Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG
TÌM HIỂU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC
THẨM MỸ CHO TRẺ 4-5 TUỔI
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH
Ở TRƢỜNG MẦM NON NGÔ QUYỀN –
VĨNH YÊN – VĨNH PHÚC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
Th.S NGÔ THỊ TRANG
HÀ NỘI - 2014
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
Lớp: K36A - GDMN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Khóa luận tốt nghiệp
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Những số
liệu và kết quả nghiên cứu trong khoá luận là hoàn toàn trung thực. Đề tài này
chưa được công bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác.
Hà Nội, ngày tháng
năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Thúy Hằng
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
Lớp: K36A - GDMN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 4
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .............................................................. 4
4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 4
1.4.3. Các hình thức tổ chức cho trẻ Mẫu giáo nhỡ trong hoạt động tạo hình ở
trường mầm non .............................................................................................. 27
1.4.4. Vai trò của hoạt động tạo hình đối với việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ
mẫu giáo nhỡ ................................................................................................... 29
1.4.5. Ý nghĩa của hoạt động tạo hình với việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu
giáo nhỡ ........................................................................................................... 30
CHƢƠNG 2: TÌM HIỂU THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO
TRẺ MẪU GIÁO NHỠ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TẠO HÌNH Ở
TRƢỜNG MẦM NON NGÔ QUYỀN - TP.VĨNH YÊN - VĨNH PHÚC ....
......................................................................................................................... 31
2.1. Một số nét về khách thể nghiên cứu ........................................................ 31
2.2. Thực trạng về việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua
hoạt động tạo hình ở trường mầm non Ngô Quyền – Vĩnh Yên – Vĩnh phúc 32
2.2.1. Thực trạng nhận thức của giáo viên trường Mầm non Ngô Quyền –
Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc về vai trò của việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo
nhỡ thông qua hoạt động tạo hình ................................................................... 33
2.2.2. Thực trạng việc thực hiện các nội dung giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu
giáo nhỡ thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non Ngô Quyền –
TP.Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc .............................................................................. 34
2.2.3. Thực trạng việc sử dụng các phương pháp tổ chức nhằm giáo dục thẩm
mỹ cho trẻ Mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non
Ngô Quyền - TP.Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc ......................................................... 34
2.2.4. Thực trạng việc phối hợp giữa giáo viên và gia đình trẻ trong vấn đề
giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tạo hình ......... 40
CHƢƠNG 3: NGUYÊN NHÂN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
nghĩa với việc chúng ta phải đào tạo được những con người mới, đó là những
con người vừa có đức, vừa có tài, có thể cống hiến trí tuệ của mình cho xã
hội.
Giáo dục mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Vì vậy chăm lo, giáo dục trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non là một việc làm
cần thiết và vô cùng quan trọng.
Nổi cộm trong vấn đề giáo dục trẻ mầm non mà chúng ta không thể
không nhắc đến đó là vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho trẻ.
Giáo dục thẩm mỹ là quá trình tác động có tổ chức, có mục đích, có kế
hoạch của giáo viên đến trẻ nhằm hình thành ở trẻ văn hóa thẩm mỹ. Giúp trẻ
cảm thụ cái đẹp, phát hiện cái đẹp, rung động trước cái đẹp, biết vận dụng và
sáng tạo cái đẹp.
Với mỗi trẻ em nói chung, trẻ mầm non nói riêng đều có tâm hồn nhạy
cảm với thế giới xung quanh, thế giới xung quanh chứa đựng bao điều mới lạ
hấp dẫn. Trẻ thường tỏ ra dễ xúc cảm với cảnh vật xung quanh, trẻ dễ bị cuốn
hút trước cảnh vật có nhiều màu sắc, hay một bông hoa đẹp, bức tranh sinh
động, đồ chơi ngộ nghĩnh,…Với đặc điểm như vậy nên năng khiếu nghệ thuật
thường được nảy sinh ngay từ tuổi ấu thơ. Vì vậy việc giáo dục thẩm mỹ cần
được bồi dưỡng ngay từ tuổi mẫu giáo để ươm trồng những tài năng nghệ
thuật cho tương lai.
