Các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong tác phẩm Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụ (LV thạc sĩ) - Pdf 44

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

ĐỖ HUYỀN TRANG

CÁC BIỂU THỨC ĐỒNG SỞ CHỈ
BIỂU THỊ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM SỐ ĐỎ,
VỠ ĐÊ VÀ GIÔNG TỐ CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
Chuyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN TÚ QUYÊN

THÁI NGUYÊN - 2017


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo Sau đại học Trường
Đại học sư phạm Thái Nguyên, Ban giám hiệu và Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư
Phạm Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập
và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin đặc biệt bày tỏ lòng kính trọng và sâu sắc tới:
Tiến sĩ Nguyễn Tú Quyên - người cô giáo mẫu mực đã trực tiếp hướng dẫn tôi,
đã tận tình chỉ bảo cho tôi những kiến thức qúy báu không những trong chuyên môn
mà cả những kiến thức trong cuộc sống trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy, các Cô và các Bạn học viên trong lớp
chuyên ngành Ngôn Ngữ Việt Nam K22 đã cho tôi những kiến thức và những góp ý
chuyên môn quý báu trong suốt quá trình tôi học tập và làm đề tại tại bộ môn. Đồng

1.1.2. Khái quát về hiện tượng đồng sở chỉ ................................................................ 16
1.2. Những vấn đề lý thuyết liên quan đến sở chỉ và hiện tượng đồng sở chỉ
trong tiếng Việt ........................................................................................................... 17
1.2.1. Hoạt động giao tiếp và các nhân tố giao tiếp .................................................... 17
1.2.2. Khái quát về đoản ngữ, danh ngữ trong tiếng Việt ........................................... 20
1.3. Tiểu kết ................................................................................................................ 23
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC BIỂU THỨC ĐỒNG SỞ CHỈ BIỂU
THỊ NHÂN VẬT TRONG SỐ ĐỎ, VỠ ĐÊ VÀ GIÔNG TỐ CỦA VŨ
TRỌNG PHỤNG ...................................................................................................... 25
2.1. Đặc điểm cấu trúc của các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong Số
đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng .............................................................. 25
2.1.1. Đặc điểm cấu trúc của các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật qua
việc dùng tên riêng ...................................................................................................... 28

iii


2.1.2. Đặc điểm cấu trúc của các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật qua
việc dùng biểu thức miêu tả ........................................................................................ 34
2.1.3. Đặc điểm cấu trúc của các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật qua
việc dùng biểu thức chỉ xuất ....................................................................................... 40
2.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của các biểu thức đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong
Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ Trọng Phụng ......................................................... 46
2.2.1. Các biểu thức đồng sở chỉ là tên riêng .............................................................. 46
2.2.2. Các biểu thức đồng sở chỉ có nghĩa phi miêu tả ............................................... 46
2.2.3. Các biểu thức đồng sở chỉ có nghĩa miêu tả ..................................................... 47
2.3. Tiểu kết ................................................................................................................ 51
Chương 3: VAI TRÒ CỦA CÁC BIỂU THỨC ĐỒNG SỞ CHỈ BIỂU
THỊ NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM SỐ ĐỎ, VỠ ĐÊ VÀ GIÔNG TỐ
CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG ....................................................................................... 53

