhân viên chức là người làm chủ được uỷ quyền không đầy
đủ, và không phải tự quyền về tư liệu đó. Tuy nhiên, những đặc thù riêng trong việc sử
dụng lao động của khu vực kinh tế có hình thức sở hữu khác nhau nên các quan hệ
thuê mướn, mua bán. hợp đồng lao động cũng khác nhau, các thoả thuận về tiền lương
và cơ chế quản lý tiền lương cũng được thể hiện theo nhiều hình thức khác nhau.
5
Tiền lương là bộ phận cơ bản (hay duy nhất) trong thu nhập của người lao
động, đồng thời là một trong các chi phí đầu vào của sản xuất kinh doanh của xí
nghiệp.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về tiền lương, nhưng định nghĩa nêu lên có tính
khái quát được nhiều người thừa nhận đó là: Tiền lương là giá cả sức lao động được
hình thành theo thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động phù hợp
với các quan hệ và các quy luật trong nền kinh tế thị trường [5].
Cùng với khả năng tiền lương, tiền công là một biểu hiện, một tên gọi khác của
Những quan niệm trên đây về tiền lương đã bị coi là không phù hợp với những
điều kiện đặc điểm của một nền sản xuất hàng hoá.
Bản chất phạm trù tiền lương theo cơ chế thị trường:
Việc trả công lao động được tính toán một cách chi tiết trong hạch toán kinh doanh của
các đơn vị cơ sở thuộc mọi thành phần kinh tế. Để xác định tiền lương hợp lí cần tìm
ra cơ sở để tính đúng, tính đủ giá trị của sức lao động. Người lao động sau khi bỏ ra
sức lao động, tạo ra sản phẩm thì được một số tiền công nhất định.Vậy có thể coi sức
lao động là một loại hàng hoá.một loại hàng hoá đặc biệt. Tiền lương chính là giá cả
hàng hoá đặc biệt đó - hàng hoá sức lao động. Hàng hoá sức lao động cũng có mặt
giống như mọi hàng hoá khác là có giá trị. Người ta định giá trị ấy là số lượng tư liệu
sinh hoạt cần thiết để sản xuất ra nó. Sức lao động gắn liền với con người nên giá trị
sức lao động được đo bằng giá trị các tư liệu sinh hoạt đảm bảo nhu cầu tối thiểu cho
cuộc sống (ăn, ở, học hành,đi lại ...) và những nhu cầu cao hơn nữa. Song nó cũng phải
chịu tác động của các quy luật kinh tế thị trường.
Vì vậy, về bản chất tiền công, tiền lương là giá cả của hàng hoá sức lao động, là
động lực quyết định hành vi cung ứng sức lao động. Tiền lương là một phạm trù của
kinh tế hàng hoá và chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan. Tiền lương
cũng tác động đến quyết định của các chủ doanh nghiệp để hình thành các thoả thuận
hợp đồng thuê lao động. [2]
1.1.1.3. Chức năng của tiền lương
Tiền lương là nguồn thu nhập chủ yếu của người lao động, các doanh nghiệp
thường sử dụng tiền lương làm đòn bẩy để khuyế khích tinh thần tích cực lao động là
nhân tố thúc đẩy để tăng năng suất lao động. Vì vậy tiền lương có các chức năng sau:
- Chức năng đòn bẩy cho cho việc kinh doanh của doanh nghiệp.
Tiền lương gắn liền với lợi ích của người lao động, nó là động lực kích thích
năng lực sáng tạo, ý thức lao động trên cơ sở đó thúc đẩy tăng năng suất lao động. Bởi
vậy tiền lương một mặt gắn với lợi ích thiết thực của người lao động và mặt khác nó
7
8
1.1.1.4. Ý nghĩa của tiền lương
- Tiền lương là công cụ để thực hiện các chức năng phân phối thu nhập quốc dân,
các chức năng thanh toán giữa người sử dụng sức lao động và người lao động.
