Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ trang trí ở trường mầm non nghĩa ninh, thành phố đồng hới, tỉnh quảng bình - Pdf 44

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến quý Thầy, Cô trong Khoa Sư
phạm Tiểu học – Mầm Non, Khoa Âm nhạc – Mỹ Thuật, Trường Đại học
Quảng Bình đã truyền đạt kiến thức, cũng như giúp đỡ, hỗ trợ tôi trong thời
gian vừa qua.
Tôi xin cám ơn ThS. Nguyễn Đại Thăng đã hướng dẫn khoa học trực
tiếp, tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong suốt quá trình thực hiện,
giúp tôi hoàn thành tốt khóa luận này.
Mặc dù đã cố gắng hết sức, song chắc chắn khóa luận không tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong nhận được sự thông cảm và chỉ bảo tận tình của
quý Thầy, Cô.


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp Đại học này do bản thân tôi thực
hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Đại Thăng. Các luận
điểm, thông tin, dữ liệu, hình ảnh minh họa trong khóa luận là khách quan,
khoa học và đã được công bố, lưu hành hợp pháp, có nguồn gốc xuất xứ rõ
ràng.

Quảng Bình, ngày

tháng 5 năm 2017

Người cam đoan

Đinh Thị Hảo


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1


Viết tắt

Viết đầy đủ

GDTM

Giáo dục thẩm mỹ

GDMN

Giáo dục mầm non

ĐC

Đối chứng

TN

Thực nghiệm

GV

Giáo viên

TB

Trung bình



2

xúc cảm tích cực, dễ chịu được nảy sinh khi trẻ tiếp xúc trực tiếp với “cái
đẹp”, tạo nên tinh thần sảng khoái khiến trẻ cảm thấy thiết tha với con người
và cảnh vật xung quanh, làm nảy nở ở trẻ lòng mong muốn làm những điều
tốt lành để mang lại niềm vui cho mọi người. Do những đặc điểm tâm lý ở lứa
tuổi này mà trẻ mẫu giáo là thời kỳ “hoàng kim” của Giáo dục thẩm mỹ
(GDTM) và chính việc GDTM lại có khả năng kỳ diệu tạo ra hiệu quả to lớn
đối với sự phát triển toàn diện nhân cách đặc biệt là giáo dục đạo đức và lòng
nhân ái.
Ở trẻ mẫu giáo, mặt thẩm mỹ phát triển nhanh nhất. Bởi đặc trưng tâm lý
giai đoạn này được biểu hiện tính hình tượng, tính dễ xúc cảm và đồng cảm.
Hơn thế nữa, bản thân sự phát triển thẩm mỹ dễ kéo theo sự phát triển của các
mặt khác như đạo đức, trí tuệ và cả thể chất. Do vậy GDTM cho trẻ mẫu giáo
là một việc làm không thể chậm trễ, cần được tiến hành một cách nghiêm túc
ngay từ lứa tuổi này để ươm trồng những tài năng cho tương lai.
GDTM cho trẻ mẫu giáo có thể qua nhiều con đường, nhiều hoạt động
và hình thức khác nhau. Song con đường GDTM cho trẻ mẫu giáo lớn thông
qua hoạt động vẽ trang trí được coi là con đường cơ bản và hiệu quả cao.
Thông qua hoạt động vẽ trang trí tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc, làm quen và
tập tạo ra cái đẹp để chúng nâng cao nhận thức thẩm mỹ và vận dụng những
hiểu biết về cái đẹp về cuộc sống như ăn mặc sao cho đẹp, ở sao cho gọn
gàng, ngăn nắp. Từ đó có ý thức tôn trọng và bảo vệ cái đẹp. Mặt khác, hoạt
động vẽ trang trí là một trong những hoạt động thu hút nhiều sự chú ý của trẻ
mẫu giáo, được tham gia vào tiết học vẽ là trẻ được tiếp xúc khám phá và thể
hiện một cách sinh động những gì chúng nhìn thấy trong thế giới xung quanh
làm cho chúng cảm thấy rất thích thú, say mê muốn tạo ra những cái đẹp, cái
hay làm cho quá trình giáo dục có hiệu quả cao. Như một nhà giáo dục Xô




