ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
TRẦN VĂN VIỆT
NGHIÊN CỨU RỦI RO TRONG
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN YÊN LẬP, TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. PHÍ VĂN KỶ
THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến các thầy, cô giáo đã tận
tình truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong thời gian học tập và nghiên
cứu, đặc biệt là TS. Phí Văn Kỷ, ngƣời trực tiếp hƣớng dẫn tôi trong suốt quá trình
thực hiện Luận văn tốt nghiệp.
Tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp và các cơ quan,
đơn vị, các cá nhân có liên quan đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên
cứu và thực hiện Luận văn này.
1.2. Cơ sở thực tiễn về rủi ro và biện pháp phòng chống rủi ro trong sản xuất
nông nghiệp ............................................................................................. 19
1.2.1. Thực trạng tác hại của rủi ro từ thiên nhiên đến sản xuất nông nghiệp ở
nƣớc ta 10 năm gần đây ........................................................................... 19
1.2.2. Các biện pháp phòng chống rủi ro trong sản xuất nông nghiệp trên Thế
giới và Việt Nam đã và đang đƣợc áp dụng ............................................ 22
1.2.3. Kinh nghiệm về công tác quản lý nhằm giảm thiểu thiệt hại do rủi ro
gây ra đối với sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, những kết quả và
tồn tại ....................................................................................................... 23
1.3. Một số chủ trƣơng của Đảng, chính sách của Nhà nƣớc, của tỉnh về quan
điểm chỉ đạo, quản lý, điều hành sản xuất nông nghiệp và giảm
thiểu thiệt hại của rủi ro đối với sản xuất nông nghiệp ........................... 25
1.3.1. Chủ trƣơng, đƣờng lối, quan điểm của Đảng .................................................. 25
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
/>
iv
1.3.2. Chính sách của Nhà nƣớc (Chính phủ) ........................................................... 27
1.3.3. Các chính sách, kế hoạch của tỉnh Phú Thọ .................................................... 29
Chƣơng 2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................................................... 32
2.1. Câu hỏi nghiên cứu ............................................................................................ 32
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu .................................................................................... 32
2.2.1. Cơ sở phƣơng pháp luận ................................................................................. 32
2.2.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu .......................................................................... 32
2.2.3. Phƣơng pháp tổng hợp thông tin ..................................................................... 36
2.2.4. Phƣơng pháp phân tích thông tin .................................................................... 37
2.3. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu về rủi ro và giảm thiểu rủi ro trong sản
xuất nông nghiệp...................................................................................... 38
2.3.1. Chỉ tiêu đánh giá năng lực sản xuất của các đơn vị điều tra năm 2012 .......... 38
4.2. Đề xuất các biện pháp thích ứng, đối phó với rủi ro trong sản xuất nông
nghiệp đối với hộ nông dân ..................................................................... 95
4.2.1. Đa dạng hóa sản xuất ...................................................................................... 95
4.2.2. Tự bảo hiểm và tham gia bảo hiểm (bảo hiểm y tế, bảo hiểm cây trồng,
vật nuôi...) ................................................................................................ 95
4.2.3. Lựa chọn biện pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện kinh tế của hộ ............... 96
4.2.4. Mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm ............................................................ 97
4.2.5. Chủ động nguồn tƣới, tiêu nƣớc phục vụ sản xuất nông nghiệp .................... 97
4.2.6. Thực hiện liên doanh, liên kết phát triển kinh tế hộ ở nông thôn ................... 97
4.3. Một số giải pháp quản lý nhằm hạn chế rủi ro, giảm thiểu thiệt hại trong
sản xuất nông nghiệp tại huyện Yên Lập ................................................ 98
4.3.1. Xây dựng kế hoạch phòng chống, khắc phục rủi ro trong sản xuất nông
nghiệp trong dài hạn và ngắn hạn ............................................................ 98
4.3.2. Đƣa khoa học công nghệ tiên tiến vào quản lý, cập nhật thông tin dự