- Tiền lương nhằm tái sản xuất sức lao động thông qua việc trao đổi tiền tệ do thu
nhập mang lại với các vật dụng sinh hoạt cần thiết cho người lao động và gia đình họ.
- Kích thích con người tham gia lao động, bởi lẽ tiền lương là một bộ phận quan
trọng của thu nhập, chi phối và quyết định mức sống của người lao động. Do đó là
công cụ quan trọng trong quản lí. Người ta sử dụng nó để thúc đẩy người lao động
hăng hái lao động và sáng tạo, coi như là một công cụ tạo động lực trong sản xuất kinh
doanh (SXKD)
1.1.1.5. Quỹ tiền lương
Là toàn bộ số tiền lương trả cho số CNV của doanh nghiệp doanh nghiệp quản lí, sử
dụng và chi trả lương. Quỹ tiền lương của doanh nghiệp gồm:
- Tiền lương sản trả cho người lao động trong thời gian làm việc thực tế và các
khoản phụ cấp thường xuyên như phụ cấp làm đêm. thêm giờ, phụ cấp khu vực…
- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất, do những
nguyên nhân khách quan, thời gian nghỉ phép.
- Các khoản phụ cấp thường xuyên: Phụ cấp học nghề, phụ cấp thâm niên, phụ
cấp làm đêm, thêm giờ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp dạy nghề, phụ
cấp công tác lưu động, phụ cấp cho những người làm công tác khoa học kỹ thật có tài
năng
- Về phương diện hạch toán kế toán, quỹ lương của doanh nghiệp được chia
thành 2 loại: tiền lương chính, tiền lương phụ.
+ Tiền lương chính: Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian họ
thực hiện nhiệm vụ chính. Gồm tiền lương cấp bậc, các khoản phụ cấp
+ Tiền lương phụ: Là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian người
lao động nghỉ phép, nghỉ lễ tết, ngừng sản xuất được hưởng lương theo chế độ.
doanh nghiệp, phải thanh quyết toán với cơ quan quản lí quỹ BHXH.
1.1.2.2. Quỹ bảo hiểm y tế
Quỹ bảo hiểm y tế (BHYT) được sử dụng để thanh toán các khoản tiền khám
chữa bệnh, viện phí, thuốc thang... cho người lao động trong thời gian ốm đau sinh đẻ.
Quỹ này được hình thành bằng cách trích theo tỷ lệ 4,5% trên tổng tiền lương cơ bản,
trong đó 3% tính vào chi phí SXKD, còn 1,5% khấu trừ vào lương của người lao động.
10
1.1.2.3. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
Quỹ bảo hiểm thất nghiệp ( BHTN) nhà nước quy định doanh nghiệp phải trích
lập bằng 2% mức lương tối thiểu và hệ số lương của người lao động, trong đó 1% trích
vào chi phí kinh doanh của đơn vị, 1% người lao động phải nộp từ thu nhập của mình.
1.1.2.4. Kinh phí công đoàn
Để có nguồn chi phí cho hoạt động công đoàn hàng tháng doanh nghiệp còn
phải vụ, phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực, phụ cấp thu hút, phụ cấp đắt đỏ, phụ
cấp đặc biệt, phụ cấp độc hại, nguy hiểm, phụ cấp lưu động, phụ cấp thâm niên, phụ
cấp phục vụ quốc phòng an ninh) thực tế phải trả cho người lao động kể cả lao động
tính vào chi phí kinh doanh để hình thành kinh phí công đoàn. Tỷ lệ trích nộp là 2%
trên tổng tiền lương thực tế, được tính toàn bộ vào chi phí SXKD.
1.1.3. Nhiệm vụ của kế toán lao động và tiền lương
Tiền lương và các khoản trích theo lương không chỉ là vấn đề quan tâm riêng của
công nhân viên mà còn là vấn đề doanh nghiệp đặc biệt chú ý. Vì vậy, kế toán lao
động tiền lương cần phải thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Phản ánh đầy đủ chính xác thời gian và kết quả lao động của công nhân viên.