4

trường mầm non, đây cũng là một mảng đề tài hấp dẫn cần được quan tâm và
nghiên cứu.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực trạng GDTM của trẻ 5 - 6
tuổi thông qua hoạt động vẽ trang trí ở Trường Mầm non Nghĩa Ninh. Tìm
hiểu nhằm tìm ra những biện pháp để nâng cao việc GDTM cho trẻ 5 - 6 tuổi.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
GDTM cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ trang trí ở Trường
Mầm non Nghĩa Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Việc GDTM cho trẻ trong trường mầm non có thể thực hiện bằng nhiều
con đường và nhiều mức độ khác nhau. Nhưng do thời gian và điều kiện
không cho phép nên chúng tôi chỉ tìm hiểu và nghiên cứu việc GDTM cho trẻ
mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ trang trí ở Trường Mầm non Nghĩa
Ninh.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài.
Tìm hiểu thực trạng về GDTM thông qua hoạt động vẽ trang trí ở
Trường Mầm non Nghĩa Ninh và đề xuất một số biện pháp GDTM cho trẻ 5 6 tuổi thông qua hoạt động vẽ trang trí.
Tiến hành làm thực nghiệm để xác định hiệu quả giáo dục và giải pháp
giáo dục đưa ra.
5. Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng giáo dục thẩm mỹ thông qua hoạt động vẽ trang
trí của trẻ 5 - 6 tuổi ở Trường Mầm non Nghĩa Ninh.




6

Sử dụng một số công thức toán học để phân tích xử lý số liệu đã thu thập
được làm cơ sở để đưa ra những nhận định, những đánh giá về mặt định tính
một cách khách quan về kết quả nghiên cứu.
7.4. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động của trẻ
Trên cơ sở nghiên cứu hoạt động vẽ và GDTM cho trẻ 5 - 6 tuổi, để xác
định được khả năng cảm thụ thẩm mỹ ở trẻ trong hoạt động vẽ trang trí.
7.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Đây là phương pháp dùng để kiểm nghiệm những phương pháp đã thiết
kế trong việc xây dựng đề tài.
Thực nghiệm gồm 3 bước, chọn lớp mẫu giáo lớn A, lớn B.
7.5.1. Thực nghiệm khảo sát
Quan sát tiết học và thu thập kết quả sản phẩm tạo hình của trẻ, đánh giá
kết quả hoạt động tạo hình của trẻ.
7.5.2. Tiến hành thực nghiệm tác động
Dựa vào các nguyên nhân đã điều tra được, tôi tiến hành một số tác động
để thay đổi một số thiếu sót.
7.5.3. Thực nghiệm kiểm chứng
Tiến hành kiểm chứng bằng cách so sánh kết quả thực hiện của hai lần
thực hiện tôi sẽ đưa ra các tiêu chuẩn và phân loại kết quả các sản phẩm của
trẻ, chủ yếu dựa vào kiến thức và sự hiểu biết của mình để đánh giá kĩ năng
của trẻ, ý thức thái độ và sự hứng thú của trẻ với tiết học.
Nhận xét, phân tích, so sánh kết quả sản phẩm của hai lần và đưa ra kết
luận cụ thể.
8. Đóng góp của đề tài
8.1. Về mặt lý luận
Đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về GDTM cho trẻ 5 - 6 tuổi
đặc biệt thông qua hoạt động vẽ trang trí.