ngay cả đối với cái định nghĩa về câu mà chúng ta đang sử dụng.
Sang nửa cuối thế kỷ 20, sau khi nhận rõ những sai lầm của việc nghiên cứu câu
chỉ trong địa hạt riêng của nó, các nhà ngôn ngữ học bắt đầu chuyển dần sang hướng
tiếp cận mới, đó là nghiên cứu câu gắn với ngữ cảnh. Hướng tiếp cận này đánh dấu sự
ra đời của chuyên ngành Ngữ dụng học. Lúc này, ngôn ngữ bắt đầu “vận động theo
quỹ đạo hồi quy đi từ mô tả triệt để các yếu tố trong khung lý thuyết hẹp sang mô tả
các quá trình tương tác trong bối cảnh xã hội rộng lớn và toàn diện; từ thực thể ngôn
ngữ sang biểu hiện của lời nói; từ các biểu diễn bề mặt hình thức sang biểu diễn ngữ
nghĩa học; từ việc quên quyền lợi người dùng sang đề cao mặt dụng học của các biểu
lộ ngôn từ”.
Như vậy, có thể nói, sự ra đời của Ngữ dụng học thực sự là bước đột phá mới,
giải quyết được những bế tắc mà cú pháp truyền thống đang gặp phải.
1.2. Góp phần quan trọng vào việc giải quyết những bế tắc của cú pháp truyền
thống có lý thuyết về sở chỉ.
Sở chỉ là vấn đề đầu tiên mà các nhà logic học quan tâm và cũng là vấn đề thứ
nhất của ngữ dụng học. Trong hoạt động giao tiếp, hành vi sở chỉ giúp cho người nghe
(người đọc) nhận diện được đối tượng được quy chiếu, nhờ đó mới giải thuyết nghĩa
của phát ngôn.
Với vai trò quan trọng như vậy, vấn đề sở chỉ đã được tương đối nhiều các nhà
Việt ngữ học quan tâm nghiên cứu với những tên gọi khác nhau như chiếu vật, quy
chiếu, tham chiếu, sở chỉ. Nói điều này để thấy hiện tượng ngôn ngữ này không phải
là vấn đề nghiên cứu mới mẻ.
1.3. Trong giao tiếp, để quy chiếu một đối tượng, người ta không dùng một biểu
thức duy nhất mà sử dụng linh hoạt nhiều biểu thức. Các biểu thức khác nhau quy chiếu
vào một đối tượng như vậy được gọi là các biểu thức đồng sở chỉ.

1


Nếu như vấn đề sở chỉ được nhiều nhà Việt ngữ học nghiên cứu thì hiện tượng

nghiên cứu mới mẻ cần được quan tâm hơn. Xét thấy vấn đề nghiên cứu về hiện tượng

2


đồng sở chỉ mới chỉ có một tác giả tham gia nghiên cứu chuyên sâu, đó là tác giả
Nguyễn Tú Quyên với Luận án Tiến sĩ “Sở chỉ và đồng sở chỉ trong tiếng Việt” (Trên
cơ sở về nhân vật trong tác phẩm văn học).
2.2. Tình hình nghiên cứu các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng
Khi nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng đã có nhiều vấn đề xung quanh những tác
phẩm của ông, khen cũng lắm mà chê cũng nhiều. Đã nhiều người viết về tác phẩm của
Vũ Trọng Phụng, các ngòi bút tiểu luận đã khai thác sự tạo thành và mối tương quan
giữa những nhân vật độc đáo của ông với hoàn cảnh lịch sử, xã hội. Trong nghiên cứu
phê bình văn học những năm gần đây, nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu phê bình
có tên tuổi đã thông qua nhiều phương tiện thông tin báo chí, phát thanh, phát biểu về
tác phẩm và tác giả Vũ Trọng Phụng. Đáng chú ý là Hội thảo khoa học kỷ niệm 50 năm
ngày mất Vũ Trọng Phụng do Viện Văn học và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức tháng
10 - 1989, tại Văn miếu Hà Nội. Đã có hơn hai mươi bản tham luận của các Giáo sư,
Phó giáo sư, Tiến sĩ, các nhà nghiên cứu phê bình Văn học đọc tại hội nghị, bước đầu
nhận thức lại và khẳng định lại một lần nữa vị trí của nhà văn và tác phẩm trong văn
học sử Việt Nam. Qua việc nghiên cứu và tìm hiểu các tác giả đi trước chúng tôi nhận
thấy các tác giả đã nghiên cứu khá toàn diện về Vũ Trọng Phụng và sự nghiệp văn
chương của ông.
Tuy nhiên, có thể thấy, trong các công trình nghiên cứu về tác phẩm của Vũ
Trọng Phụng, chưa có công trình nào nghiên cứu về đồng sở chỉ. Đây chính là lý do
mà chúng tôi chọn vấn đề này làm đối tượng nghiên cứu trong đề tài của mình.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đặt ra ba mục đích sau:
3.1. Tìm hiểu các biểu thức đồng sở chỉ trong tác phẩm Số đỏ, Vỡ đê và Giông
tố xét từ phương diện cấu trúc để thấy được đặc điểm của các biểu thức này trong hành