báo các loại rủi ro có thể xảy ra đối với sản xuất nông nghiệp ............... 99
4.3.3. Áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất ................................................... 100
4.3.4. Đa dạng hóa sản xuất trong nông nghiệp ...................................................... 101
4.3.5. Tăng cƣờng cơ sở hạ tầng phục vụ việc phòng chống, khắc phục thiên
tai cho sản xuất nông nghiệp trên địa bàn ............................................. 102
4.3.6. Hoàn thiện một số chính sách hạn chế, khắc phục rủi ro trong sản xuất
nông nghiệp trên địa bàn........................................................................ 103
4.4. Một số kiến nghị............................................................................................... 105
4.4.1. Kiến nghị với chính quyền ............................................................................ 105
4.4.2. Kiến nghị với Nhà nƣớc ................................................................................ 105
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 109
PHỤ LỤC ............................................................................................................... 111
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
sống chủ yếu vẫn dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp. Khi gặp rủi ro cần đảm
bảo kế sinh nhai cho gia đình thì họ phải tìm các cách để tồn tại trong đó có cả
việc khai thác không hiệu quả nguồn lực tự nhiên là đất, nƣớc và rừng. Những
dạng rủi ro trong sản xuất nông nghiệp mà ngƣời nông dân ở Yên Lập gặp phải
và cách thức ứng phó, hạn chế rủi ro nhằm giảm thiểu thiệt hại trong sản xuất
ra sao cho đến nay vẫn chƣa có nghiên cứu nào và nếu có thì nghiên cứu cũng
2
chƣa cụ thể, vì vậy mà có những chủ trƣơng của Ðảng và Nhà nýớc về sản xuất
nông nghiệp, những tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến trong sản xuất chýa
ðýợc ngýời dân ở ðây tiếp nhận ðúng mức. Các chính sách của Nhà nýớc nhiều
khi bị tác ðộng của những rủi ro mà kém hiệu lực.
Vì những lý do nhƣ đã nêu ở trên tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu rủi ro
trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ” làm luận
văn nghiên cứu của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về rủi ro, quản lý nhằm hạn chế rủi ro,
giảm thiểu thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp. Tiến hành đánh giá thực trạng rủi
ro trong sản xuất nông nghiệp; cách thức ứng phó nhằm hạn chế rủi ro, giảm thiểu
thiệt hại, bảo đảm cho sản xuất nông nghiệp cũng nhƣ cuộc sống của ngƣời nông
dân tại địa bàn nghiên cứu. Từ kết quả nghiên cứu đề tài sẽ đề xuất một số giải pháp
bƣớc đầu giúp ngƣời nông dân ứng phó kịp thời với những rủi ro thƣờng gặp, nhằm
giảm thiểu thiệt hại đối với sản xuất nông nghiệp.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ cơ sở lý luận về rủi ro và quản lý nhằm hạn chế rủi ro, giảm thiểu
thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp.
- Khảo sát thực trạng, nghiên cứu, phân loại các kiểu rủi ro thƣờng gặp trong
sản xuất nông nghiệp, cũng nhƣ cách thức ứng phó nhằm hạn chế rủi ro, giảm thiểu
cứu thực trạng những rủi ro trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn, từ đó nắm bắt
đƣợc tình hình thực tế về rủi ro trong sản xuất nhằm điều chỉnh phù hợp quá trình chỉ
đạo sản xuất nông nghiệp, góp phần ứng phó có hiệu quả các rủi ro thƣờng gặp.
- Đối với tác giả, qua việc nghiên cứu đã hiểu rõ thêm về tình hình sản xuất
nông nghiệp, về những rủi ro thƣờng gặp đối với sản xuất nông nghiệp và công tác
ứng phó nhằm hạn chế rủi ro đối với sản xuất nông nghiệp trên địa bàn, để từ đó
tiếp tục hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ đƣợc giao.
- Đối với các nhà nghiên cứu khác sẽ có thể sử dụng nghiên cứu này nhƣ một
tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận. Luận văn gồm 4 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận, thực tiễn về rủi ro và hạn chế rủi ro trong sản xuất
nông nghiệp.
Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu.
Chƣơng 3: Thực trạng rủi ro và hạn chế rủi ro, giảm thiểu thiệt hại trong sản
xuất nông nghiệp tại huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro, giảm thiểu thiệt hại trong
sản xuất nông nghiệp tại huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
4
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ RỦI RO
VÀ HẠN CHẾ RỦI RO TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
1.1. Cơ sở lý luận về rủi ro và quản lý nhằm hạn chế rủi ro trong sản xuât
nông nghiệp
1.1.1. Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu của xã hội.