trật tự, số lượng, chất lượng...” [9]. với Baumgaten (Giáo sư người Đức) cho
rằng: “Cái hoàn mỹ là cơ sở của cái đẹp, sự hoàn mỹ là sự nhận thức thuần
túy bao gồm có lý tính và ý chí, do đó sự hoàn mỹ là sự thống nhất của Chân Thiện - Mỹ” [10].
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng GDTM phải phù hợp với lý tưởng
chủ nghĩa xã hội và khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có thể tạo điều
kiện cho con người phát triển toàn diện và hài hòa vì vậy ở các thời đại sẽ có
những mục tiêu, hình thức, cách thức và biện pháp giáo dục và xây dựng các
chủ thể khác nhau, mỗi chủ thể thẩm mỹ hưởng thụ, thưởng thức, đánh giá và
sáng tạo cái đẹp, đều gắn với tính tất yếu của kinh tế, vì thế bản chất của
GDTM luôn luôn mang nội dung dân tộc, giai cấp và thời đại [11].
Thực tế cho thấy trong những năm gần đây GDTM trong trường mầm
non đã có những chuyển biến tích cực, đã có sự phối kết hợp các ban ngành
đoàn thể trong xã hội, quan tâm thực hiện triển khai các chuyên đề. Nghị
quyết Trung ương khoá VIII của ban chấp hành Trung ương Đảng khẳng định
“Thực sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Đầu tư cho giáo dục


9

là đầu tư cho sự phát triển”. Chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI, thế kỷ của
nền văn minh trí tuệ đòi hỏi thế hệ trẻ phải là những con người “Trí tuệ phát
triển cao, giàu tính sáng tạo, giàu tính nhân văn nhưng cũng phải giàu cảm
xúc thẩm mỹ” [14].
Trong việc giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non thì GDTM chiếm vị trí
đặc biệt quan trọng không thể thiếu. Nói đến việc nâng cao tính thẩm mỹ cho
trẻ ta lại liên tưởng ngay đến những bản sắc văn hóa của dân tộc, thuần phong
mỹ tục của người Việt Nam, hình thành và nâng cao chủ thể thẩm mỹ đỏi hỏi
phải có thời gian và một quá trình giáo dục. Nghiên cứu lý luận về thẩm mỹ:
Khái niệm, bản chất, vai trò, quan hệ thẩm mỹ với các hoạt động.
Các công trình nghiên cứu về vấn đề này như: C. Mác và Ph.Ăngghen

1.2.1. Khái niệm giáo dục thẩm mỹ
1.2.1.1. Khái niệm về thẩm mỹ
Nói đến thẩm mỹ tức là nói đến cái đẹp. Nhưng cái đẹp lại là vấn đề của
biết bao nhà triết học thuộc đủ mọi quốc gia sống trong mọi thời đại trong lịch
sử. Đã có rất nhiều quan điểm của các nhà Mỹ học về cái đẹp. Theo Mác:
“Cái đẹp không chỉ là thước đo hoạt động của con người mà còn là cái chuẩn
để chỉ phẩm chất người”. Mác viết “súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo thước
đo giống loài của nó, còn con người thì có thể áp dụng thước đo và thích
dụng cho mọi đối tượng, do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo quy
luật của cái đẹp” [11].
Như vậy cái đẹp gắn bó với bản chất sáng tạo của con người gắn với quá
trình hoàn thiện, hoàn mỹ. Hay cái đẹp là sự hài hòa, sự cân đối trong đời
sống vật chất lẫn tinh thần.
1.2.1.2. Khái niệm về giáo dục thẩm mỹ
GDTM là một quá trình tác động có hệ thống và có mục đích vào nhân
cách của cá nhân nhằm phát triển năng lực cảm thụ và nhận biết cái đẹp trong


11

nghệ thuật, trong tự nhiên và trong đời sống xã hội, giáo dục lòng yêu cái đẹp
và đưa vào cái đẹp vào trong đời sống như một cách sáng tạo.
1.2.2.1. Ý nghĩa của giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo
GDTM là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển toàn diện đối
với thế hệ trẻ và cần được tiến hành ngay từ lứa tuổi mẫu giáo. Do những đặc
điểm tâm lý ở lứa tuổi này mà trẻ mẫu giáo là thời kỳ “Hoàng kim” của giáo
dục thẩm mỹ.
GDTM là một quá trình tác động có hệ thống và có mục đích vào nhân
cách của cá nhân nhằm phát triển năng lực cảm thụ và nhận biết cái đẹp trong
nghệ thuật, trong tự nhiên và trong đời sống xã hội, giáo dục lòng yêu cái đẹp