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
1
Lớp: K36A - GDMN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
2
Lớp: K36A - GDMN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Theo các chuyên gia trong ngành giáo dục thì trẻ được tiếp cận với bậc
học mầm non càng sớm, càng thúc đẩy quá trình học tập và phát triển ở các
giai đọan tiếp theo.
Trong việc giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non thì giáo dục thẩm mỹ
chiếm một vị trí quan trọng không thể thiếu. Chân – thiện – mỹ là ba mốc
quan trọng trên bước đường hoàn thiện nhân cách cho trẻ.
Nói đến giáo dục thẩm mỹ ta thường liên tưởng ngay đến bản sắc dân
tộc, đến thuần phong mỹ tục của người Việt Nam. Giáo dục thẩm mỹ thực
chất là hình thành chủ thể thẩm mỹ, để trở thành chủ thể thẩm mỹ đòi hỏi phải
có thời gian và phải trải qua một quá trình giáo dục.
Trẻ mầm non ham thích được hoạt động tạo hình theo ý của trẻ để tạo
ra sản phẩm mà trẻ yêu thích. Để tạo ra được một sản phẩm đẹp trước hết trẻ
phải hiểu được cái đẹp, có tình cảm với nó và có kỹ năng tạo ra nó thì trẻ mới
hoàn thành sản phẩm đó được. Vì thế mà hoạt động tạo hình như một thứ
ngôn ngữ riêng để trẻ biểu lộ tình cảm, tiếng nói của mình với mọi người
xung quanh.
Ở trường Mầm non từ nhiều năm nay, hoạt động tạo hình là một
môn học chính, bao gồm nhiều hoạt động như: vẽ, nặn, cắt, xé dán. Đây là m
ột môn học rất được quan tâm và chú trọng.
Thực tế cho thấy trong những năm gần đây, giáo dục thẩm mỹ thông
công tác giảng dạy sau này.
3. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt
động tạo hình ở trường mầm non Ngô Quyền - TP. Vĩnh Yên - Vĩnh phúc.
- Khách thể nghiên cứu:
Hoạt động tạo hình của trẻ mẫu giáo nhỡ.
4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ trong trường mầm non có thể thực
hiện bằng nhiều con đường và ở nhiều mức độ khác nhau. Nhưng do thời gian
và điều kiện có hạn nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ xin dừng lại ở việc
tìm hiểu thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt
động tạo hình ở trường mầm non Ngô Quyền - TP Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc.
5. Giả thuyết khoa học
Hoạt động tạo hình là một hoạt động quan trọng trong nội dung giáo
dục mầm non. Nó có tác dụng to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
4
Lớp: K36A - GDMN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
cách cho trẻ, cả về trí tuệ, đạo đức và đặc biệt là về thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo
nhỡ tại trường Mầm non Ngô Quyền. Nhận thức đúng ý nghĩa của hoạt động
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
- Phƣơng pháp khảo sát, điều tra thực tiễn: Tôi tiến hành điều tra
giáo viên, và phụ huynh với hàng loạt các câu hỏi được trình bày dưới dạng
đóng hoặc mở nhằm xác định nhận thức, thái độ của họ về việc giáo dục thẩm
mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động tạo hình ở trường mầm non.
Quá trình điều tra bằng phiếu hỏi được tiến hành theo một trình tự nhất
định, bắt đầu từ việc xây dựng kế hoạch, thiết kế mẫu phiếu điều tra, chọn
mẫu điều tra, tiến hành điều tra và cuối cùng là xử lí kết quả điều tra.
- Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm: Tôi chủ động tác động vào trẻ
để chứng minh giả thuyết ban đầu của mình về giáo dục thẩm mỹ thông qua
hoạt động tạo hình ở trường mầm non.
- Phƣơng pháp tổng kết kinh nghiệm: Phương pháp này được tôi tiến
hành theo một trình tự nhất định: Trước hết, phát hiện những kinh nghiệm
giáo dục điển hình trong thực tiễn thông qua việc tổng kết các chuyên đề,
chương trình giáo dục hàng năm; xem báo cáo, trao đổi trực tiếp. Sau đó, lặp
lại kinh nghiệm giáo dục vào điều kiện thực tiễn và phân tích kết quả. Cuối
cùng, sử dụng kinh nghiệm sau khi đã kiểm tra trong điều kiện của trường.