Sản xuất nông nghiệp có những đặc điểm đặc trƣng riêng mà các ngành sản xuất
không thể tăng thêm theo ý muốn chủ quan, nhƣng sức sản xuất ruống đất là chƣa
có giới hạn, nghĩa là con ngƣời có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thoả
mãn nhu cầu tăng lên của loài ngƣời về nông sản phẩm. Chính vì thế trong quá trình
sử dụng phải biết quý trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, hạn chế việc chuyển đất
nông nghiệp sang xây dựng cơ bản, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dƣỡng đất
làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn
vị diện tích với chi phí thấp nhất trên đơn vị sản phẩm.
1.1.1.3. Đối tượng sản xuất nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi
Đối tƣợng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống cây trồng và vật nuôi.
Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định (sinh
trƣởng, phát triển và diệt vong). Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh, mọi sự
thay đổi về điều kiện thời tiết, khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của
cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng. Cây trồng và vật
nuôi với tƣ cách là tƣ liệu sản xuất đặc biệt đƣợc sản xuất trong bản thân nông
nghiệp bằng cách sử dụng trực tiếp sản phẩm thu đƣợc ở chu trình sản xuất trƣớc
làm tƣ liệu sản xuất cho chu trình sản xuất sau. Để chất lƣợng giống cây trồng và
vật nuôi tốt hơn, đòi hỏi phải thƣờng xuyên chọn lọc, bồi dục các giống hiện có,
nhập nội những giống tốt, tiến hành lai tạo để tạo ra những giống mới có năng suất
cao, chất lƣợng tốt thích hợp với điều kiện từng vùng và từng địa phƣơng.
1.1.1.4. Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ
Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao. Đó là nét đặc thù điển hình nhất
của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản
xuất kinh tế xoắn xuýt với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và
thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh
ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp. Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh cửu
không thể xoá bỏ đƣợc, trong quá trình sản xuất chỉ tìm cách hạn chế nó. Mặt khác,
do sự biến thiên về điều kiện thời tiết - khí hậu, mỗi loại cây trồng có sự thích ứng
6
7
- Nông nghiệp nước ta đang từ tình trạng lạc hậu, tiến lên xây dựng nền
nông nghiệp sản xuất hàng hóa theo định hướng XHCN không qua giai đoạn phát
triển tư bản chủ nghĩa. Đặc điểm này cho thấy xuất phát điểm của nền nông nghiệp
nƣớc ta khi chuyển lên xây dựng, phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá là
rất thấp so với các nƣớc trong khu vực và thế giới. Đến nay, nhiều nƣớc có nền kinh
tế phát triển, nông nghiệp đã đạt trình độ sản xuất hàng hoá cao, nhiều khâu công
việc đƣợc thực hiện bằng máy móc, một số loại cây con chủ yếu đƣợc thực hiện sản
xuất theo cơ giới hoá tổng hợp hoặc tự động hoá. Năng suất ruộng đất và năng suất
lao động đạt trình độ cao, tạo ra sự phân công lao động sâu sắc trong nông nghiệp
và toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Tỷ lệ dân số và lao động nông nghiệp giảm xuống
cả về số tƣơng đối và tuyệt đối. Đời sống ngƣời dân nông nghiệp và nông thôn đƣợc
nâng cao ngày càng xích gần với thành thị. Trong khi đó, nông nghiệp nƣớc ta với
điểm xuất phát còn rất thấp, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, kết cấu hạ tầng nông
thôn còn yếu kém, lao động thuần nông còn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lao động
xã hội, năng suất ruộng đất và năng suất lao động còn thấp, v.v… Từ khi chuyển
sang nền kinh tế thị trƣờng, khẳng định phát triển nền nông nghiệp nhiều thành
phần và hộ nông dân đƣợc xác định là đơn vị tự chủ, nông nghiệp nƣớc ta đã có
những bƣớc phát triển và đạt đƣợc những thành tựu to lớn, nhất là về sản lƣợng
lƣơng thực. Sản xuất lƣơng thực không những trang trải đƣợc nhu cầu trong nƣớc,
có dự trữ mà còn dƣ thừa để xuất khẩu. Bên cạnh đó một số sản phẩm khác cũng
phát triển khá, nhƣ: cà phê, cao su, chè, hạt điều, v.v… đã và đang là nguồn xuất
khẩu quan trọng.
