Nhân vật và đối tượng trữ tình trong ca dao Quảng Ninh (LV thạc sĩ) - Pdf 44

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN BÍCH NGỌC

NHÂN VẬT VÀ ĐỐI TƯỢNG TRỮ TÌNH
TRONG CA DAO QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN, 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN BÍCH NGỌC

NHÂN VẬT VÀ ĐỐI TƯỢNG TRỮ TÌNH
TRONG CA DAO QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã ngành: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HOÁ VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN HẰNG PHƯƠNG

THÁI NGUYÊN, 2017


ĐẾN ĐỀ TÀI ........................................................................................... 11
1.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đời sống văn hóa ở
Quảng Ninh .............................................................................................. 11
1.1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên ......................................................... 11
1.1.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội ................................................................ 12
1.1.3. Đời sống văn hóa............................................................................ 14
1.2. Một số vấn đề lí luận ......................................................................... 15
1.2.1. Nhân vật trữ tình ............................................................................ 15
1.2.2. Đối tượng trữ tình........................................................................... 18
1.3. Tổng quan về văn học dân gian Quảng Ninh .................................... 19
1.3.1. Khái quát về văn học dân gian Quảng Ninh .................................. 19
1.3.2. Diện mạo ca dao Quảng Ninh ........................................................ 25
Chương 2. NHÂN VẬT TRỮ TÌNH TRONG CA DAO QUẢNG
NINH ........................................................................................................ 33
2.1. Khảo sát nhân vật trữ tình ................................................................. 33
2.2. Diện mạo và tâm trạng của nhân vật trữ tình .................................... 34
2.2.1. Diện mạo nhân vật trữ tình............................................................. 34
ii


2.2.2. Tâm trạng nhân vật trữ tình ............................................................ 52
Chương 3. ĐỐI TƯỢNG TRỮ TÌNH TRONG CA DAO QUẢNG
NINH ....................................................................................................................................69
3.1. Khảo sát đối tượng trữ tình trong ca dao Quảng Ninh ...................... 69
3.2. Diện mạo và cung bậc cảm xúc của đối tượng trữ tình trong ca dao
Quảng Ninh .............................................................................................. 70
3.2.1. Diện mạo đối tượng trữ tình ........................................................... 70
3.2.2. Cung bậc cảm xúc của đối tượng trữ tình ...................................... 85
KẾT LUẬN ............................................................................................. 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 101

là tiếng nói của tình cảm, khúc tâm tình giàu nhạc điệu lại phản ánh sâu sắc đời sống
nội tâm của con người Quảng Ninh qua các thời kì. Đây chính là mảnh đất màu mỡ,
tạo nên nguồn thi liệu quý giá, phong phú để khám phá, tìm hiểu về cuộc sống sinh
hoạt, lao động, tâm tư tình cảm, khát vọng của con người lao động trên quê hương từ
xa xưa, nhất là những cư dân sống vùng ven biển và những người thợ mỏ. Trong khi
đó, chưa có một công trình nào nghiên cứu để làm rõ đời sống tinh thần, tâm trạng
của nhân vật và đối tượng trữ tình trong các bài ca dao.