Từ những lý thuyết tìm hiểu được tôi tiến hành điều tra ở thực tiễn để
thấy được thực trạng và đưa ra những biện pháp nhằm thay đổi nó.
- Phƣơng pháp xử lý kết quả nghiên cứu bằng thống kê: Tôi sử
dụng các công thức thống kê để đánh giá kết quả nghiên cứu.
8. Kế hoạch nghiên cứu
12/2013 – 1/2014: Nhận đề tài và hoàn thành đề cương.
1 – 2/2014: Tìm hiểu cơ sở lí luận.
3 – 4/2014: Tìm hiểu thực trạng.
đưa ra quan điểm về cái đẹp: Cái đẹp không chỉ là thước đo hoạt động của
con người mà là cái chuẩn để chỉ phẩm chất người.
L.X.Vưgotxki (1896-1955), trí tưởng tượng và sáng tạo ở lứa tuổi
thiếu nhi. NXB Phụ nữ, Hà Nội, 1985. Ông đã nhấn mạnh sự ảnh hưởng qua
lại của tư duy và tưởng tượng trong hoạt động sáng tạo và khẳng định rằng
tưởng tượng có vai trò rất lớn đối với hoạt động sáng tạo và là một thành phần
không thể thiếu của tư duy sáng tạo.
N.K Krupxkaia về giáo dục Mẫu giáo, 1973-TR208 “ Cứ để các em
làm con tàu mà các em đi bằng những chiếc ghế, cứ để các em dựng ngôi nhà
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
7
Lớp: K36A - GDMN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
bằng các mẩu gỗ vụn. Trong quá trình trẻ chơi trẻ khắc phục khó khăn, nhận
biết những cái xung quanh mà tìm ra lối thoát”.
Các công trình nghiên cứu về tâm lý học khẳng định: “Tính hình tượng, tính
dễ cảm xúc và tính đồng cảm tạo nên đặc trưng ở lứa tuổi mẫu giáo”.
(A.V.Daparojets).
Ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học về
thẩm mỹ nói chung và việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nói riêng như:
+“ Thẩm mỹ học đại cương” của tác giả Tào Văn Ân_Trường Đại
học Cần Thơ. Ông đề cập đến đối tượng của mỹ học, mối quan hệ thẩm mỹ
Trẻ mẫu giáo nhỡ công năng tuần hoàn của trẻ phát triển, mỗi phút tim
của trẻ đập 100 nhịp. Hoạt động với tần số lớn nên trẻ rất mệt, vì thế trong
hoạt động không nên để trẻ vận động quá sức hoặc quá hưng phấn sẽ không
tốt cho sức khỏe của trẻ.
Ngoài việc chú ý đến hoạt động của trẻ thì ở trường còn thực hiện việc
chăm sóc cho trẻ. Bữa ăn trưa của trẻ diễn ra ở trường, thức ăn được chế biến
phù hợp với hệ tiêu hóa của trẻ. Trẻ mẫu giáo nhỡ hệ tiêu hóa chưa hoàn
thiện, trẻ chưa hấp thụ được thức ăn như người lớn. Vì thế cần tránh cho trẻ
ăn đồ cứng, phải tập cho trẻ thói quen ăn hết xuất, không làm rơi cơm ra
ngoài.
Trẻ 4 tuổi đang ở giai đoạn răng sữa nên việc vệ sinh răng miệng rất
quan trọng để đảm bảo cho hàm răng chắc khỏe vĩnh viễn sau này. Cần giáo
dục trẻ thói quen vệ sinh răng miệng.
Bước sang tuổi thứ tư nên sinh lí trẻ đã có sự biến đổi rõ rệt so với giai
đoạn trước. Trẻ ham thích tìm hiểu nhưng cũng rất nhanh chán. Vì thế giáo
viên cần nắm rõ để có chế độ chăm sóc hợp lý, tổ chức các hoạt động khám
phá khoa học, khám phá thế giới xung quanh.