Để đƣa nền kinh tế nông nghiệp nƣớc ta phát triển trình độ sản xuất hàng hoá
cao, cần thiết phải bổ sung và hoàn thiện chiến lƣợc phát triển nông nghiệp và nông
thôn. Khẩn trƣơng xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nông nghiệp và hệ thống
kết cấu hạ tầng ở nông thôn phù hợp. Bổ sung, hoàn thiện và đổi mới hệ thống
chính sách kinh tế nông nghiệp, nhằm tiếp tục giải phóng sức sản xuất, tạo động lực
a. Một số khái niệm cơ bản
Một trong những thách thức lớn nhất đối với sản xuất nông nghiệp là thƣờng
xuyên gặp rủi ro. Rủi ro sẽ tác động trực tiếp đến quyết định của ngƣời sản xuất, đồng
thời cũng ảnh hƣởng đến lợi ích của ngƣời dân. Vì thế, vấn đề rủi ro ngày càng trở
thành một vấn đề đáng quan tâm. Từ rủi ro trong phân tích kinh tế đƣợc dùng để đề
cập đến tình trạng một quyết định có thể có nhiều kết quả với các khả năng khác
nhau. Nhƣng trƣớc tiên cần phân biệt hai thuật ngữ rủi ro và không chắc chắn.
* Không chắc chắn
Trong môi trƣờng tự nhiên, kinh tế và xã hội của ngƣời nông dân có rất
nhiều điều không chắc chắn xảy ra gây bất lợi đối với mỗi nông dân nhƣ thiên tai,
giảm giá nông sản, tăng giá đầu vào, dịch bệnh, bệnh tật,... Các sự kiện đó xảy ra
9
với những xác suất mà không thể biết trƣớc đƣợc. Vì vậy, ta có thể hiểu sự không
chắc chắn là các tình trạng không thể gắn xác suất với việc xảy ra các sự kiện. Sự
không chắc chắn đề cập theo ý nghĩa mô tả đặc điểm môi trƣờng kinh tế mà các
nông hộ phải đƣơng đầu.
Các dạng không chắc chắn đều đƣợc thể hiện bằng sự nghèo nàn tuyệt đối
của nhiều hộ nông dân, hậu quả của các sự không chắc chắn thƣờng tạo ra sự khác
biệt giữa giàu có và đói nghèo. Sự không chắc chắn chỉ đƣợc xem nhƣ là một vấn
đề đối với sản xuất nông nghiệp hơn là các ngành khác và đƣợc thể hiện trên các
dạng chủ yếu sau:
+ Sự không chắc chắn về sản lƣợng: Nguyên nhân gây ra sự không chắc chắn
này là do gặp phải thiên tai. Thiên tai là những tác động có hại đối với sản xuất
nông nghiệp mà khó có thể dự báo đƣợc nhƣ sâu bệnh, dịch bệnh, lũ lụt, nắng
hạn,... Thiên tai cũng có thể đƣợc mô tả nhƣ là sự không chắc chắn về năng suất và
sản lƣợng cây trồng. Khả năng chống lại thiên tai phụ thuộc nhiều vào khả năng tiền
mặt, vật tƣ của hộ nông dân,... khả năng này giữa các hộ nông dân sẽ khác nhau.
+ Sự không chắc chắn về giá cả: Do chu kỳ của sản xuất nông nghiệp kéo dài
rủi ro phụ thuộc vào sự tác động của các yếu tố và khả năng kiểm soát các yếu tố
trong giai đoạn từ quyết định đến kết quả. Trong khi đó, từ quyết định đến kết quả
là một quá trình bị tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó rất nhiều yếu tố nằm ngoài
dự báo và khả năng kiểm soát của ngƣời ra quyết định nên mức độ rủi ro là rất lớn.
Vậy rủi ro là gi? Cho đến nay chƣa có một định nghĩa thống nhất, đầy đủ về
rủi ro, những trƣờng phái khác nhau, tác giả nghiên cứu dƣới các góc độ khác nhau
đƣa ra những định nghĩa cũng khác nhau. Thực tế, những định nghĩa này rất đa
dạng, phong phú, nhƣng có thể chia làm 2 trƣờng phái lớn, đó là: + Theo trƣờng
phái truyền thống, có định nghĩa nhƣ sau: rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy
hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn, hoặc điều không chắc
chắn có thể xảy ra cho con người. Qua khái niệm này có thể hiểu:
- Rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến.
- Rủi ro là sự không may.
- Rủi ro là sự bất trắc, gây ra mất mát, hƣ hại.