1


Ngay trong nội dung chương trình dạy học Ngữ văn địa phương Quảng Ninh
lớp 6, 7 có những bài nội dung dạy về ca dao như: Ngữ văn địa phương lớp 6: có bài
đọc thêm về “Ca dao vùng mỏ”; Ngữ văn địa phương lớp 7 ở bài 18 - Tiết 74 theo
phân phối chương trình mới dừng lại ở việc hướng dẫn học sinh sưu tầm các bài ca
dao, dân ca, tục ngữ lưu hành ở địa phương; Bài 33 - tiết 134, 135 theo phân phối
chương trình giáo viên tổ chức, đánh giá, nhận xét các bài cảm nhận của cá nhân học
sinh về ca dao đã sưu tầm ở tiết 74 chứ chưa có bài dạy nào cụ thể định hướng cách
thức phân tích, đi sâu khai thác để giúp các em cảm nhận được tiếng nói của tâm hồn
nhân vật và đối tượng trữ tình gửi gắm qua các bài ca dao.
Từ những lí do trên, chúng tôi chọn: “Nhân vật và đối tượng trữ tình trong ca
dao Quảng Ninh”, đặc biệt ở mảng ca dao vùng mỏ, vùng biển làm đề tài cho luận
văn tốt nghiệp của mình. Mong rằng công trình nghiên cứu này sẽ góp một phần công
sức nhỏ bé vào việc khám phá, giữ gìn, bảo tồn cho nền văn học dân gian nói chung
và ca dao Quảng Ninh nói riêng; khơi dậy tình yêu đối với văn học dân gian của dân
tộc đồng thời tạo thêm một nguồn tư liệu về văn học dân gian để giúp giáo viên Ngữ
văn ở Quảng Ninh có thể thực hiện tốt các tiết dạy Ngữ văn địa phương một cách
thuận lợi hơn.
2. Lịch sử vấn đề
Ca dao nảy sinh và xuất hiện ở Quảng Ninh từ rất sớm, nhất là ca dao vùng

truyền là chủ yếu. Tuy nhiên, từ đó đến trước những năm 1968 việc thu thập, tìm
kiếm và biên soạn một cách thống nhất các bài ca dao của vùng mỏ và vùng biển còn
bị bỏ ngỏ và thực hiện chưa đồng bộ.
Từ đó đến năm 1969, ba nhà biên soạn Lý Biên Cương, Trần Nhuận Minh và
Sỹ Hồng đã kết hợp với Ty Văn hóa Quảng Ninh xuất bản tập “Ca dao vùng mỏ”
(chống Mỹ cứu nước) gồm 160 bài đã sưu tầm.
Đến năm 1980, Ty Văn hóa - Thông tin Quảng Ninh xuất bản cuốn “Ca dao
vùng mỏ (trước Cách mạng)” do nhà nghiên cứu Tống Khắc Hài chủ biên, tập hợp lại
các bài ca dao vùng mỏ được sáng tác, lưu truyền trước cách mạng tháng 8 năm 1945.
Cuốn sách này là tập tư liệu sinh động, chia làm ba phần. Phần đầu tiên, tác giả giới
thiệu vài nét về sự hình thành, giá trị và đóng góp của ca dao vùng mỏ, phần thứ hai là
một số các bài ca dao chọn lọc và phần thứ ba là các sáng tác vận động Cách mạng
cùng vè dân gian ở nơi đây. Cuốn sách bước đầu đã thể hiện được về giá trị nội dung
(lời tố cáo đanh thép, tình yêu thương và tiếng cười cay đắng, tiếng thét rực lửa cách

3


mạng của công nhân mỏ) và chỉ ra giá trị nghệ thuật của ca dao vùng mỏ là nghệ thuật
hiện thực, chủ nghĩa hiện thực trong hình thức thơ ca dân gian. Những luận điểm mà
nhà nghiên cứu Tống Khắc Hài nêu ra đã đề cập tương đối đầy đủ giá trị của ca dao
vùng mỏ trước Cách mạng. Và trong bài viết còn đưa ra luận điểm ca dao vùng mỏ
phản ánh tình yêu thiên nhiên. Tuy nhiên, theo chúng tôi, thiên nhiên ở đây là phương
tiện nghệ thuật để con người bày tỏ tình cảm với quê hương, đất nước và thể hiện tình
yêu lứa đôi chứ không phải đối tượng hướng tới.
Trong giai đoạn hợp tác và hội nhập với quốc tế như hiện nay thì yếu tố văn
hóa bản địa, văn học dân gian càng ngày được coi trọng hơn, là mảnh đất màu mỡ
thu hút các nhà nghiên cứu tìm tòi, sưu tầm một cách đầy đủ, hoàn chỉnh hơn. Năm
2007, nhà biên soạn Vũ Thị Gái kết hợp với Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Ninh đã
xuất bản cuốn “Ca dao - dân ca vùng biển Quảng Ninh”. Trong cuốn sách, PGS.TS