Với giáo dục lao động: GDTM có liên hệ trực tiếp với giáo dục lao động
và thể dục. Toàn bộ vẻ đẹp của hoàn cảnh và sự tổ chức quá trình lao động có
tác dụng tăng năng suất lao động. Qua việc tiếp xúc, khám phá, tìm hiểu cái
đẹp trẻ hứng thú và làm việc say mê, tích cực hơn. Sức khỏe và phát triển, thể
lực tốt, tư thế đẹp bao giờ cũng gây ra cảm giác đẹp mắt và các tác dụng thẩm
mỹ đến sự phát triển chung về mặt tinh thần của con người, vẻ đẹp của các
thao tác, vận động của nhịp điệu kích thích hứng thú của trẻ đối với việc tập
thể dục.
Như vậy, GDTM là một bộ phận của giáo dục xã hội chủ nghĩa. Góp
phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách, phát triển toàn diện.
1.2.2. Nội dung của giáo dục thẩm mỹ cho trẻ Mẫu giáo lớn
1.2.2.1. Sự phát triển tri giác, tình cảm và khái niệm thẩm mỹ cho trẻ
mẫu giáo
GDTM bắt đầu từ sự phát triển năng lực tri giác cái đẹp, cảm thụ cái đẹp,
hiểu cái đẹp. Đó là những rung cảm thẩm mỹ, những tình cảm thẩm mỹ.
Cơ sở của sự tri giác cái đẹp là nhận thức cảm tính cụ thể về mặt thẩm
mỹ. Nhìn và nghe là cơ sở đầy đủ về phương diện tâm lý, sinh lý để tri giác
cái đẹp. Ngay từ những năm đầu trẻ đã bị lôi cuốn một cách vô thức vào tất cả


13

những gì sống động, sặc sỡ, hấp dẫn,...Qua những bài hát và bức ảnh song đó
chưa phải là tình cảm thẩm mỹ mà chỉ là sự biểu hiện ra của hứng thú nhận
thức. Vì vậy, GDTM giúp trẻ diễn ra quá trình chuyển từ quá trình nhận thức
bản năng sang sự tri giác có ý thức về cái đẹp. Cần làm cho trẻ chú ý đến
những sự vật, hiện tượng của tự nhiên, đến những hành vi của con người, dạy
cho các em biết nhìn ra và phát triển được cái đẹp trong đời sống, trong thiên
nhiên, lao động, trong hành vi và hành động của con người, dạy cho các em
biết về phương diện thẩm mỹ đối với thế giới xung quanh, giáo dục tình cảm

tượng của trẻ phát triển phong phú nhất, sự phát tiển của trẻ trong tranh vẽ trở
thành phương tiện nhận thức cái đẹp và sự thể hiện phong phú của tâm hồn
trẻ. Vì vậy, để phát triển óc sáng tạo cho trẻ cần có qua trình dạy học để giúp
trẻ cách diễn đạt hình tượng và mô tả chủ định khi ca hát, vẽ, kể chuyện, thức
dậy ở trẻ những biểu hiện có ý thức về nghệ thuật, gây ra cảm xúc tích cực và
phát triển năng lực. Mục đích của việc dạy kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nghệ
thuật không chỉ giúp trẻ có tri thức và kỷ xảo về ca, hát, vẽ mà còn gây ra sự
hứng thú, hoạt động độc lập, sáng tạo, sẽ mang lại niềm vui trong cuộc sống
của trẻ, trong tập thể và gia đình.
1.2.2.3. Hình thành những cơ sở của thị hiếu thẩm mỹ
Sự cảm thụ cái đẹp có liên hệ mật thiết đến năng lực đánh giá cái đẹp
một cách đúng đắn. Thị hiếu thẩm mỹ của con người luôn được biểu hiện ở sự
phán đoán đánh giá.
Cần dạy cho các em phân biệt cái đẹp với cái không đẹp, cái thô kệch và
cái xấu xí. Giáo dục cho các em năng lực trình bày lý do tại sao lại thích bức
tranh này, tại sao lại thấy đẹp và tại sao lại thấy không đẹp...
Hình thành cơ sở của thị hiếu thẩm mỹ thông qua việc tìm hiểu các tác
phẩm cổ điển của thiếu nhi, tìm hiểu âm nhạc, hội họa. Trẻ học cách nhận
biết, yêu mến các tác phẩm nghệ thuật chân chính.