- Rủi ro là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều không
chắc chắn.
- Rủi ro là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với
lợi nhuận dự kiến.
- Trong lĩnh vực hoạt động tài chính nông thôn thì coi việc ngƣời nông dân
đầu tƣ từ các khoản tiền vay cho trồng trọt và chăn nuôi mà cây trồng, vật nuôi bị
chết cũng là rủi ro.
+ Theo trƣờng phái trung hoà, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được.
Rủi ro theo phái trung hòa đƣợc thể hiện các nội dung chính là:
11
- Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lƣờng đƣợc.
- Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố
không mong đợi.
- Rủi ro là tổng hợp những ngẫu nhiên có thể đo lƣờng bằng xác suất.
12
kết quả. Nhƣ vậy, rủi ro và không chắc chắn chỉ khác nhau ở việc có đánh giá đƣợc
hay không khả năng (hay còn gọi là xác suất) xảy ra các kết quả khác nhau.
Rủi ro vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang
đến những tổn thất, mất mát, nguy hiểm,... cho con ngƣời, nhƣng cũng có thể mang
đến những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhận dạng, đo lƣờng rủi ro, ngƣời
ta có thể tìm ra đƣợc các biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro mang tính
tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang kết quả tốt đẹp cho tƣơng lai.
b. Nguyên nhân và đặc điểm rủi ro trong sản xuất nông nghiệp
* Nguyên nhân gây ra rủi ro đối với sản xuất nông nghiệp
+ Rủi ro do thiên nhiên. Các loại nguyên nhân rủi ro có nguồn gốc từ thiên
nhiên, bao gồm:
- Các yếu tố liên quan đến điều kiện khí hậu, thời tiết, thiên tai nhƣ biến đổi
khí hậu, hạn hán, lũ lụt, ngập úng, mƣa bão, sạt lở.
- Các loại dịch bệnh, sâu bệnh.
Nhóm nguyên nhân này do tự nhiên tạo ra là chủ yếu. Do sự tác động của
điều kiện tự nhiên đã gây ra sự biến động về sản lƣợng của các hộ nông dân. Sự
biến động về sản lƣợng là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự không ổn định trong thu
nhập của ngƣời nông dân.
+ Rủi ro do thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm. Nguyên nhân của tình trạng rủi ro
này chủ yếu là do sự biến động của giá cả. Sản xuất nông nghiệp có đặc thù là mang
tính thời vụ nên giá cả thƣờng có nhiều biến động. Giá nông sản vào vụ thu hoạch
rộ thƣờng giảm làm cho thu nhập của ngƣời sản xuất giảm theo hay những năm
đƣợc mùa thì giá lại thấp đi hoặc có một dạng khác là sản xuất quá nhiều làm cho
cung vƣợt quá cầu. Giá cả thay đổi cũng mang đến cho ngƣời nông dân rất nhiều rủi
ro. Ngoài ra, ngƣời nông dân còn gặp phải rủi ro do không có thị trƣờng chắc chắn
để tiêu thụ sản phẩm. Một số nông sản có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm nhƣng việc
thực hiện và xử lý hợp đồng không nghiêm minh làm cho ngƣời nông dân bị thua
thiệt. Một số nông sản hàng hoá đã đƣợc các nhà máy hứa hẹn giá từ đầu vụ nhƣng
ngành công nghiệp và là hàng hoá để xuất khẩu. Nông nghiệp cũng là ngành thu hút
nhiều lao động xã hội, góp phần giải quyết công ăn việc làm và đồng thời còn là
một ngành đóng góp không nhỏ vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Một trong
những khó khăn, thách thức lớn nhất đối với sản xuất nông nghiệp là vấn đề rủi ro.
Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp đã làm cho mức độ rủi ro trong nông nghiệp
thƣờng cao hơn so với các hoạt động sản xuất kinh doanh trong các ngành, lĩnh vực
khác. Bao gồm những đặc điểm sau:
+ Sản xuất nông nghiệp thƣờng trải trên một phạm vi rộng lớn và hầu hết lại
đƣợc tiến hành ở ngoài trời, vì thế nó chịu ảnh hƣởng rất lớn của điều kiện tự nhiên.
Mặc dù trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng tiên tiến và hiện đại, con ngƣời ngày
càng chế ngự đƣợc nhiều những ảnh hƣởng xấu của tự nhiên nhƣng mâu thuẫn giữa
14
con ngƣời với lực lƣợng tự nhiên vẫn tồn tại trong quá trình sản xuất nông nghiệp.