những sáng tác trước Cách mạng đã được đề cập đến một cách khái quát, đem đến
cái nhìn tổng quan cho người đọc.
Năm 2012, luận văn thạc sỹ của Lê Thị Nga với đề tài “Khảo sát ca dao - dân
ca người Việt lưu truyền ở Quảng Ninh” đã khảo sát diện mạo ca dao - dân ca người
Việt trên phương diện ngôn từ (nội dung, nghệ thuật biểu hiện) và trên phương diện
diễn xướng, nghiên cứu sự gắn bó mật thiết với chức năng thực hành - sinh hoạt của
một số hình thức dân ca tiêu biểu.
Bên cạnh đó, còn rất nhiều các bài báo viết về ca dao vùng mỏ và ca dao vùng biển
ở Quảng Ninh. Trên tạp chí Than - Khoáng sản vào ngày 11/11/2014, nhân kỉ niệm 78
năm ngày truyền thống Công nhân Vùng mỏ - truyền thống ngành than (12/11/1936 12/11/2014) đăng bài “Từ ca dao vùng mỏ nghĩ về thợ mỏ ngày xưa” nhằm ôn lại cuộc
sống của công nhân và giới thiệu về ca dao vùng mỏ trước Cách mạng.
“Ca dao vùng mỏ là “mỏ đá quý” mà hiện vẫn chưa được khai thác nhiều…” là
tiêu đề bài báo của tác giả Huỳnh Đăng đăng trên báo điện tử Báo Quảng Ninh ngày
13/12/2015. Bài báo là cuộc trò chuyện xung quanh công trình nghiên cứu của ông
Lê Văn Lạo - một lương y nhưng lại say mê khảo cứu văn hóa dân gian Quảng Ninh,
đặc biệt là về công nhân vùng mỏ qua ca dao nơi đây.
Tiếp theo, bài “Ca dao vùng mỏ trước Cách mạng: Giá trị văn hóa phi vật thể
quý báu của Quảng Ninh” của nhà văn Vũ Thảo Ngọc in trên báo điện tử Báo Quảng
Ninh ngày 20/12/2015 đã giới thiệu lịch sử sưu tầm các bài ca dao vùng mỏ từ những
tư liệu đầu tiên cho đến cuốn “Ca dao vùng mỏ” xuất bản năm 2010 là cuốn sách
hoàn thiện nhất. Đồng thời, tác giả còn khẳng định giá trị của ca dao vùng mỏ trước
Cách mạng đối với lịch sử và với văn hóa dân gian Quảng Ninh.

5


Cũng trên báo điện tử Quảng Ninh, trang “Văn hóa Đất và Người Quảng Ninh”
tác giả Hoàng Long có bài viết “Người đi gom những câu ca trên vịnh Hạ Long” ngày
12/ 2/ 2016. Bài báo ghi lại cuộc trò chuyện với nhà nghiên cứu Tống Khắc Hài khi
biết tin công trình nghiên cứu, sưu tầm “Ca dao - dân ca của dân chài trên Vịnh Hạ