Phương pháp nghiên cứu này được dùng để thu thập các biểu thức ngôn ngữ
được coi là đồng sở chỉ biểu thị nhân vật tác phẩm Số đỏ, Vỡ đê và Giông tố của Vũ
Trọng Phụng.
6.2. Phương pháp thống kê - phân loại:
Phương pháp này được dùng khi khảo sát các ngữ liệu để tìm ra số lượt sử dụng
của các cách gọi một nhân vật với những tên khác nhau trong bộ ba tác phẩm Số đỏ,
Giông tố và Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng.
6.3 Phương pháp miêu tả cấu trúc
Phương pháp nghiên cứu này được vận dụng khi miêu tả cấu trúc của các biểu
thức đồng sở chỉ cũng như tìm hiểu các thành tố ngôn ngữ cấu thành nên biểu thức.
4


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
Chương này trình bày hai vấn đề lớn, đó là:
- Khái quát về sở chỉ và hiện tượng đồng sở chỉ trong tiếng Việt
- Những vấn đề lý thuyết liên quan đến sở chỉ và hiện tượng đồng sở chỉ trong
tiếng Việt.
Những vấn đề lý thuyết trên là cơ sở cho việc nhận diện cũng như tìm hiểu đối
tượng nghiên cứu ở các phương diện khác nhau.
1.1. Khái quát về sở chỉ và hiện tượng đồng sở chỉ
1.1.1. Khái quát về sở chỉ
Nghĩa của từ và những hiện tượng liên quan được bàn đến khá sơ sài trong
Cấu trúc luận, do chỗ chủ nghĩa này chủ trương mô tả hình thức ngôn ngữ thông qua
những thế đối lập và phân bố trong một hệ thống ngôn ngữ. Từ và các hành động
ngôn từ được bàn đến với một nội dung phong phú hơn, khi các nhà triết học ngữ
nghĩa mà mở đầu là B. Carnap (1939) và B. Russell (1903) trong trào lưu triết học
ngữ nghĩa thực chứng, quan niệm rằng hành vi quan trọng nhất của con người là dùng
ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày. Và vì vậy, để hiểu nghĩa của từ phải thông qua

quan. Nói cách khác, sở chỉ chính là hành vi của người nói nhằm đồng nhất hóa nội
dung của một biểu thức ngôn ngữ với sự vật có trong thực tế. Như M.Green trong
Pragmatics and Natural languages understanding (1989) đã phát biểu: “Thuật ngữ
chiếu vật (sở chỉ) được dùng để chỉ cách mà người nói phát âm ra một biểu thức ngôn
ngữ với hy vọng rằng biểu thức đó sẽ giúp cho người nghe của anh ta suy ra được một
cách đúng đắn cái thực thể nào, đặc tính nào, sự kiện nào anh ta đang nói đến” [dẫn
theo 79, tr.193].
Như vậy, M.Green quan niệm sở chỉ là một hành vi ngôn ngữ mà từ hành vi
này, một “thực thể”, một “đặc tính”, một “sự kiện” sẽ được người nghe nhận diện thông
qua một biểu thức ngôn ngữ.
Cùng quan điểm với M.Green, G. Yule và A. Cruse viết: “Chúng ta, tốt hơn hết
là cho rằng chiếu vật là một hành vi nhờ nó mà người nói và người viết dùng các hình
thức ngôn ngữ nhằm làm cho người nghe hoặc người đọc biết được một sự vật nào đó”
[dẫn theo 70, tr.194].
Và:
“Dưới cái đầu đề sở chỉ, chúng ta sẽ gặp một trong những bình diện cơ bản, sống
còn nhất của ngôn ngữ và việc dùng ngôn ngữ, đó chính là mối quan hệ giữa ngôn ngữ
như là phương tiện giao tiếp giữa con người và cái thế giới mà chúng ta giao tiếp về
nó” [77, tr.137]; “Sở chỉ được quan tâm cùng với việc thể hiện các thực thể có trong
thế giới nhờ các phương tiện ngôn ngữ học” [77, tr.137].
Thừa nhận sở chỉ là một hành vi ngôn ngữ có nghĩa là các nhà ngôn ngữ học đã
đồng thuận khi cho rằng: sở chỉ không phải là “việc làm tự thân của ngôn ngữ mà là
7


của con người” [13, tr.192]. G. Yule nhấn mạnh: “Chúng ta cần phải biết rằng từ ngữ
- ở đây là biểu thức chiếu vật - tự chúng không quy chiếu được với bất cứ một cái gì
cả. Chỉ con người mới chiếu vật.” [dẫn theo 70, tr.192].
Từ sự khẳng định sở chỉ là một hành vi ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ
quan tâm đến các yếu tố làm nên hành vi sở chỉ.