Hàng năm điều kiện tự nhiên vẫn luôn đe doạ tiềm ẩn và gây tổn thất lớn cho quá
trình sản xuất nông nghiệp.
+ Đối tƣợng của sản xuất nông nghiệp là những cơ thể sống nhƣ cây trồng, vật
nuôi. Chúng không chỉ chịu ảnh hƣởng của điều kiện tự nhiên, mà còn chịu sự tác động
của các quy luật sinh học. Đó là các quy luật: đồng hoá, dị hoá, biến di, di truyền; quy
luật về thời gian sinh trƣởng, phát triển và cho sản phẩm,... Vì vậy, xác suất rủi ro trong
sản xuất nông nghiệp đã lớn lại càng lớn hơn so với nhiều ngành sản xuất khác.
+ Chu kỳ sản xuất trong nông nghiệp đa dạng diễn ra trong không gian và
thời gian khác nhau. Về thời gian thƣờng kéo dài, thời gian lao động và thời gian
sản xuất lại không trùng nhau, do đó đánh giá, kiểm soát việc phòng ngừa và hạn
chế rủi ro là rất khó thực hiện. Về không gian diễn ra trên phạm vi rộng lớn: cánh
đồng, khu rừng, quả đồi, hồ,… đã hạn chế việc thực hiện đồng bộ các biện pháp
phòng ngừa, giảm thiểu thiệt hại khi rủi ro xảy ra.
+ Trong sản xuất nông nghiệp có rất nhiều loại cây trồng, vật nuôi khác
nhau, mỗi loại lại thƣờng gặp những rủi ro khác nhau. Thậm chí, có những loại rủi
+ Phân theo nguồn gốc rủi ro
- Rủi ro tự nhiên: Đây là nhóm rủi ro do các hiện tƣợng thiên nhiên nhƣ: biến
đổi khí hậu, mƣa lớn, lũ lụt, bão lốc, hạn hán, sạt lở đất, sƣơng muối, dịch bệnh, sâu
bệnh,... gây ra. Những rủi ro này thƣờng dẫn đến những thiệt hại to lớn về ngƣời và
của cải. Nó có thể tác động đến năng suất mùa màng (rủi ro trong sản xuất) và sản
lƣợng sản phẩm cất trữ trong kho (rủi ro trong bảo quản).
- Rủi ro xã hội: Sự thay đổi các chuẩn mực giá trị, hành vi của con ngƣời,
cấu trúc xã hội, các định chế,... là một nguồn gốc gây ra rủi ro đáng quan tâm. Nếu
không nắm đƣợc điều này sẽ có thể phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề.
- Rủi ro kinh tế: Là những rủi ro do môi trƣờng kinh tế gây ra nhƣ tốc độ
tăng trƣởng kinh tế, cơ cấu kinh tế, sự khủng hoảng và suy thoái kinh tế, quy luật
cung cầu, yếu tố lạm phát,...
+ Phân theo mức độ rủi ro
- Rủi ro cá nhân: Là rủi ro chỉ ảnh hƣởng đến một cá nhân nào đó.
- Rủi ro cộng đồng: Là những rủi ro ảnh hƣởng đến cả cộng đồng.
+ Phân theo mức độ xuất hiện của rủi ro
- Rủi ro riêng rẽ: chỉ xuất hiện một loại rủi ro.
- Rủi ro dây chuyền: rủi ro này xuất hiện lại kéo theo rủi ro khác.
- Rủi ro kết hợp: kết hợp nhiều loại rủi ro với nhau.
1.1.2.2. Cơ sở lý luận về quản lý rủi ro
a. Khái niệm về quản lý rủi ro
Quản lý rủi ro là một khái niệm mới đƣa vào sử dụng trong những năm gần đây.
Trƣớc hết, cần phân biệt khái niệm quản lý rủi ro và khắc phục rủi ro. Quản lý rủi ro đề
16
cập đến việc điều chỉnh trong sản xuất và sử dụng nguồn lực trƣớc khi xảy ra các biến
cố trong sản xuất, tức là trƣớc khi rủi ro xảy ra. Quản lý rủi ro không chỉ bao hàm ý
chống rủi ro mà còn bao hàm cả ý về lập kế hoạch nhằm thích ứng với rủi ro.