Tính toán đúng, thanh toán đầy đủ kịp thời tiền lương và các khoản trích theo lương
cho công nhân viên. Quản lý chặt chẽ việc sử dụng, chi tiêu quỹ lương.
- Tính toán phân bổ hợp lý chính xác chi phí về tiền lương (tiền công) và trích
BHXH, BHYT, KPCĐ cho các đối tượng sử dụng liên quan.
- Quản lý chất lượng lao động là quản lý năng lực mọi mặt của từng người lao
động trong quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm như: Sức khoẻ lao động, trình độ kỹ
năng – kỹ xảo, ý thức kỷ luật...
Chỉ có trên cơ sở nắm chắc số lượng, chất lượng lao động thì việc tổ chức, sắp
xếp, bố trí các lao động mới hợp lý làm cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp hoạt
động nhịp nhàng có hiệu quả cao. Ngược lại, không quan tâm đúng mức việc quản lý
lao động thì dẫn tới sức sản xuất của doanh nghiệp bị trì trệ, kém hiệu quả.
Đồng thời, quản lý lao động tốt là cơ sở cho việc đánh giá trả thù lao cho từng
lao động đúng, việc trả thù lao đúng sẽ kích thích được toàn bộ lao động trong doanh
nghiệp lao động sáng tạo, nâng cao kỹ năng - kỹ xảo, tiết kiệm nguyên vật liệu, tăng
năng suất lao động góp phần tăng lợi nhuận
12
1.2. KẾ TOÁN LAO ĐỘNG TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO
LƯƠNG THEO CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN
1.2.1. Chế độ tiền lương và các hình thức trả lương
1.2.1.1. Chế độ tiền lương
- Chế độ tiền lương cấp bậc.
Chế độ tiền lương do Nhà Nước ban hành, doanh nghiệp dựa vào đó để vận dụng
vào thực tế tuỳ theo đặc điểm sản xuất kinh doanh của đơn vị mình.
Chế độ tiền lương cấp bậc bao gồm 3 yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau: thang
lương, tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật.....
Thang lương là bảng xác định quan hệ tỷ lệ về tiền lương giữa các công nhân
cùng nghề hoặc nhóm nghề giống nhau theo trình độ cấp bậc của họ. Mỗi thang lương
gồm một số các bậc lương và các hệ số phù hợp với bậc lương đó. Hệ số này Nhà
Nước xây dựng và ban hành.
Ví dụ: Hệ số công nhân ngành cơ khí bậc 3/7 là 1,92, bậc 4/7 là 2,33... Mỗi
ngành có một bảng lương riêng.
động trực tiếp mà không định mức được sản phẩm.
Trong doanh nghiệp hình thức tiền lương theo thời gian được áp dụng cho nhân
viên làm văn phòng như hành chính quản trị, tổ chức lao động, thống kê, tài vụ - kế
toán. Trả lương theo thời gian là hình thức trả lương cho người lao động căn cứ vào
thời gian làm việc thực tế, theo ngành nghề và trình độ thành thạo nghề nghiệp, nghiệp
vụ kỹ thuật chuyên môn của người lao động.
Tuỳ theo mỗi ngành nghề tính chất công việc đặc thù doanh nghiệp mà áp dụng
bậc lương khác nhau. Độ thành thạo kỹ thuật nghiệp vụ chuyên môn chia thành nhiều
thang bậc lương, mỗi bậc lương có mức lương nhất định, đó là căn cứ để trả lương,
tiền lương theo thời gian có thể được chia ra.
+ Tiền lương ngày: Là tiền lương trích cho người lao động theo mức lương ngày
và số ngày làm việc thực tế trong tháng:
Tiền lương ngày
=
Tiền lương cơ bản của tháng
Số ngày làm việc theo quy định của một tháng
+ Tiền lương tháng: Là tiền lương trả cho công nhân viên theo tháng, bậc lương
được tính theo thời gian là một tháng.