ông không đưa ra quan niệm cụ thể về sở chỉ như một hành động mà chỉ thể hiện quan
niệm này qua cách định nghĩa về vật sở chỉ. Chính vì vậy, những trích dẫn dưới đây
của ông về sở chỉ phải được hiểu là vật sở chỉ (referent).
+ Cao Xuân Hạo cho rằng: “Sở chỉ là một sự vật cụ thể hay một tập hợp xác
định gồm những đối tượng cụ thể” [31, tr.104]. Sở chỉ của từ chỉ xác định được khi từ
nằm trong câu (phát ngôn). Nói khác đi, “Trong câu nói các từ ngữ mới có thể có sở
chỉ (referent)” [33, tr.105].
Chẳng hạn, một danh từ riêng như Hương chỉ có thể xác định được sở chỉ của
nó khi danh từ này nằm trong phát ngôn, kiểu như:
(2) Hương lớp 7A học rất giỏi.
Nhờ định ngữ lớp 7A mà sở chỉ của từ Hương trong trường hợp này được xác
định (với điều kiện lớp 7A chỉ có một người tên là Hương, còn nếu lớp 2A có hai người
tên là Hương thì phải thêm các điều kiện khác). Đó là một con người cụ thể, phân biệt
với tất cả những người cụ thể khác (cũng có tên là Hương hoặc không có tên là Hương).
Tách từ Hương ra khỏi phát ngôn, Hương vẫn là một danh từ riêng nhưng chúng ta
không thể xác định được nghĩa sở chỉ của từ này, tức là không thể xác định được từ
Hương ở đây chỉ ai, tức chỉ đối tượng cụ thể nào.
+ Về khái niệm nghĩa sở chỉ, Cao Xuân Hạo nói rõ: Nghĩa sở chỉ của từ ngữ “là
mối liên hệ giữa từ ngữ và thế giới hiện thực”. [31, tr.104] Chẳng hạn:
(3) Cái bút ở trên bàn là của bạn Trang.
Cái bút trong trường hợp này đã xác định được sở chỉ bởi ta biết nó quy chiếu
đến đối tượng nào trong thực tế. Đây là một cái bút cụ thể của một nhân vật cụ thể.
Tuy nhiên, để hiểu được nghĩa sở chỉ của từ (cái) bút, người nghe phải có sự liên hệ
với thực tế khách quan, tức là phải biết được một vật như thế nào được gọi là (cái) bút,
nói khác đi là phải hiểu được nghĩa biểu vật của từ bút.
Cao Xuân Hạo còn nói thêm: “Việc xác định sở chỉ của từ ngữ không thuộc bình
diện nghĩa mà thuộc bình diện dụng pháp” [33, tr.54]. Tức là chỉ xác định được nghĩa
sở chỉ của từ ngữ khi chúng đi vào hoạt động.
Ví dụ:

Đỗ Hữu Châu đã có cùng quan điểm với các tác giả nước ngoài khi chỉ rõ: “Tự
bản thân mình, từ ngữ không có chiếu vật. Chỉ có con người mới thực hiện hành vi
chiếu vật (sở chỉ). Bằng hành vi chiếu vật, người nói đưa sự vật hiện tượng mình định
nói tới vào diễn ngôn của mình bằng các từ ngữ, bằng câu” [12, tr.61]. Điều này có
nghĩa chỉ xác định được vật quy chiếu của từ ngữ khi chúng đi vào hoạt động.
Chẳng hạn, từ hôm nay khi đứng độc lập vẫn có nghĩa nhưng ta không thể biết
nó quy chiếu vào thời gian nào trong thực tế. Nhưng khi ta đưa nó vào diễn ngôn, kiểu
như “Hôm nay tôi đi Hà Nội” và diễn ngôn này được phát bởi chủ thể A, tại thời điểm
t thì ta dễ dàng xác định được hôm nay là thời gian cụ thể nào, tức là xác định được vật
quy chiếu của từ hôm nay.
Tóm lại, cách hiểu về chiếu vật và vật quy chiếu (sở chỉ) của Đỗ Hữu Châu
không có gì khác so với cách hiểu của Cao Xuân Hạo.
10