Quảng Ninh, những kiến nghị nhằm bảo tồn, phát huy giá trị của chúng trong thực
tiễn hiện nay. Tuy nhiên vẫn không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình
nghiên cứu.
Tất cả các công trình nghiên cứu trên là những chỉ dẫn quý báu, định hướng
cho chúng tôi có cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn, sâu sắc hơn về kho tàng ca dao Quảng
Ninh. Tuy nhiên, những bài viết trên mới chỉ nghiên cứu một vài phương diện về nội
dung, nghệ thuật hay môi trường diễn xướng trên từng mảng ca dao riêng lẻ. Từ
những lí do đó, chúng tôi chọn đề tài: “Nhân vật và đối tượng trữ tình trong ca dao
Quảng Ninh” nhằm tiếp bước quá trình tìm hiểu về ca dao Quảng Ninh, đặc biệt là
ca dao vùng biển và vùng mỏ, đi sâu vào khám phá, phân tích tâm trạng của nhân vật
và đối tượng mà các bài ca dao hướng tới để hiểu thêm về cuộc sống vật chất và tinh
thần của người lao động xưa.
3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong luận văn này là ca dao Quảng Ninh. Trong đó,
chúng tôi tập trung vào nghiên cứu:
- Nhân vật trữ tình trong ca dao Quảng Ninh
- Đối tượng trữ tình trong ca dao Quảng Ninh
3.2. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nhằm mục đích nghiên cứu, tìm hiểu hai hình tượng nghệ thuật đặc
trưng của ca dao Quảng Ninh, khám phá những giá trị thẩm mĩ tinh túy trong tâm hồn,
tình cảm, những cung bậc cảm xúc, diễn biến tâm trạng… của người dân lao động.
Thông qua việc sưu tầm, tìm hiểu, nghiên cứu về các văn bản ca dao ở Quảng
Ninh, luận văn sẽ làm sống lại hiện thực khách quan về cuộc sống và tâm tư, tình cảm
của ông cha ta ngày trước gửi gắm trong các bài ca dao. Từ đó góp phần kết nối giữa
quá khứ và hiện tại, giúp cho con người thời nay không quên lịch sử, nguồn cội của
quê hương mình, có ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa nói chung
và văn học dân gian nói riêng thông qua các bài ca dao do nhân dân lao động xưa
sáng tác, làm phong phú hơn vốn hiểu biết và bồi dưỡng tâm hồn thông qua các bài
ca dao trữ tình mượt mà, đằm thắm.

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Dựa trên cơ sở đi thực tế thu thập tài
liệu và nghiên cứu các văn bản hiện có, chúng tôi phối hợp với một số phương pháp
sử học, địa lí học, dân tộc học... để nghiên cứu.
- Phương pháp thống kê: Phương pháp này giúp người nghiên cứu sau khi đọc,
sưu tầm tác phẩm sẽ thống kê, xác định số lượng, tần số xuất hiện của nhân vật và
đối tượng trữ tình trong các bài ca dao để có được sự phân loại hợp lí nhất.

8


- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Từ kết quả thống kê, phân loại ở trên, phương
pháp phân tích, tổng hợp sẽ giúp chúng tôi đưa ra những lời nhận xét, đánh giá, làm nổi
bật sự phong phú, đa dạng trong đời sống tâm hồn của các nhân vật thông qua diễn biến
tâm trạng của của nhân vật và đối tượng trữ tình trong các bài ca dao.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trong quá trình phân tích, tổng hợp chúng
tôi cố gắng so sánh, đối chiếu với các thể loại văn học dân gian khác ở Quảng Ninh
và ca dao ở các vùng miền khác nhằm làm rõ những nét tương đồng hay dị biệt trong
những trường hợp cần thiết.
5. Phạm vi nghiên cứu
5.1. Phạm vi tư liệu nghiên cứu
Tư liệu nghiên cứu chủ yếu ở các bài ca dao trong các cuốn sách:
1. Tống Khắc Hài (chủ biên) (2010), Ca dao vùng mỏ Quảng Ninh, Hội văn
nghệ dân gian Quảng Ninh, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam.
2. Vũ Thị Gái (2007), Ca dao - Dân ca vùng biển Quảng Ninh, Sở Văn hóa
thông tin Quảng Ninh.
3. Thu thập thêm những bài ca dao về vùng biển và vùng mỏ còn lưu truyền
trong dân gian mà các tác giả chưa đưa vào tác phẩm hiện có.
5.2. Phạm vi vấn đề nghiên cứu
Trong giới hạn của luận văn, chúng tôi tập trung đi sâu vào việc tìm hiểu, hệ
thống hóa nhân vật và đối tượng trữ tình trong ca dao Quảng Ninh. Phạm vi khảo cứu