1.2.2. Đặc điểm tâm lí
Ở lứa tuổi mẫu giáo nhỡ, nhiều phẩm chất chú ý có chủ định phát triển
nhanh do sự phát triển của ngôn ngữ và tư duy. Sức tập trung chú ý của trẻ
cao, trẻ có thể vẽ, nặn một thời gian khá dài.
Ngôn ngữ của trẻ mang tính chất hoàn cảnh, tình huống. Nghĩa là ngôn
ngữ của trẻ gắn liền với sự vật, hoàn cảnh, con người, hiện tượng đang xảy ra
trước mắt trẻ.
Cuối 4 tuổi, ngôn ngữ của trẻ đã bắt đầu biết nối kết giữa tình huống
hiện tại với quá khứ thành một “văn cảnh”. Vốn từ của trẻ tăng lên không chỉ
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
9
giáo nhỡ được giàu lên thêm nhiều, chức năng ký hiệu phát triển mạnh, lòng
ham hiểu biết và hứng thú nhận thức tăng lên rõ rệt. Đó là điều kiện thuận lợi
cho tư duy trực quan – hình tượng phát triển và đây cũng là thời điểm kiểu tư
duy đó phát triển mạnh mẽ nhất, nhưng chất lượng khác với trẻ 3 tuổi ở chỗ
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
10
Lớp: K36A - GDMN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
trẻ bắt đầu biết suy nghĩ xem xét nhiệm vụ hoạt động, phương pháp và
phương tiện giải quyết nhiệm vụ tư duy.
Nhờ có sự phát triển ngôn ngữ, trẻ ở lứa tuổi này đã xuất hiện loại tư
duy trừu tượng.
Nhờ có sự phát triển các hoạt động tạo hình mà khả năng tưởng tượng
của trẻ được nâng lên.Tranh vẽ của trẻ vừa gần với hiện thực hơn, vừa mang
tính chủ quan cảm xúc rõ nét hơn.
Độ phong phú của các hình ảnh tưởng tượng cao nhờ có sự nhận thức
được màu sắc trong thiên nhiên và qua các tiết nghệ thuật tạo hình.Trẻ có thể
xé dán các mẫu hình, truyện cổ tích, biết bố cục… những chủ đề gần gũi thân
quen đối với trẻ… nếu được thầy cô giáo, cha mẹ hướng dẫn chu đáo.
Việc hướng dẫn tổ chức các tiết học tạo hình, vẽ, nặn, cho trẻ tham
quan các di tích, danh lam thắng cảnh… rất cần thiết cho sự tưởng tượng của
trẻ.
dụng thước đo và thích dụng cho mọi đối tượng. Do đó con người cũng nhào
nặn vật chất theo quy luật của cái đẹp” ( C.Mac. Ănghen. Tuyển tập, T1,
NXB Sự thật, Hà Nội 1980, trang 19).
Như vậy, cái đẹp gắn bó với bản chất sáng tạo của con người, gắn với
quá trình hoàn thiện, hoàn mỹ. Hay cái đẹp là sự hài hòa, sự cân đối trong đời
sống vật chất lẫn tinh thần.
1.3.1.2. Khái niệm về giáo dục thẩm mỹ
Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển
toàn diện đối với trẻ và cần được tiến hành ngay từ lứa tuổi mẫu giáo.
Theo quan điểm của Mỹ học Mac – Lenin, giáo dục thẩm mỹ có thể hiểu theo
hai nghĩa:
Nghĩa hẹp: Giáo dục thẩm mỹ là quá trình giáo dục có tính trường quy
về cái đẹp, giáo dục con người biết cảm thụ, đánh giá và sáng tạo cái đẹp.
Nghĩa rộng: Giáo dục thẩm mỹ là quá trình giáo dục và tự giáo dục
nhằm phát huy mọi năng lực của con người theo quy luật của cái đẹp, trong
đó có việc bồi dưỡng nhận thức, thị hiếu thẩm mỹ và lí tưởng thẩm mỹ của
con người. Xây dựng những tình cảm mạnh mẽ để con người có thể phân biệt
rạch ròi giữa cái đẹp – cái xấu, cái cao cả - cái thấp hèn.
Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ em với tư cách là một môn khoa học để giáo
dục trẻ và đây được hiểu như một khái niệm rộng, trong đó chủ yếu là giáo
dục thái độ thẩm mỹ của trẻ đối với thiên nhiên, đời sống xã hội, lao động,
sinh hoạt và nghệ thuật. Nhiệm vụ của giáo dục thẩm mỹ là hình thành ở trẻ
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
12
Lớp: K36A - GDMN
Vẻ đẹp của hoàn cảnh xung quanh trẻ em (Vẻ đẹp trong sinh hoạt hàng ngày)
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
13
Lớp: K36A - GDMN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
Vẻ đẹp của hoàn cảnh xung quanh trẻ em, những bức tường của ngôi
nhà thân yêu, những đồ vật xung quanh trẻ có tác động lớn đến trẻ từ những
năm đầu. Đồ đạc, tiện nghi trong nhà, sự kết hợp hài hòa màu sắc, các bức
tranh treo tường, những phù điêu và tượng trang trí, phong cách trang trí
phòng ở, tất cả những cái đó đều để lại những ấn tượng sâu sắc, được phản
ánh trong trí nhớ và trong ý thức của trẻ nhỏ.
Vẻ đẹp của hoàn cảnh có ảnh hưởng hàng ngày đến trẻ, tác động
thường xuyên đến trẻ và khó nhận ra, song là phương tiện rất quan trọng để
giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo. Cần phải tạo điều kiện cho nơi ở và sinh
hoạt của trẻ có vẻ đẹp tươi vui, hấp dẫn và mang tính thẩm mỹ cao.
Những ấn tượng từ cuộc sống xung quanh trẻ
Nguồn gốc của sự cảm thụ và những xúc cảm thẩm mỹ chính là cuộc
sống. Cô giáo cần sử dụng những ấn tượng từ cuộc sống xung quanh như một
trong những phương tiện của mỹ dục. Điều này được phản ánh rất cụ thể
trong trò chơi của trẻ.
Trong các hội, ngày lễ, trong những cuộc thao diễn thể dục thể thao,
cảnh trí tấp nập của đường phố, cờ, hoa cũng để lại cho trẻ những ấn tượng
Cần tổ chức cho trẻ tham gia các hoạt động nghệ thuật như hát, múa,
vẽ, kể chuyện, đọc thơ để nâng cao hứng thú và phát triển mầm mống của
năng khiếu nghệ thuật.
1.3.3. Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ Mẫu giáo nhỡ
1.3.3.1. Ý nghĩa của việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ
Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận quan trọng của giáo dục phát triển
toàn diện đối với thế hệ trẻ và cần được tiến hành ngay từ lứa tuổi mẫu giáo.
Do những đặc điểm phát triển tâm lý ở lứa tuổi này mà trẻ mẫu giáo là thời kỳ
“hoàng kim” của giáo dục thẩm mỹ.
Hầu hết trẻ thơ đều có một tâm hồn nhạy cảm. Đối với các em, thế giới
xung quanh chứa đựng bao điều mới lạ, hấp dẫn. Trẻ thơ thường tỏ ra dễ xúc
cảm đối với người và cảnh vật xung quanh. Tính hình tượng đang phát triển
mạnh mẽ, hầu như chi phối mọi hoạt động tâm lý của trẻ.
Giáo dục thẩm mỹ là một khái niệm rộng, trong đó chủ yếu là giáo dục
thái độ thẩm mỹ đối với thiên nhiên, lao động đời sống xã hội, sinh hoạt và
nghệ thuật. Bởi vậy thẩm mỹ thuộc phạm trù quan hệ, đánh giá. Khi có quan
hệ đến đối tượng thẩm mỹ, cá nhân bộc lộ thái độ của mình qua sự đánh giá.
Thái độ trong tâm lý được lý giải như là một mối liên hệ giữa con người với
hiện thực. Tất nhiên thái độ phản ánh cả tập hợp, động cơ, tình cảm, ý thức.