+ Về khái niệm nghĩa sở chỉ, Đỗ Hữu Châu không gọi là nghĩa sở chỉ mà gọi là
nghĩa chiếu vật.
Theo ông, có thể hiểu về nghĩa chiếu vật (nghĩa sở chỉ) như sau:
Nghĩa chiếu vật là sự tương ứng giữa sự vật với một biểu thức chiếu vật. Biểu
thức chiếu vật là kết cấu ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu) được dùng để chiếu vật. Ví dụ:
(6) Con mèo nhà tôi rất thích bắt chuột.
Trong phát ngôn trên, con mèo nhà tôi là một biểu thức chiếu vật và biểu thức
chiếu vật này được cấu tạo bởi một cụm từ. Ở đây, con mèo nhà tôi có nghĩa chiếu vật
là chỉ một con mèo trong thực tế, đã được xác định, phân biệt với những sinh vật khác
cũng được gọi là mèo.
Nằm trong hệ thống, các từ có nghĩa biểu vật (và nghĩa biểu niệm). Nghĩa của
từ ghi trong từ điển là nghĩa biểu vật. Khi được sử dụng, nghĩa biểu vật của từ chuyển
hoá thành nghĩa chiếu vật. Ví dụ, từ mẹ khi chưa sử dụng (trong từ điển) có nghĩa biểu
vật là “người đàn bà có con, trong quan hệ với con” [71, tr.604]. Nhưng khi chúng ta
nói:

chỉ cá thể sự vật đúng với phạm trù của cá thể được gọi tên bằng tên riêng đó. Chẳng
hạn, tên riêng chỉ người có chức năng cơ bản là chỉ cá thể người trong phạm trù người,
tên riêng của sông, núi có chức năng cơ bản là chỉ cá thể núi, sông trong phạm trù vật
thể tự nhiên, v.v...Chính vì thế, thông thường, trong những hoàn cảnh cụ thể, cứ dùng
tên riêng là ta biết tên riêng đó sẽ ứng với người, vật hay địa danh nào. Ví dụ, trong
một hoàn cảnh nhất định, khi ta nói: “Đà Nẵng thật giàu và đẹp”. Hay: “Hương có mái
tóc thật dài” là ta biết ngay Đà Nẵng là tỉnh nào và Hương là ai.
- Tên riêng có thể trùng nhau. Có thể nói, trùng tên gọi là hiện tượng rất phổ
biến, đặc biệt là ở Việt Nam. Việc trùng tên riêng sẽ dẫn đến việc mơ hồ về nghĩa sở
chỉ và làm cho người đọc khó nhận diện được đối tượng được đề cập đến.
Có hai trường hợp trùng tên riêng có thể xảy ra:
+ Các tên riêng trùng nhau nằm trong một phạm trù sự vật.
VD: Thủy là tên của nhiều người. Khi đó, để nhận diện hai đối tượng này, người ta
thường thêm tiểu danh vào sau tên riêng, kiểu như: Thủy cận, Thủy kều, v.v…
+ Các tên riêng trùng nhau không nằm trong một phạm trù sự vật.
VD: Hương Giang có thể là tên của một cô gái, có thể là tên của một dòng sông,
có thể là tên của một khách sạn. Để phân biệt 3 đối tượng này, người ta sẽ thêm danh
từ chung vào trước tên riêng, kiểu như: sông Hương Giang, khách sạn Hương Giang,
cô Hương Giang.
Tóm lại, dùng tên riêng là một trong những phương thức sở chỉ.
b. Phương thức dùng biểu thức miêu tả
Không phải sự vật, đối tượng nào trong hiện thực khách quan cũng có tên riêng.
Nói cách khác, không phải sự vật, đối tượng nào cũng đặt được tên riêng cho nó. Người
ta không thể đặt tên cho từng cái bút, cái cây, từng ngôi nhà bởi số lượng của chúng
12


trong hiện thực là vô số. Song các sự vật, đối tượng này nếu được đưa vào phát ngôn
(dưới hình thức tên chung), chúng phải được người nghe (đọc) xác định đó là sự vật,
đối tượng cụ thể nào.

tr.225]. Ví dụ:

13


(11) Người mặc áo tím là bạn của tôi.
Người mặc áo tím trong ví dụ trên là một biểu thức miêu tả xác định. Trong biểu
thức này, danh từ chung người có tác dụng chỉ ra thế giới khả hữu - hệ quy chiếu của
biểu thức, yếu tố miêu tả mặc áo tím có tác dụng tách đối tượng ra khỏi những đối
tượng khác đang cùng xuất hiện. Do đó, trong một ngữ cảnh cụ thể, nghe phát ngôn
trên, người nghe sẽ dễ dàng nhận diện được đối tượng mà người nói muốn quy chiếu
đến là đối tượng nào.
Cần phải nói thêm rằng, một biểu thức miêu tả được coi là xác định khi biểu
thức đó có tính duy nhất trong thế giới khả hữu - hệ quy chiếu. Chẳng hạn như để phát
ngôn (11) thực hiện được chức năng quy chiếu hoàn hảo, chỉ một đối tượng được có
đặc điểm mặc áo tím. Nếu trong bối cảnh, có hai đối tượng cùng có đặc điểm này, rõ
ràng biểu thức sẽ không giúp cho người nghe xác định được đối tượng mà biểu thức
quy chiếu.
- Biểu thức miêu tả không xác định:
Khi nghĩa sở chỉ của một biểu thức chưa được người nói và người nghe biết thì
biểu thức đó sẽ là biểu thức miêu tả không xác định.
Biểu thức miêu tả không xác định được đánh dấu bằng mạo từ a/ un trong tiếng
Anh và une/ des trong tiếng Pháp. Trong tiếng Việt, “biểu thức miêu tả không xác định
thường bắt đầu bằng một với danh từ có hoặc không có loại từ ở giữa” [13, tr.223]. Theo
đó, một cái bút, một người đàn bà, một quyển sách sẽ được coi là những biểu thức miêu
tả không xác định.
Do nghĩa sở chỉ của biểu thức miêu tả không xác định chưa được người nói và
người nghe biết cho nên biểu thức này thường có vai trò dẫn nhập. Thông qua biểu
thức, sự vật/ đối tượng lần đầu tiên được đưa vào diễn ngôn. Sau lần đầu tiên này, sự
vật/đối tượng sẽ được biểu thị bằng các biểu thức miêu tả xác định.

quan điểm của tác giả Đỗ Hữu Châu trong [13, tr.306]) như: ông ấy, con ấy, ông ta, bà
ta…
Ngoài các đại từ dùng để xưng hô, trong tiếng Việt còn dùng cả tên riêng, các
danh từ thân tộc hay các từ chỉ chức nghiệp.
• Dùng tên riêng để xưng hô:
(13) Hương ơi, mai Hà đến nhé!
Hà là tên riêng dùng để thay các đại từ xưng hô ngôi thứ nhất (tôi, tao, tớ…),
còn Hương là tên riêng dùng để thay cho đại từ xưng hô ngôi thứ hai (mày, cậu…).
• Dùng danh từ thân tộc để xưng hô:
(14) Con đi học đây bố ạ.
Con là danh từ thân tộc được dùng để chỉ ngôi thứ nhất. Bố là danh từ thân tộc
được dùng để chỉ ngôi thứ hai.
• Dùng danh từ chỉ các chức vụ hoặc nghề nghiệp để xưng hô. Ví dụ:
(15) Cho tôi gặp hiệu trưởng được không ạ?
Hiệu trưởng là từ chỉ chức vụ được dùng để chỉ ngôi thứ ba.

15


(16) Thưa cô giáo, tôi là phụ huynh của em Hương ạ.
Cô giáo là danh từ nghề nghiệp được dùng để chỉ ngôi thứ hai.
- Phạm trù chỉ xuất không gian:
“Chỉ xuất không gian là phương thức chiếu vật (sở chỉ) bằng cách định vị sự vật
- nghĩa chiếu vật (nghĩa sở chỉ) (sự vật được nói tới trong diễn ngôn) theo quan hệ
không gian với sự vật mốc” [26, tr.310].
Một ví dụ của Đỗ Hữu Châu:
(17) Cuốn sách này rất thú vị.
Trong biểu thức cuốn sách này, danh từ ở vị trí trung tâm (cuốn sách) biểu thị
sự vật được định vị; từ này định vị cuốn sách trong tương quan với người nói.
- Phạm trù chỉ xuất thời gian:

Ví dụ:
(21) Obama is the President of UnitedState.

(+)

(Obama là Tổng thống của nước Mỹ)
và:
(22) The President of United State is Obama.