Để hiểu được nguồn cội sản sinh ra ca dao Quảng Ninh, trước hết phải nắm
được một cách khái quát về vùng đất mỏ này cũng như hiểu được một số khái niệm
cơ bản có liên quan đến nội dung nghiên cứu trong luận văn.
1.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đời sống văn hóa ở Quảng
Ninh
1.1.1. Vài nét về điều kiện tự nhiên
Quảng Ninh là một tỉnh ven biển, nằm ở địa đầu phía Đông Bắc. Nơi đây phần
lớn là đồi núi nhưng do kinh tế đặc biệt phát triển và là một cực của tam giác kinh tế
nên Quảng Ninh được xếp vào nhóm các tỉnh đồng bằng sông Hồng, thuộc vùng văn
hóa châu thổ Bắc Bộ. Với toạ độ địa lý khoảng 106 độ 26' đến 108 độ 31' kinh độ Đông
và từ 20 độ 40' đến 21 độ 40' vĩ độ Bắc, tỉnh Quảng Ninh có dáng một con cá sấu nằm
chếch theo hướng Đông Bắc - Tây Nam. Phía Đông hướng ra phía Vịnh Bắc Bộ; phía
Tây Bắc giáp tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang; phía Tây Nam giáp tỉnh Hải Dương và thành
phố Hải Phòng; phía Bắc giáp huyện Phòng Thành và thị trấn Đông Hưng (tỉnh Quảng
Tây, Trung Quốc) với cửa khẩu Móng Cái và Trinh Tường.
Diện tích toàn tỉnh Quảng Ninh là 8.239,243 km2. Trong đó diện tích đất liền
là 5.938 km2 (chiếm 87%) còn vùng đảo, vịnh, biển (nội thuỷ) là 2.448,853 km2
(chiếm 13%). Riêng các đảo có tổng diện tích là 619,913 km2 với hơn 2000 hòn đảo
(chiếm 2/3 số đảo cả nước) đã liên kết lại thành tuyến dài 200km theo hướng vòng
cung, tạo thành bức tường vững chãi chống xâm lược. Trong sách “Đại Nam Nhất
Thống Chí” đã miêu tả vùng đất này “Lấy núi làm thành, chiếm chỗ cao, giữ chỗ
hiểm, núi che sau lưng, biển bọc quanh mình, thế đất hẻo lánh mà ổn định, trong
vững, ngoài kín. Quả thật là nơi hình thẳng của nước Nam”. [21]
Với vị trí địa lý đắc địa như trên cùng kiến tạo địa hình tự nhiên, có cả núi cao
(chiếm 80% diện tích đất đai) và sông suối (có khoảng 30 sông suối) đã chia Quảng
Ninh thành 3 vùng: vùng núi gồm những dãy núi có độ cao từ 900 - 1100m với hướng
chủ đạo là Đông Bắc - Tây Nam; vùng trung du và đồng bằng ven biển - nơi được bồi
đắp phù sau màu mỡ quanh năm từ các con sông; vùng biển và hải đảo. Ba tiểu vùng

11

khẩu quốc tế Móng Cái là nơi hội tụ giao lưu thương mại, du lịch, dịch vụ và thu
hút các nhà đầu tư, là cửa ngõ giao dịch xuất nhập khẩu với Trung Quốc và các
nước trong khu vực. Đường biển có hệ thống cảng biển, cảng nước sâu như cảng