Tiền lương tháng
=
Tiền lương ngày
×
Số ngày làm việc thực tế trong tháng
Tiền lương
giờ
x
Mức ít nhất 150 % hoặc
200 % hoặc 300 %
x
số giờ làm
thêm
Mức lương giờ được xác định:
Mức ít nhất 150%: so với tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường,
áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày thường.
Mức ít nhất 200%: so với tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường,
áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ hằng tuần.
Mức ít nhất 300%: so với tiền lương giờ thực trả của ngày làm việc bình thường,
áp dụng đối với giờ làm thêm vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương , chưa
kể tiền lương của ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương theo quy định của bộ
luật lao động, đối với người lao động hưởng lương theo ngày.
Hình thức tiền lương theo thời gian có mặt hạn chế là mang tính bình quân, nhiều
khi không phù hợp với kết quả lao động thực tế của người lao động.
- Hình thức tiền lương theo sản phẩm:
Khác với hình thức tiền lương theo thời gian, hình thức tiền lương theo sản phẩm
thực hiện việc tính trả lương cho người lao động theo số lượng và chất lượng sản phẩm
công việc đã hoàn thành.
TLSP (Tiền lương sản phẩm) = Sản lượng thực tế x Đơn giá tiền lương
Tiền lương được lãnh
của bộ phận gián tiếm
X
Tỷ lệ lương gián tiếp
của một người
Việc tính lương theo sản phẩm phải đảm bảo các điều kiện:
+ Phải xây dựng định mức và giao định múc cho người lao động một cách chính
xác, tù đó xây dựng đơn giá tiền lương hợp lý và áp dụng đơn giá sản phẩm khác nhau
cho những công việc khác nhau.
+ Tổ chức nghiệm thu và thống kê sản phẩm kịp thời, chính xác để loại bỏ những
sản phẩm không đạt chất lượng khi tính lương.
+ Phải đảm bảo tính công bằng, tức là những công việc giống nhau, yêu cầu chất
lượng giống nhau thì đơn giá và định mức sả lượng phải giống nhau
- Hình thức trả lương khoán:
Tiền lương khoán là hình thức trả lương cho người lao động theo khối lượng và
chất lượng công việc mà họ hoàn thành. hình thức này áp dụng cho nhưng công việc
nếu giao cho từng chi tiết, từng bộ phận sẽ không có lợi phải bàn giao toàn bộ khối
lượng công việc cho cả nhóm hoàn thành trong thời gian nhất định. hình thức này bao
gồm các cách trả lương sau:
Công thức tính tiền lương khoán:
Tiền lương khoán= Mức lương khoán x Tỷ lệ % hoàn thành công việc
Trả lương theo sản phẩm khoán có tác dụng làm cho người lao động phát huy
sáng kiến và tích cực cải tiến lao động để tối ưu hoá quá trình làm việc, giảm thơi gian
lao động, hoàn thành nhanh công việc giao khoán.
- Hình thức trả lương hỗn hợp:
15
- Bảng thanh toán tiền lương được lập tự động hàng tháng cho từng nhân viên
dựa vào một số chứng từ liên quan làm căn cứ tính lương tháng cho nhân viên. Cơ sở
16
để lập Bảng thanh toán tiền lương là các chứng từ liên quan như: Bảng chấm công,
phiếu xác nhận sản phẩm và công việc hoàn thành.
- Bảng thanh toán tiền thưởng (Mẫu số 03-LĐTL): Là chứng từ xác nhận số tiền
thưởng cho từng người lao động, làm cơ sở để tính thu nhập của mỗi người lao động
và ghi sổ kế toán.
- Phiếu xác nhận sản phẩm và công việc đã hoàn thành (Mẫu số 05-LĐTL): Là
chứng từ xác nhận số sản phẩm hoặc công việc hoàn thành của đơn vị hoặc cá nhân
người lao động. Làm cơ sở để lập bảng thanh toán tiền lương hoặc tiền công cho người
lao động.