15

Dạy trẻ biết nhận ra và cảm thụ cái đẹp trong cuộc sống xung quanh và
biết bảo vệ nó. Ví dụ: Một bông hoa đẹp trong khóm hoa, một lớp học đẹp,
ấm cúng và sạch sẽ, đều là những cái đẹp trong cuộc sống phải biết bảo vệ và
chăm sóc, giữ gìn và nâng niu.
1.2.3. Những căn cứ cơ bản để giáo dục thẩm mỹ ở trường mẫu giáo
1.2.3.1. Vẻ đẹp của khung cảnh xung quanh trẻ (vẻ đẹp trong sinh hoạt
hằng ngày)

Cuộc sống xung quanh trẻ là những đường phố, những đài kỉ niệm các di
tích lịch sử, quảng trường lịch sử đều là những nhân tố tích cực góp phần
GDTM cho trẻ. Trong các cuộc tham quan, cô giáo phải lựa chọn để giới
thiệu và mở rộng tầm nhìn và sự cảm thụ thẩm mỹ cho trẻ.
1.2.3.3. Thiên nhiên, quê hương đất nước
Vẻ đẹp thiên nhiên trong thời thơ ấu được cảm thụ sâu sắc và trong sáng,
nó được giữ lại trong tình cảm, tư tưởng và giữ mãi trong cuộc đời.
Ví dụ: Bé Cầm Thơ tả lại cảnh tời mưa:
Cây đứng vẫy mưa đến
Hoa cà chua cười
Bầu nập treo hứng nước
Lá lim gội đầu
Lá dứa được mưa vuốt
Sạch ghê.
Cô giáo phải biết mở ra cho các em thế giới tự nhiên, dạy cho trẻ biết
nhìn vẻ đẹp của buổi bình minh, màu sắc buổi hoàng hôn, biết lắng nghe tiếng
chim hót, tiếng lá rơi xào xạc, tiếng suối chảy róc rách; cô biết tạo cảm xúc
cho trẻ trong các buổi dạo chơi, tham quan, làm cho trẻ yêu mến cảnh đẹp
thiên nhiên của quê hương, đất nước.


17

1.2.3.4. Nghệ thuật
Là một phương diện toàn diện và vô tận để GDTM. Loại hình nghệ thuật
phù hợp với trẻ: Văn học, hội họa, điêu khắc, sân khấu điện ảnh. Mỗi loại
hình nghệ thuật phản ánh một cách độc đáo, cuộc sống và có ảnh hưởng quan
trọng đến sự phát triển trí tuệ và tình cảm của trẻ. Cô giáo phải biết sử dụng
các loại hình nghệ thuật khác nhau để gây cho trẻ những cảm xúc thẩm mỹ và
phát triển thị hiếu thẩm mỹ đúng đắn. Điều quan trọng là sự lựa chọn các tác