(+)

(Tổng thống của nước Mỹ là Obama)
Khi đó, the President of United State và Obama là hai biểu thức có quan hệ đồng
sở chỉ.
Như vậy, có thể hiểu một cách đơn giản: hiện tượng đồng sở chỉ là hiện tượng
dùng những biểu thức ngôn ngữ khác nhau để chỉ một đối tượng hay một tập hợp các
đối tượng có giới hạn cụ thể.
Xin nói thêm, cơ sở để chúng tôi xác định các biểu thức đồng sở chỉ là việc xác
định biểu thức sở chỉ gốc. Theo chúng tôi, biểu thức sở chỉ gốc chính là tên riêng của
các nhân vật. Mỗi tên riêng đều ứng với một cá thể nhân vật ( nghĩa sở chỉ). Tất cả các
biểu thức ngôn ngữ khác được dùng để chỉ cá thể nhân vật đó cùng với biểu thức tên
riêng tạo nên các biểu thức đồng sở chỉ.
Có thể khái quát hiện tượng đồng sở chỉ như sau:
Trong đó: A, B, C…Z là các

A

biểu thức ngôn ngữ. X là sự

B

“Ngữ cảnh (situtional context, context of situation; contexte de situation) là bối
cảnh ngoài ngôn ngữ của một phát ngôn hay những thông tin ngoài ngôn ngữ góp phần
tạo nên nghĩa (của phát ngôn)” [dẫn theo 13, tr.97].
b. Các bộ phận của ngữ cảnh
- Nhân vật giao tiếp (còn gọi là đối ngôn)
Nhân vật giao tiếp được hiểu là những người tham gia vào hoạt động giao tiếp.
Đây là nhân tố không thể thiếu trong một hoạt động giao tiếp, tức là không có nhân vật
giao tiếp thì không có hoạt động giao tiếp.
Nói đến nhân vật giao tiếp là nói đến sự phân vai giao tiếp và mối quan hệ liên
cá nhân.
+ Vai giao tiếp
Trong một cuộc giao tiếp, các nhân vật giao tiếp có sự phân vai giữa người nói
và người nghe (còn gọi là vai nói và vai nghe).
Vai nói là vai phát ra phát ngôn/ diễn ngôn. Còn vai nghe là vai tiếp nhận phát
ngôn/ diễn ngôn do vai nói phát ra.
Có nhiều vấn đề khi bàn về vai nói và vai nghe nhưng điều cần nói ở đây là vai
nói, vai nghe sẽ chi phối việc lựa chọn từ ngữ xưng hô của các nhân vật giao tiếp sao
cho phù hợp trong một cuộc giao tiếp.
+ Mối quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp
Mối quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp được thể hiện ở vị thế xã
hội, vị thế giao tiếp và quan hệ thân cận.
• Vị thế xã hội của nhân vật giao tiếp:
Vị thế xã hội được hiểu là quan hệ trên/ dưới, cao/ thấp giữa các nhân vật giao
tiếp. Quan hệ trên/ dưới, cao/ thấp này thể hiện ở địa vị xã hội hay ở sự chia ngôi thứ
trong gia đình, họ hàng…

18


• Vị thế giao tiếp:

tạo nên cái gọi là môi trường xã hội - văn hóa - địa lý cho các cuộc giao tiếp” [13,
tr.111].
19


Hoàn cảnh giao tiếp hẹp (còn gọi là thoại trường) là không gian, thời gian, điều
kiện, v.v… cụ thể ở đó cuộc giao tiếp diễn ra.
Về hoàn cảnh giao tiếp, xin xem thêm [13, tr.110-112]. Điều cần nói ở đây là,
cũng như các nhân tố giao tiếp khác, hoàn cảnh giao tiếp (bao gồm cả hoàn cảnh giao
tiếp rộng, hoàn cảnh giao tiếp hẹp) chi phối mạnh đến cách thức sử dụng ngôn ngữ.
Nghĩa là, ở hoàn cảnh giao tiếp này, người ta phải nói năng, xử sự khác với hoàn cảnh
giao tiếp khác.
+ Hệ quy chiếu, thế giới khả hữu
Hệ quy chiếu của diễn ngôn là “cái mảng, cái phần của hoàn cảnh giao tiếp rộng
mà một hoặc một số bộ phận của nó được người nói lựa chọn làm đề tài diễn ngôn và
người nghe đối chiếu với nó để giải thuyết nghĩa của diễn ngôn nhận được” [13, tr.115].
Một ví dụ được Đỗ Hữu Châu đưa ra làm ví dụ, đó là:
(35) Làn da tư duy và tìm cách biểu hiện...
Khi cánh tay nói, khi cặp chân suy nghĩ, khi các ngón tay trò chuyện với nhau
không cần mọi thứ trung gian. [13, tr.115]
Những phát ngôn sẽ trở nên phi lý nếu như chúng ta căn cứ vào nội dung ngữ
nghĩa mà từng phương tiện ngôn ngữ thể hiện. Tuy nhiên, khi chúng ta biết hệ quy
chiếu của những phát ngôn ấy là nghệ thuật vũ ba lê thì rõ ràng, nghĩa của chúng trở
nên dễ hiểu, hấp dẫn.
Như vậy, có thể nói vấn đề hệ quy chiếu là “địa bàn để thực hiện sự chiếu vật
(sự sở chỉ - reference) - vấn đề đầu tiên của ngữ dụng học” [13, tr.117].
Liên quan tới vấn đề hệ quy chiếu là vấn đề thế giới khả hữu (possible world;
monde possible).
Thuật ngữ thế giới khả hữu được các nhà triết học sử dụng để chỉ các thế giới
được lấy làm hệ quy chiếu cho các diễn ngôn. Và “Thế giới khả hữu không phải là nơi