- Bảng thanh toán tiền làm thêm (Mẫu số 06-LĐTL): Nhằm xác định khoản tiền
lương, tiền công làm thêm giờ mà người lao động được hưởng sau khi làm việc ngoài
giờ theo yêu cầu công việc.
- Bảng kê trích nộp các khoản theo lương ( Mẫu 10-LĐTL): Bảng kê trích nộp
các khoản theo lương dùng để xác định số tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh
phí công đoàn mà đơn vị và người lao động phải nộp trong tháng ( hoặc quý) cho cơ
quan bảo hiểm xã hội và công đoàn. Chứng từ này là cơ sở để ghi sổ kế toán về các
khoản trích nộp theo lương.
Theo Thông tư số: 200/2014/TT-BTC “Về việc ban hành Chế độ Kế toán doanh
nghiệp” đã quy định các mẫu sổ kế toán tương ứng với mỗi hình thức kế toán như sau:
- Đối với hình thức kế toán Nhật ký chung có: Sổ Nhật ký chung, Sổ Nhật ký
đặc biệt, Sổ Cái, Các sổ, thẻ kế toán chi tiết.
- Đối với hình thức kế toán Nhật ký - Sổ Cái có: Nhật ký - Sổ Cái, Các Sổ, Thẻ
kế toán chi tiết.
- Đối với hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ có: Chứng từ ghi sổ, Sổ Đăng ký
chức
- Tiền lương, tiền công và các khoản
khác đã trả cho CNV
- Kết chuyển tiền lương công nhân
viên chức chưa lĩnh
Dư nợ (nếu có): số trả thừa cho CNV chức
Dư có: Tiền công, tiền lương và các
khoản khác còn phải trả CNV chức.
- TK 338: “Phải trả và phải nộp khác”: Dùng để phản ánh các khoản phải trả và
phải nộp cho cơ quan pháp luật, cho các tổ chức, đoàn thể xã hội, cho cấp trên về kinh
phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, các khoản khấu trừ vào lương theo
quyết định của toà án (tiền nuôi con khi li dị, nuôi con ngoài giá thú, án phí....) giá trị
18
tài sản thừa chờ xử lý, các khoản vay mượn tạm thời, nhận ký quỹ, ký cược ngắn hạn,
các khoản thu hộ, giữ hộ...
Kết cấu và nội dung phản ánh TK338
TK 338
- Các khoản đã nộp cho cơ quan quản lý
- Trích KPCĐ, BHXH, BHYT theo tỷ lệ
quy định
- Tổng số doanh thu nhận trước phát đoàn
- 3384 Bảo hiểm y tế
- 3385 Phải trả về cổ phần hóa
- 3386 Bảo hiểm thất nghiệp
- 3387 Doanh thu nhận trước
- 3388 Phải nộp khác
1.2.4. Phương pháp hạch toán tổng hợp tiền lương và các khoản trích theo lương
1.2.4.1. Hạch toán tiền lương trong doanh nghiệp
TK 141. 138. 338. 333
TK334
(4)
TK 622. 627. 641. 642
(1)
19
TK 111. 112
TK 353
(5)
(2)
TK 512
TK3383
(6)
Có TK 141 – Tạm ứng
Có TK 138 – Phải thu khác
Trường hợp công nhân viên trong doanh nghiệp phải nộp Thuế thu nhập cá nhân cho
nhà nước theo quy định thì xác định số thuế phải nộp.
Nợ TK 334 – Phải trả người lao động
Có TK 3335 – Thuế thu nhập cá nhân
(5)
Khi ứng hoặc trả các khoản phải trả cho người lao động.
Nợ TK 334 – Phải trả người lao động
Có TK 111 – Tiền mặt
Có TK 112 – Tiền gửi ngân hàng
(6)
Thanh toán lương bằng sản phẩm.