thức của tác phẩm.
Khi sử dụng phương pháp trò chuyện bằng câu hỏi của mình cô giáo làm
cho trẻ lưu ý, suy nghĩ về những điểm chủ yếu, tìm hiểu và huy động kinh
nghiệm của trẻ, làm sâu sắc những cảm xúc thẩm mỹ của trẻ. Trong khi trò
chuyện tập cho trẻ nói lên những ấn tượng của mình, bày tỏ thái độ của mình
với tác phẩm và các hiện tượng trong cuộc sống. Khi trò chuyện phải dùng từ
xúc cảm thẩm mỹ của trẻ đối với tác phẩm nghệ thuật để trẻ học theo, làm
theo và bắt chước theo.
Khi dạy trẻ vẽ, nặn, hát, múa cô truyền đạt cho trẻ những tri thức cần
thiết và hình thành kỹ năng nhất định. Bởi vậy, cần vận dụng phương pháp
tập luyện để trẻ hiểu được những thao tác, cách biểu hiện, cách sử dụng đồ
dùng học tập (bút chì, bút lông,...) cô cần dùng các biện pháp chỉ dẫn, làm
mẫu.
1.3. Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động vẽ
trang trí
1.3.1. Một số vấn đề về hoạt động vẽ trang trí cho trẻ mẫu giáo
1.3.1.1. Khái niệm về trang trí
Theo cách hiểu thông thường, trang trí là nghệ thuật làm đẹp. Nó giúp
cho cuộc sống xã hội thêm phong phú và con người hoàn thiện hơn. Ý thích
làm đẹp, mong muốn cái đẹp luôn tồn tại trong mỗi con người dù đó là ai và
sống trong hoàn cảnh nào. Những ngày lễ tết ai cũng muốn gọn gàng, sạch sẽ,


19

mặc những bộ quần áo đẹp nhất của mình, trang trí nhà cửa của mình sao cho
hấp dẫn, đẹp đẽ, sạch sẽ. Đường phố được trang hoàng bằng băng rôn, khẩu
hiệu, cờ hoa,….
Trong các cuộc họp quan trọng thì việc trang trí hội trường được chuẩn
bị rất kỹ lưỡng vì nó chính là bộ mặt của đơn vị đứng ra tổ chức. Trong cuộc

dáng màu sắc càng muôn vẻ và tinh tế. Những kết quả đó nói lên sự sáng tạo
về trang trí vô cùng phong phú và to lớn của con người.
1.3.1.3. Nguồn gốc, sự hình thành và phát triển của vẽ trang trí
Vẽ trang trí được hình thành và phát triển qua quá trình lao động sản
xuất và đấu tranh sinh tồn của con người. Kể từ thời sơ khai của lịch sử, khi
con người còn ở trong hang động, sống dọc theo các triền sông, họ đã biết sử
dụng các dụng cụ thô sơ như đoạn cây, hòn đá làm công cụ đào bới, săn bắt
để sinh sống. Dần dần họ biết làm cho những công cụ đó hoàn hảo và dễ dàng
sử dụng hơn, biết đánh dấu công cụ để khẳng định đồ vật của mình. Cứ như
thế nâng dần lên những hình trang trí cho đẹp mắt và chế tác ra nhiều công cụ
phục vụ cho cuộc sống như: Rìu, dao, ấm,… Các loại hình nghệ thuật chính là
những dấu hiệu rõ nét ghi lại những bước tiến hóa ấy qua từng thời đại. Tại
các di tích khảo cổ được biết đến, người ta tìm thấy các hình khắc trên các
hang, vách đá mô tả cảnh săn bắn như: Hang Ô-ri- nhắc (Pháp), hang động ở
Tây Ban Nha,… Cùng các dân tộc khác nhau trên Trái đất, người Viết cổ
cũng có những sự phát triển tương tự về mỹ thuật trang trí của mình trên các
đồ dùng thực dụng bằng gỗ đá, sắt, đồng…
Nghệ thuật trang trí ở Việt Nam cũng phát triển theo trào lưu chung của
sự phát triển xã hội. Thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn,… Mỗi giai đoạn đều để lại
những công trình chứa đựng nghệ thuật trang trí của dân tộc như: Đình Tây
Đằng, chùa Phật Tích, chùa Đậu, chùa Tây Phương, chùa Keo,...


21

1.3.1.4. Các loại trang trí ở mầm non
Trong chương trình học ở trường mầm non vẽ trang trí bao gồm: Vẽ
trang trí các đồ vật và trang trí cơ bản.
Ví dụ :
Trang trí cơ bản: Hình tròn, vuông, chữ nhật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status