a. Khái niệm
Danh ngữ (DN) là đoản ngữ có danh từ làm thành tố trung tâm. Ví dụ: xin
xem (38).
b. Các loại thành tố trong danh ngữ
Nguyễn Tài Cẩn trong [8] đã chỉ rõ, cấu thành nên danh ngữ có 2 loại thành tố:
thành tố trung tâm (Trt) và thành tố phụ (P).
- Thành tố trung tâm của danh ngữ
Thành tố Trt của danh ngữ do danh từ đảm nhiệm, “chiếm vị trí nằm ngay giữa
lòng đoản ngữ” [8, tr.203].
Thành tố Trt có thể xuất hiện ở hai dạng:
+ Dạng đơn:
Ví dụ: (39) gạch hoa, dép mới, nhà cũ…
+ Dạng ghép: Gồm Trt1 và Trt2 trong đó Trt1 có ý nghĩa chỉ đơn vị đo lường,
đóng vai trò là trung tâm về mặt ngữ pháp, Trt2 có ý nghĩa chỉ sự vật được đem ra tính
toán đo lường, đóng vai trò là trung tâm về mặt ý nghĩa từ vựng.
Ví dụ: (40) cuốn sách hay, con chim nhỏ…
Trt1 Trt2 Trt1 Trt2
- Thành tố phụ của danh ngữ
Thành tố P của DN gồm 2 bộ phận: bộ phận đứng ở vị trí trước Trt gọi là thành
tố phụ trước (Pht) và bộ phận đứng sau Trt gọi là thành tố phụ sau (Phs).
+ Thành tố phụ trước của danh ngữ
Về mặt số lượng cũng như ý nghĩa, thành tố Pht của danh ngữ có 3 loại định
tố (ĐT):
• ĐT cái, ví dụ: Cái cậu học sinh ấy

21


• ĐT chỉ số lượng, ví dụ: Mấy cái cậu học sinh ấy
• ĐT chỉ ý nghĩa toàn bộ, ví dụ: Tất cả mấy cái cậu học sinh ấy

Cái áo trắng đang treo trên móc kia (3 ĐT)

(44)

Cái áo trắng (mà) cổ tròn đang treo trên móc kia (4 ĐT)
v.v…

Tuy nhiên, dù thành tố Phs có số lượng là bao nhiêu ĐT đi chăng nữa thì các
ĐT này luôn quy về 2 loại ý nghĩa khái quát: ý nghĩa đặc trưng của sự vật được nêu
trong DN (như trắng, cổ tròn, đang treo trên móc) và ý nghĩa chỉ định (như kia).
c. Các dạng xuất hiện của danh ngữ
Danh ngữ có thể xuất hiện ở 2 dạng: dạng đầy đủ và dạng không đầy đủ.
- Dạng đầy đủ
Ở dạng đầy đủ, DN gồm:
Phần phụ trước
(những)

Phần trung tâm
(học sinh)

Phần phụ sau
(này)

- Dạng không đầy đủ
Theo Nguyễn Tài Cẩn, ở dạng không đầy đủ, DN có 3 trường hợp xuất hiện:
+ Chỉ có phần phụ trước và phần trung tâm
Phần phụ trước
(ba)

Phần trung tâm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status