Chống rủi ro là những biện pháp, những ứng xử nhằm tránh rủi ro biểu hiện
17
- Chiến lƣợc thích ứng với rủi ro là chiến lƣợc dự phòng lâu dài, uyển
chuyển nhằm ổn định thu nhập vừa giải quyết đƣợc rủi ro, vừa tạo cơ hội cho phát
triển. Ví dụ mua bảo hiểm thì sẽ đƣợc đền bù khi mùa màng thất bát nên không phải
vay nợ lãi suất cao.
c. Nội dung quản lý rủi ro
* Nhận dạng, phân tích, đo lường rủi ro
+ Nhận dạng rủi ro: Để quản lý rủi ro trƣớc hết phải nhận dạng rủi ro đó là
quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh
doanh. Hoạt động nhận dạng rủi ro nhằm phát triển các thông tin về nguồn gốc rủi
ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm hoạ, đối tƣợng rủi ro và các loại tổn thất. Nhận dạng
rủi ro bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trƣờng hoạt động
và toàn bộ mọi hoạt động nhằm thống kê đƣợc tất cả các rủi ro, không chỉ những rủi
ro đã và đang xảy ra, mà còn dự báo đƣợc những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện,
trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ thích hợp khi xảy ra rủi ro.
+ Phân tích rủi ro: Bƣớc tiếp theo là phải tiến hành phân tích rủi ro, phải xác
định đƣợc các nguyên nhân gây ra rủi ro, trên cơ sở đó mới có thể tìm ra các biện
pháp phòng ngừa. Đây là một công việc rất phức tạp bởi vì mỗi loại rủi ro thƣờng
do nhiều nguyên nhân, trong đó có cả nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián
tiếp, nguyên nhân gần và nguyên nhân xa.
+ Đo lƣờng rủi ro: Là công việc xác định tần suất xuất hiện rủi ro trong một
khoảng thời gian nhất định và xác định mức độ nghiêm trọng của rủi ro. Trên cơ sở
đó có thể lập đƣợc ma trận đo lƣờng rủi ro.
Bảng 1.1: Ma trận đo lƣờng rủi ro
Tần suất xuất hiện
Mức độ nghiêm trọng
Cao
Thấp
phải sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo, gồm nhóm các biện pháp sau:
- Các biện pháp né tránh rủi ro là các biện pháp né tránh những hoạt động
hoặc những nguyên nhân làm phát sinh tổn thất, mất mát có thể có. Đây là biện
pháp đƣợc sử dụng thƣờng xuyên trong cuộc sống để né tránh rủi ro có thể xảy ra,
tức là loại trừ nguy cơ dẫn đến tổn thất.
- Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất là sử dụng các biện pháp giảm thiểu số
lần xuất hiện rủi ro hoặc giảm mức độ thiệt hại do những rủi ro mang lại.
- Các biện pháp giảm thiểu tổn thất là những biện pháp cứu vớt những tài sản
còn lại, xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa rủi ro, lập quỹ dự phòng,
phân tán rủi ro.
- Các biện pháp chuyển giao rủi ro là những biện pháp chuyển rủi ro đến cho
ngƣời khác, tổ chức khác thông qua các con đƣờng ký hợp đồng.
- Các biện pháp đa dạng rủi ro gần giống với kỹ thuật phân tán rủi ro, bao
gồm đa dạng hoá mặt hàng, đa dạng hoá khách hàng, đa dạng hoá thị trƣờng tiêu
thụ, đa dạng hóa bảo quản,... để phòng chống rủi ro.
- Phòng ngừa rủi ro là những biện pháp dự phòng để giảm rủi ro có thể xảy ra.
* Tài trợ khi rủi ro xảy ra
Rủi ro có rất nhiều loại, rủi ro có thể xuất hiện mọi lúc, mọi nơi, có thể đến
với bất cứ ai, bất cứ tổ chức nào. Do đó, dù phòng bị kỹ đến đâu, dù kiểm soát rủi ro
chặt chẽ cách nào thì cũng không thể né tránh, ngăn chặt đƣợc tất cả mọi tổn thất.
19
Vì vậy, khi tổn thất xảy ra phải có các biện pháp để tài trợ thích hợp bao gồm các
biện pháp chấp nhận rủi ro và bảo hiểm.