12


Cái Lân - cửa khẩu quốc tế đường biển có năng lực bốc xếp cho tàu hàng vạn tấn...
tạo ra nhiều thuận lợi cho ngành vận tải đường biển giữa nước ta với các nước trên
thế giới.
Về các khu công nghiệp: có khu công nghiệp đóng tàu, khu công nghiệp Cái
Lân, Việt Hưng (Hạ Long), Hải Yên (Móng Cái); Khu công nghiệp cảng biển Hải Hà
(huyện Hải Hà); Khu công nghiệp phụ trợ ngành than; Khu kinh tế Vân Đồn, Khu
kinh tế Cửa khẩu Móng Cái... Đặc biệt, việc hình thành vùng công nghiệp khai thác
than từ rất sớm bởi 90% trữ lượng than của cả nước thuộc về tỉnh Quảng Ninh. Vùng
khai thác than, chế biến, tiêu thụ than có phạm vi rất lớn, trải dài từ Đông Triều, Uông
Bí, Hoành Bồ, Hạ Long và Cẩm Phả... Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào cho ngành
công nghiệp, sản xuất trong và ngoài nước, phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Với sự phát triển kinh tế ngày càng mạnh mẽ ở khắp các lĩnh vực: công nghiệp,
nông nghiệp, thủy hải sản… Quảng Ninh là tỉnh đầu tàu của phía Bắc và cũng là nơi
tạo nguồn cảm hứng sáng tác cho nhiều tác gia, cho ra đời những tác phẩm nổi tiếng
gắn với những loại hình văn học nghệ thuật mang nét đặc sắc rất riêng mà chỉ địa
phương này mới có. Tiêu biểu có thể kể đến ca dao vùng mỏ hay ca dao vùng biển,
hình thức hát giao duyên trên biển, hát đối, hát nhà tơ cửa đình…
Không những thế, là một trong những cái nôi xuất hiện loài người từ rất sớm
trên trái đất với nền văn hóa Soi Nhụ, Hạ Long; là nơi ghi lại dấu ấn các đời vua
Hùng; mảnh đất có bề dày lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước; hội tụ đầy đủ
các yếu tố tự nhiên: rừng, núi, nước non, biển đảo, sông hồ... Quảng Ninh là mảnh
đất lưu giữ lại rất nhiều di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh. Đến nay, toàn

Huy Cận (Nxb Văn học, 1995) lại dựa trên tiêu chí về địa lý, kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội mà chia Việt Nam thành chín vùng văn hóa, tiêu biểu là văn hóa Thăng
Long Đông Đô - Hà Nội; Vùng văn hóa đồng bằng miền Bắc Việt Nam; Vùng văn
hóa Việt Bắc...
Trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt Nam” do Trần Quốc Vượng chủ biên (NXB
Giáo dục, 1997) đã đưa ra cách hiểu của mình về vùng văn hóa “Điều kiện tự nhiên
và lịch sử, xã hội của mỗi vùng không giống nhau. Những nét khác nhau của các vùng
đất về các phương diện ấy sẽ tạo ra phát triển của văn hóa có những điểm khác
nhau”. Dựa vào đặc điểm tự nhiên và xã hội, về kinh tế, chính trị, văn hóa chia Việt
Nam thành sáu vùng văn hóa như: Vùng văn hóa Tây Bắc; Vùng văn hóa Việt Bắc;
Vùng văn hóa Bắc Bộ; Vùng văn hóa Trung Bộ; Vùng văn hóa Tây Nguyên; Vùng
văn hóa Nam Bộ.

14


Từ những quan điểm trên thì Quảng Ninh nằm trong vùng văn hóa Bắc Bộ vùng văn hóa được coi là cái nôi của quốc gia Đại Việt, có nền văn hóa dân gian lâu
đời và phong phú. Quảng Ninh là ngôi nhà chung của rất nhiều dân tộc anh em, trong
đó người Kinh chiếm phần lớn với hơn 1 triệu người, xếp thứ hai là dân tộc Dao, tiếp
đó là người Tày, Sán Dìu, Sán Chay, người gốc Hoa… Cũng vì là đất nhập cư nên
người nơi khác mang vốn văn hoá truyền thống của mình đến với Quảng Ninh rất
nhiều. Họ sống ở các đô thị, nông thôn, các khu công nghiệp và vùng đồng bằng ven
sông, ven biển với nghề khai mỏ, đánh bắt cá, làm rừng... Với mật độ và sự phân bố
dân cư như trên đã tạo nên sự đa dạng về sắc tộc, ngôn ngữ và văn hóa tín ngưỡng
bởi họ còn giữ được bản sắc dân tộc trong ngôn ngữ, y phục, lễ hội và phong tục.
Theo GS. TS. Nguyễn Xuân Kính, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hoá,
Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam thì Quảng Ninh là vùng đất hội tụ văn
hoá của cả nước nên rất phong phú về các giá trị Văn nghệ dân gian, và “hàng độc”
của văn hoá, Văn nghệ dân gian Quảng Ninh phải nói đến dân ca, ca dao sông nước
và ca dao Vùng mỏ. Có thể nói tỉnh Quảng Ninh là nơi giao thoa, thống nhất của

