LỜI CẢM ƠN
-----Hoàn thành được công trình nghiên cứu này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn
đến Ban giám hiệu trường Đại học Cần Thơ, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng
dụng, Khoa Sau Đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu
để tôi hoàn thành được luận án này.
Xin ghi nhớ công ơn của Thầy Võ Văn Sơn và Cô Nguyễn Thị Kim
Khang, đã dành thời gian tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi
trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện luận án này.
Chân thành biết ơn quý Thầy Cô và cán bộ Bộ môn Chăn nuôi- Khoa
Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại học Cần Thơ đã giúp đỡ, tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập nghiên cứu.
Đặc biệt gửi lời cám ơn sâu sắc đến Cô Nguyễn Nhựt Xuân Dung, Cô
Nguyễn Thị Hồng Nhân và cô Nguyễn Thị Kim Đông đã tận tình truyền đạt kinh
nghiệm, kiến thức để tôi hoàn thành tốt luận án này.
Chân thành cảm ơn các em Minh Sương, Lợi, Đạt, Phương Đào đã giúp đỡ
tôi trong thời gian tôi làm nghiên cứu tại Cần Thơ.
Xin gửi lời cám ơn đến Ban giám hiệu Trường Cao Đẳng Nghề Trà Vinh,
đã tạo điều kiện tốt cho tôi trong thời gian học tập nghiên cứu.
Tạ ơn cha đã ủng hộ, động viên con trong suốt khóa học. Cảm ơn 2 mẹ và
anh chị em hai gia đình đã giúp đỡ em. Cảm ơn anh Tư Hồng, Cô Út và em Vũ đã
giúp đỡ em để có khởi đầu cho việc học tập. Cảm ơn chồng Lê Thành Thắng và
con gái Lê Ngọc Minh Khang đã luôn bên cạnh ủng hộ và động viên tôi để hoàn
thành luận án này.
Trân trọng cảm ơn Hội đồng đánh giá luận án đã đóng góp ý kiến để luận
án thật sự có giá trị khoa học.
Xin chân thành cảm ơn và trân trọng kính chào!
Văn Thị Ái Nguyên
i
Lương Phượng 5-12 tuần tuổi.
Thí nghiệm 3.3 được bố trí tương tự thí nghiệm 3.1 và 3.2; 3 nghiệm thức TAHH100, TAHH95
và TAHH90 tương ứng với 3 mức giảm TAHH là 0%, 5%, và 10%%; lá T.gigantea được cho ăn tự
do. Kết quả cho thấy việc thay thế 5% TAHH (TAHH95) bằng lá T.gigantea không ảnh hưởng đến
năng suất, các chỉ tiêu quầy thịt và thành phần hóa học thịt gà Lương Phượng 5-12 tuần tuổi.
Thí nghiệm 4, từ kết quả thí nghiệm 2 và thí nghiệm 3 chúng tôi chọn ra các mức sử dụng tối
ưu để triển khai nuôi thử nghiệm tại 03 nông hộ. 4 nghiệm thức được chọn là: BTG0, BTG5,
KPCS95 và TAHH95. 240 con gà được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên vào 3 nông hộ, mỗi hộ tương
ứng với 1 lần lặp lại. Kết quả nghiên cứu cho thấy gà Lương Phượng được nuôi bằng KPCS với
mức thay thế 5% bột lá T.gigantea (BTG5) không những không ảnh hưởng đến năng suất thịt mà
còn mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn so với 3 nghiệm thức còn lại.
Từ kết các quả nghiên cứu trên cho thấy cây T.gigantea được trồng trong điều kiện nắng và
bằng hom thân có thể sinh trưởng tốt trong điều kiện trồng tận thu trên diện tích đất nông nghiệp
sẳn có tại nông hộ. Lá T.gigantea ở dạng bột và tươi có thể được sử dụng để thay thế ở mức 5%
vào khẩu phần của gà Lương Phượng nuôi thịt không gây ảnh hưởng đến tỉ lệ dưỡng chất tích lũy,
năng suất sinh trưởng và tăng hiệu quả kinh tế .
Từ khóa: Trichanthera gigantea, gà Lương Phượng nuôi thịt, năng suất, tỷ lệ dưỡng chất tích
lũy, hiệu quả kinh tế.
ii
ABSTRACT
In order to determine “Research on using Trichanthera gigantea leaves in diet of Luong
Phuong broiler” experiments were carried out in Tra Vinh province and Research and
Experimental Farm, College of Agriculture and Applied Biology, Can Tho.