+ Chấp nhận rủi ro: Đây là hình thức mà ngƣời gặp phải tổn thất tự chấp
nhận khoản tổn thất đó hay tự khắc phục rủi ro đã xảy ra. Có thể chia chấp nhận rủi
ro làm hai nhóm là chấp nhận rủi ro thụ động và chấp nhận rủi ro chủ động. Trong
chấp nhận rủi ro thụ động, ngƣời ta gặp tổn thất không có sự chuẩn bị trƣớc và có
thể vay mƣợn để khắc phục hậu quả tổn thất. Đối với chấp nhận rủi ro chủ động,
hạn hán, mƣa, bão, lụt, sạt lở đất,... xảy ra liên tục gây thiệt hại về ngƣời và của. Tai
hại nhãn tiền mất rừng ở Tây Bắc là những trận lũ lụt liên miên, đặc biệt hai trận lũ
lụt tháng 6/1990 xảy ra ở sông Nậm Rốn, huyện Mƣờng Lay, tỉnh Lai Châu làm ngập
1/2 thị xã, 6 xã Mƣờng Lay ngập chìm, 300 ngƣời bị thƣơng, 76 ngƣời chết, thiệt hại
trên 22 tỷ đồng; trận lũ tháng 7/1991 ở dòng Nậm Na, tỉnh Sơn La làm 13 ngƣời bị
cuốn trôi chết, sập, lở hàng chục km đƣờng, thiệt hại gần 20 tỷ đồng. Không thể kể
hết đƣợc nhƣ những trận sạt lở núi ở Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Thọ,… Lũ
lụt do mất rừng còn liên tục gây tai hại lớn nhƣ: Năm 2007 ƣớc thiệt hại làm 435
ngƣời chết, 850 ngƣời bị thƣơng, 13.800 ha lúa bị hỏng, l.300 công trình thủy lợi bị
phá, 69.000 ngôi nhà đổ, trôi... ƣớc thiệt hại 11.600 tỷ đồng (1% GDP). Năm 2008 cả
nƣớc chịu 10 cơn bão lớn, thiệt hại do thiên tai là 11.640 tỷ đồng, 134 ngƣời chết
30.000 ha lúa, 11.200 ha nuôi tôm mất trắng... Năm 2009 cả nƣớc chịu 11 cơn bão,
mƣa, ngập… thiệt hại 23.200 tỷ đồng, 500 ngƣời chết. Cơn bão số 9 năm 2007 gây
thiệt hại nặng nề nhất 184 ngƣời chết, thiệt hại 14.300 tỷ đồng, riêng Miền Trung
thiệt hại 3.500 tỷ đồng. Đánh giá chung, thƣờng xuyên có tới 80-90% dân số Việt
Nam chịu ảnh hƣởng của bão. Ngoài ra, lũ lụt ngập úng tại các thành phố làm ách tắc
giao thông trầm trọng, ảnh hƣởng đến các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của ngƣời
dân. Sạt lở cũng xảy ra phổ biến ở các sông, suối, trƣợt lở đồi núi, sƣờn dốc, lún,
nứt... gây tổn thất rất lớn đến tính mạng, tài sản, nhà cửa và phá huỷ môi trƣờng. Hạn
hán liên tiếp xảy ra trong những năm gần đây ở khắp các vùng trên cả nƣớc cũng đã
để lại những hậu quà hết sức nặng nề trong đó có những năm làm giảm 20-30% năng
suất cây trồng, làm giảm sản lƣợng lƣơng thực.
Thống kê cho thấy, trong những năm từ 1996-2008, các loại thiên tai nhƣ:
bão, lũ, lũ quét, sạt lở đất, úng ngập, hạn hán và các thiên tai khác đã làm chết và
mất tích hơn 9.600 ngƣời. Giá tri thiệt hại về tài sản ƣớc tính chiếm khoảng 1,5%
GDP/năm. Mức độ thiên tai ở Việt Nam ngày càng gia tăng cả về quy mô cũng nhƣ
chu kỳ lặp lại kèm theo những đột biến khó lƣờng.
Tại Việt Nam, chỉ tính riêng năm 2007, thiên tai đã làm 435 ngƣời chết và
mất tích, 7.800 ngôi nhà bị sập đổ, 113.800 ha lúa bi hƣ hại, phá hủy và làm hƣ
hỏng nặng 1.300 công trình đập, cầu, cống, làm sạt lở 1.500 km đê, thiệt hại ƣớc