Nước nông cắm gỗ cọc cài lòng sông
... Khen giời mới vẽ làm sao
Vẽ nên non nước làm nao lòng người
Ca dao cũng không tường thuật những biến cố, sự kiện lịch sử, không kể lại
cuộc đời những nhân vật lịch sử dù đôi khi, có những câu ca nhắc đến nhân vật, sự
kiện lịch sử như những chiến thắng trên sông Bạch Đằng được tổng kết lại:
Yên Hưng truyền thống Bạch Đằng
Quân Nam Hán thua trận, Tống Nguyên đầu hàng
Hay là những kinh nghiệm:
Đánh giặc thì đánh giữa sông
Chớ đánh vào bãi phải chông thì chìm
Mục đích chính của những bài ca dao này không phải là miêu tả, chép lại "những
điều trông thấy", mà là để biểu hiện tình cảm của con người đối với hoặc gắn với cảnh
vật, phong tục, sự kiện, nhân vật ấy và mượn cảnh vật, phong tục, lịch sử mà biểu hiện
tình cảm của con người. Vì thế, ca dao ra đời để đáp ứng những nhu cầu, nội dung và
hình thức bộc lộ đời sống tâm tình của nhân dân qua nhiều thế hệ.
Đã có nhiều tác giả đưa ra khái niệm về nhân vật trữ tình như Phương Lựu
trong cuốn Lí luận văn học đã viết: “Thông thường nội dung tác phẩm trữ tình được
thể hiện gắn liền với hình tượng nhân vật trữ tình. Đó là hình tượng người trực tiếp
thổ lộ suy nghĩ, cảm xúc, tâm trạng trong tác phẩm. Nhân vật trữ tình không có diện
mạo, hành động, lời nói, quan hệ cụ thể như nhân vật tự sự và kịch. Nhưng nhân vật

16


trữ tình cụ thể trong giọng điệu, cảm xúc, trong cách cảm cách nghĩ. Qua những
trang thơ ta như gặp tâm hồn người, tấm lòng người. Đó chính là nhân vật trữ tình
(…) [12;359]
Trong Từ điển thuật ngữ văn học, các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi đã nêu cách hiểu về nhân vật trữ tình là “hình tượng nhà thơ trong

Việc xác định nhân vật trữ tình trong bài ca là ai, đang nói với ai, là rất quan
trọng bởi xác định như thế nào, hiểu nội dung, giá trị trữ tình của bài ca dao như thế
ấy. Nhiều trường hợp, xác định bài ca là lời của ai nói với ai không khó. Tín hiệu giúp
ta xác định hiện ra ngay trong lời ca, qua nội dụng trò chuyện, tâm sự, qua tiếng gọi,
lời nhắn. Lại có những trường hợp một bài ca gồm nhiều dị bản. Trong các dị bản,
nhân vật trữ tình không phải lúc nào cũng là một mà có thể là người khác. Chính vì
vậy phải căn cứ vào từng bài ca (từng dị bản) thì mới có thể xác định được nhân vật
trữ tình trong đó là ai và lời nói ấy là lời nói của ai nói với ai. Nhưng cũng có những
trường hợp rất khó xác định nhân vật trữ tình là ai, mặc dù chủ đề của bài ca thì có
thể hiểu được. Vì thế, trong luận văn này, chúng tôi cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu để
nắm bắt được nhân vật trữ tình là ai, có tâm trạng như thế nào trong ca dao vùng biển
và vùng mỏ Quảng Ninh.
1.2.2. Đối tượng trữ tình
Song hành với việc xác định nhân vật trữ tình trong bài ca là ai, thì việc xác
định nhân vật ấy đang nói với ai cũng rất quan trọng. Bởi lẽ đó chính là đối tượng để
tác giả dân gian (cũng tức là nhân vật trữ tình, như đã xác định ở phần trên) gửi gắm
tình cảm, là nguyên nhân trực tiếp khơi dậy tình cảm, tâm sự của tác giả.
Có trường hợp, nhân vật trữ tình và nhân vật trong bài ca là một. Ví như
câu ca dao:
Thân em như trái bần trôi,
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu
Nhưng nhân vật trong ca dao trữ tình không phải lúc nào cũng đồng nhất với
nhân vật trữ tình
Con cò lặn lội bờ ao
Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng?
Chú tôi hay tửu hay tăm,
Hay nước chè đặc hay nằm ngủ trưa.
Ngày thì ước những ngày mưa,
Đêm thì ước những đêm thừa trống canh