The first two-factorial experiment: sun or shade and green or brown stacks; every treatment
was repeated 3 times with total area 7000 m2. Results showed that fresh production in the first year
of T. gigantea tree in Tra Vinh town, was highest in treatment [sun x brown cutting] 52,52 ton/ha,
3 other treatments [sun x green cutting], [shade x brown cutting] and [shade x green cutting] were
lower 50,26; 14,25 and 14,48 ton/ha, respectively. The chemical composition of T.gigantea leaves
corresponded with a replication. The results of the the experiment 4th showed that Luong Phuong
chicken were raised with replacing at level of 5% T.gigantea leaf meal (BTG5) in basal diet did not
affect to the yield of meat and brought high economic benefit than 3 other treatments.
In conclusion, T.gigantea tree can grow well in available agricultural land in household
with the sun and brown cutting. T.gigantea leaves in (fresh or dried) should be used to replace at
level of 5% in diet of Luong Phuong broiler (both basal diet and mixed feed ) without affecting to
nutrient accumulation ratio, growth performance and increase the economic returns.
Keywords: Trichanthera gigantea, Luong Phuong broiler, production, nutrient accumulation
ratio, economic benefit.
iii
LỜI CAM KẾT KẾT QUẢ
Tôi xin cam kết luận án này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên
cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận
án cùng cấp nào khác
Ngày 8 tháng 8 năm 2017
Tác giả luận án
Văn Thị Ái Nguyên
iv
MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang phụ bìa
Trang xác nhận của người hướng dẫn khoa học
Lời cảm ơn
1.3.5 Chế biến bột lá cây T.gigantea
1.4 Các loại thực liệu thí nghiệm
1.4.1 Bắp
v
Trang
i
ii
iii
iv
v
ix
xi
xii
1
1
2
2
3
3
3
3
4
10
16
16
17
19
3.1.5 Các chỉ tiêu theo dõi
3.1.6 Xử lý số liệu
3.2 Thí nghiệm 2. Xác định tỷ lệ dưỡng chất và nitơ tích lũy
của gà Lương Phượng 5-12 tuần tuổi được nuôi với các mức
thay thế bột lá T.gigantea vào KPCS
3.2.1 Đối tượng thí nghiệm
3.2.2 Chuồng trại thí nghiệm
3.2.3 Bố trí thí nghiệm
3.2.4 Thức ăn thí nghiệm
3.2.5. Thu mẫu và phân tích hóa học
3.2.6 Các chỉ tiêu theo dõi
3.2.7 Xử lý số liệu
3.3 Thí nghiệm 3. Ảnh hưởng của các mức thay thế lá
T. gigantea (dạng bột hoặc tươi) vào khẩu phần (là KPCS hoặc
TAHH) lên năng suất sinh trưởng của gà Lương Phượng từ 512 tuần tuổi
3.3.1 Đối tượng thí nghiệm
3.3.2 Chuồng trại thí nghiệm
3.3.3 Bố trí thí nghiệm
3.3.4 Thức ăn thí nghiệm
3.3.5 Thu mẫu và phân tích hóa học
3.3.6 Các chỉ tiêu theo dõi
3.3.7 Xử lý số liệu
3.4 Thí nghiệm 4. Ảnh hưởng của các mức thay thế tối ưu lá
cây T. gigantea ở dạng tươi và dạng bột vào khẩu phần gà
Lương Phượng trong điều kiện chăn nuôi tại nông hộ
vi
29
30
31
46
46
46
46
47
47
Chương 4. KẾT QUẢ THẢO LUẬN
4.1 Thí nghiệm 1: Xác định ảnh hưởng của điều kiện nắng/râm
và loại hom lên năng suất và chất lượng của cây T.gigantea
4.1.1 Nhận xét về thành phần của đất tại nơi tiến hành thí
nghiệm
4.1.2 Ảnh hưởng của điều kiện nắng/râm và loại hom lên sinh
trưởng chiều cao năm đầu tiên của cây T.gigantea
4.1.3 Ảnh hưởng của điều kiện nắng/râm và loại hom lên năng
suất cây T.gigantea
4.1.4 Ảnh hưởng của điều kiện nắng/râm và loại hom lên
thành phần hóa học lá cây T.gigantea
4.2 Thí nghiệm 2. Xác định tỷ lệ dưỡng chất và nitơ tích lũy
của gà Lương Phượng 5-12 tuần tuổi được nuôi với các mức