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
15
Lớp: K36A - GDMN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
16
Lớp: K36A - GDMN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
chung về mặt tinh thần của con người. Vẻ đẹp của các thao tác, các vận động,
của nhịp điệu kích thích hứng thú của trẻ đối với việc tập thể dục và thể thao.
Với tất cả những ý nghĩa trên, giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận của
giáo dục XHCN, góp phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách phát
triển toàn diện. Giáo dục thẩm mỹ cần được tiến hành ngay từ lứa tuổi mẫu
giáo. Các hình tượng nghệ thuật tác động vô cùng mạnh mẽ đến trẻ em. Bởi vì
trẻ, cảm thụ nhờ tư duy trực quan hình tượng, nhờ tính dễ xúc cảm và nhờ
mối quan hệ tích cực của trẻ mẫu giáo đối với hiện thực xung quanh.
1.3.3.2. Nội dung giáo dục thẩm mỹ cho trẻ Mẫu giáo nhỡ
Phát triển tri giác, tình cảm và khái niệm thẩm mỹ cho trẻ mẫu giáo nhỡ.
Giáo dục thẩm mỹ bắt đầu từ sự phát triển năng lực tri giác cái đẹp,
cảm thụ cái đẹp, hiểu cái đẹp theo cách người ta thường nói về nghệ thuật.
Theo quan điểm của Mỹ học Mác – Lênin sự tri giác cái đẹp được hiểu
là quá trình cảm thụ cái đẹp mà kết quả của nó là những rung cảm thẩm mỹ,
những tình cảm thẩm mỹ.
Cơ sở của sự tri giác cái đẹp là nhận thức cảm tính cụ thể về mặt thẩm
mỹ. Nhìn và nghe là cơ sở đầy đủ về phương diện tâm lí, sinh lí để tri giác cái
đẹp. Từ “đẹp” sớm đi vào cuộc sống của trẻ. Trẻ say sưa lắng nghe bài hát,
sớm bị lôi cuốn một cách vô thức vào những gì sống động, sặc sỡ, hấp dẫn,..
Song đó chưa phải là tình cảm thẩm mỹ mà chỉ là sự biểu hiện ra của hứng
Đặc điểm sáng tạo của trẻ thể hiện ở chỗ trong hoạt động trẻ thực hiện
một cách có chủ định, biết phối hợp các tri thức về ấn tượng của mình ở tính
chân thực cao khi thể hiện tình cảm và tư tưởng,… Hơn nữa đặc điểm tâm lý
được thể hiện rất rõ trong hoạt động vui chơi của trẻ. Trong trò chơi, trẻ bắt
chước những hoạt động của người lớn, trẻ biết thể hiện bằng hình ảnh những
ấn tượng lấy trong thế giới xung quanh.
Óc tưởng tượng sáng tạo của trẻ cũng được thể hiện ở chỗ các em
thường kết hợp có ý thức các chủ đề khác nhau. Các em lấy tư tưởng từ
chuyện cổ tích hay những câu chuyện trong cuộc sống, phim ảnh, từ các vở
diễn trên sân khấu,… Các em phối hợp các tri thức, ấn tượng và thống nhất
chúng trong một cái hoàn chỉnh. Thường các em mô tả những cái có thể
không có trong thực tế (trò chơi trên cung trăng, ước mơ bay lên những vì
sao), song tính chân thực của trẻ trong trò chơi vẫn thể hiện rõ nhất.
Tính sáng tạo cũng thể hiện trong các hình thức nghệ thuật khác: vẽ,
nặn, ca hát, kể chuyện. Trẻ thỏa mãn nhu cầu của mình trong việc thể hiện có
hiệu quả, bằng hình tượng các ấn tượng của mình. Chính ở đây bắt đầu nảy
SVTH: Nguyễn Thị Thúy Hằng
18
Lớp: K36A - GDMN
Trường ĐHSP Hà Nội 2
Khóa luận tốt nghiệp
sinh ra chủ định sau đó tìm phương tiện thực hiện và trẻ biết phối hợp các ấn
tượng của mình thu được.
Lớp: K36A - GDMN