Nợ TK 334 - Phải trả người lao động
Có TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ
Có TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp nhà nước
1.2.4.2. Hạch toán các khoản trích theo lương
TK 334
TK 338
(4)
TK 622. 627. 641. 642
(1)
Có TK 3386 – Bảo hiểm thất nghiệp
Nợ Khấu trừ vào lương các khoản BHXH, BHYT, BHTN.
Nợ TK 334 – Phải trả người lao động
Có TK 3383 – Bảo hiểm xã hội
Có TK 3384 – Bảo hiểm y tế
Có TK 3386 – Bảo hiểm thất nghiệp
(2)
Nhận BHXH từ cơ quan quản lý quỹ
Nợ TK 111, 112
Có TK 338
(3)
Căn cứ vào các chứng từ thanh toán BHXH cho người lao động
Nợ TK 3383 – Bảo hiểm xã hội
Có TK 334 – Phải trả người lao động
(4)
Căn cứ vào các chứng từ nộp tiền cho các cơ quan quản lý BHXH, BHYT,
BHTN, KPCĐ hoặc thanh toán các khoản chi thuộc KPCĐ tại đơn vị.
Nợ TK 338 (2, 3, 4, 6) – Phải trả. phải nộp khác
Có TK 111, 112
22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN LAO ĐỘNG TIỀN LƯƠNG
Diêm Thượng, phường Đức Ninh Đông, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng
Bình.Với số vốn ban đầu là 1,3 tỷ đồng dưới hình thức sở hữu tư nhân với gần 20 nhân
viên chủ yếu là lao động phổ thông. Cơ sở vật chất chủ yếu là thủ công, phương tiện
vân chuyển hàng hóa là xích lô và xe máy.... Đến nay, số vốn đã lên đến hàng chục tỷ
đồng, lao động trực tiếp khoảng 500 người với trình độ chuyên môn cao, cơ sở vật chất
được trang bị hiện đại như hê thống xe tải, hạ tầng IT, phần mềm ERP... Mặt khác, với
phong cách làm việc hiện đại, rõ ràng và hiệu quả công ty đã đem đến cho khách hàng
sự thoải mái và tin cậy cũng như ngày càng tạo được niềm tin cho các đối tác khi hợp
tác và tìm đến tạo mối quan hệ.
- 1992 - 2000: Doanh nghiệp tư nhân kinh doanh nhiều mặt hàng.
- 2001: Thành lập Công ty, trụ sở chính tại Đưc Ninh Đông, Đồng Hới, Quảng
Bình.
- 2006: Thành lập chi nhánh Huế, Quảng Trị.
- 2008: Thành lập chi nhánh Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi.
- 2011: Thành lập chi nhánh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa.
- 08/2013: Khai trương văn phòng mới chi nhánh Đà Nẵng.
- 10/2013: Thành lập trung tâm thương mại đầu tiên của Tuấn Việt tại Quảng
Bình
Qua hơn 15 năm hoạt động, Tuấn Việt đã xây dựng được năng lực cạnh tranh của
mình dựa trên các chương trình đào tạo bán hàng chuyên nghiệp, nâng cao trình độ
năng lực nhân viên, đầu tư cơ sở vật chất, kho hàng văn phòng, trụ sở đẹp và hiện đại.
Đặc biệt, Tuấn Việt đã mạnh dạn ứng dụng thành công CNTT trong việc quản lý hệ
thống phân phối, quản lý kinh doanh và quản lý nhân sự. Những yếu tố này đã giúp
Tuấn Việt trở thành thương hiệu kinh doanh có năng lực phân phối đa dạng sản phẩm
với nhiều công ty lớn trong cùng một thời điểm, nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường và
lấy được niềm tin của đối tác, khách hàng và người tiêu dùng. Đến năm 2011, Tuấn
Việt đã có 10 chi nhánh trải dài khắp 9 tỉnh miền trung từ Quảng Bình đến Khánh
Hòa. (Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định,
Phú Yên, Khánh Hòa)