Phượng Hoàng” (Núi Hang Son - Uông Bí)… Tất cả các tác phẩm đều nhằm lí giải
và làm sáng rõ nguồn gốc, sự xuất hiện của các sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế
giới. Vì vậy, hầu hết mỗi ngọn núi, dòng sông đều có gốc nguồn từ thánh thần, từ ông
trời, nhân vật khổng lồ có sức mạnh vô địch...

19


Thể loại truyền thuyết cũng phát triển rất mạnh. Yếu tố lịch sử trong các câu
chuyện được sáng tạo theo tư duy thần thoại và các nhân vật lịch sử được kì ảo hóa,
thần linh hóa. Trong đó có các truyền thuyết về rồng hoặc các địa danh gắn với rồng
rất phong phú (Truyền thuyết về vịnh Hạ Long và Bái Tử Long, truyền thuyết về đảo
Cái Bầu, đảo Trà Cổ, giếng Mắt Rồng…). Tiêu biểu là truyền thuyết về vịnh Hạ Long
được dân gian sáng tạo với trí tưởng tượng phong phú cùng ý niệm về nguồn gốc
“Con Rồng, cháu Tiên” mà những truyền thuyết khá ly kỳ về nơi đây đã ra đời để giải
thích cho tên gọi đó. Một truyền thuyết được lưu truyền rộng rãi, phổ biến nhất đó là:
Ngày xưa, khi nước Việt ta mới được thành lập, nhân dân đang sống yên bình bỗng
bị giặc ngoại xâm đánh chiếm. Ngọc Hoàng động lòng thương tình nên cử Rồng Mẹ
cùng đàn Rồng Con của mình xuống hạ giới để giúp đỡ người Việt đánh giặc. Đàn
Rồng phun lửa thiêu cháy thuyền giặc và một phần nhả Châu Ngọc đã tạo thành một
vức tường đá vững chắc khiến thuyền giặc đâm vào vỡ tan tành và ngăn bước tiến
quân giặc. Sau khi đánh tan giặc, đàn Rồng thấy cảnh vật thanh bình, con người thì
hiền lành, chăm chỉ nên Rồng Mẹ đã quyết định cùng Rồng Con ở lại. Nơi Rồng Mẹ
đáp xuống chính là Vịnh Hạ Long còn nơi đàn Rồng Con hạ giới là vịnh Bái Tử Long.
Bên cạnh các sự tích về rồng còn có các truyền thuyết về tiên, bụt, Phật (Truyền
thuyết đèo Bụt giữa Hòn Gai và Cẩm Phả, sự tích hang Trinh Nữ...)… cũng rất phong
phú. Hang Trinh Nữ nằm trong quần thể vịnh Hạ Long, gắn với một câu chuyện tình
bi thương. Xưa có một người con gái vạn chài xinh đẹp, nhà nghèo, gia đình cô phải
đi làm thuê cho tên chủ cai quản vùng đánh cá. Thấy cô xinh đẹp, hắn ép cô làm vợ
bé, cô không chịu vì cô đã có người yêu, chàng trai đó đang ra khơi đánh cá để chuẩn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status