thay thế bột lá T. gigantea vào KPCS
4.2.1 Lượng thức ăn ăn vào, tỷ lệ dưỡng chất và nitơ tích lũy
của gà Lương Phượng giai đoạn 5-8 tuần tuổi
4.2.2 Lượng thức ăn ăn vào, tỷ lệ tiêu hóa dưỡng chất và nitơ
tích lũy của gà Lương Phượng giai đoạn 9-12 tuần tuổi
4.3 Thí nghiệm 3. Ảnh hưởng của các mức thay thế lá
T. gigantea (dạng bột hoặc tươi) vào khẩu phần (là KPCS hoặc
TAHH thương phẩm) lên năng suất sinh trưởng của gà Lương
Phượng từ 5-12 tuần tuổi
4.3.1 Thí nghiệm 3.1: Ảnh hưởng của các mức thay thế bột lá
85
T. gigantea ở dạng tươi và dạng bột vào khẩu phần gà Lương
Phượng trong điều kiện chăn nuôi tại nông hộ
4.4.1 Lượng thức ăn ăn vào, tăng trọng và chuyển hóa thức ăn
của gà thí nghiệm
4.4.2 Một số chỉ tiêu quầy thịt
4.4.3 Hiệu quả kinh tế
Chương 5: KẾT LUẬN – ĐỀ NGHỊ
5.1 Kết luận
5.2 Đề nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Các công trình khoa học đã công bố
Phụ lục xử lý số liệu
Phụ lục hình ảnh thí nghiệm
\
viii
86
87
88
90
90
90
91
97
98
4.11
DANH MỤC BẢNG
Tên bảng
Trang
Nhu cầu dinh dưỡng cho gà Lương Phượng nuôi thịt
4
Các enzyme tiêu hóa chính trong cơ thể gia cầm
6
Tỷ lệ ME/CP khuyến cáo trong thức ăn các loại gia cầm
14
Mức chất xơ được khuyến cáo trong khẩu phần ăn của gia cầm
16
Thang đánh giá chất hữu cơ và N tổng số trong đất
21
Sơ đồ bố trí thí nghiệm 1
31
Qui trình chủng ngừa cho gà thí nghiệm
35
Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của thực liệu dùng phối hợp các
37
khẩu phần thí nghiệm
Các nghiệm thức thí nghiệm 2
37
Tỉ lệ thực liệu của các khẩu phần thí nghiệm giai đoạn 5-8 tuần tuổi
38
Tỉ lệ thực liệu của các khẩu phần thí nghiệm giai đoạn 9-12 tuần tuổi
38
Các nghiệm thức thí nghiệm 3.1
40
giai đoạn 9-12 tuần tuổi
Lượng thức ăn và dưỡng chất ăn vào của gà Lương Phượng trong thí
61
nghiệm giai đoạn 9-12 tuần tuổi
Tỷ lệ dưỡng chất và nitơ tích lũy của gà Lương Phượng trong thí nghiệm
62
giai đoạn 9-12 tuần tuổi
Lượng thức ăn ăn vào, tăng khối lượng và hệ số chuyển hóa thức ăn của
65
ix
gà thí nghiệm ở 2 giai đoạn 5-8 và 9-12 tuần tuổi
4.12
4.13
4.14
4.15
4.16
4.17
4.18
4.19
4.20
4.21
4.22
4.23
4.24
4.25
4.26
Thành phần hóa học thịt ức của gà Lương Phượng TN 3.3
Lượng thức ăn và dưỡng chất tiêu thụ, tăng khối lượng và hệ số chuyển
hóa thức ăn của gà ở thí nghiệm nuôi dưỡng tại nông hộ
Chỉ tiêu quầy thịt của gà Lương Phượng nuôi tại nông hộ
Hiệu quả kinh tế của các khẩu phần thí nghiệm
x
68
70
73
75
81
83
84
86
87
88
Hình
2.1
2.2
2.3
2.4
2.5
2.6
2.7
23
Khối cystoliths bên trong cây T.gigantea
24
Đường kính và chiều dài hom
29
Ươm cây T.gigantea trong bầu
30
Ươm cây T.gigantea trong bầu
30
Đo chiều cao cây
32
Cân mẫu thu được
33
Tiến hành phân chia lá- cọng
33
Gà Lương Phượng con
34
Chuồng và lồng nuôi thí nghiệm
35
Năng suất chất xanh, năng suất chất khô và năng suất CP năm đầu tiên
54
của cây T. gigantea
Lượng DM và NDF ăn vào và tỷ lệ NDF tích lũy của gà thí nghiệm
59
Tỷ lệ NDF tích lũy và Ntl/Nav của gà thí nghiệm ở 2 giai đoạn 5-8 và 963
12 tuần tuổi
Lượng DM và CP ăn vào từ KPCS và lá cây T. gigantea của gà thí
73
nghiệm ở 2 giai đoạn 5-8 và 9-12 tuần tuổi
Tăng khối lượng và hệ số chuyển hóa thức ăn của gà Lương Phượng 575
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Nghĩa tiếng Việt
Ash
Khoáng tổng số
BTG0
100% khẩu phần cơ sở+ 0% bột lá T.gigantea
BTG1
99% khẩu phần cơ sở + 1% bột lá T.gigantea
BTG3
97% khẩu phần cơ sở + 3% bột lá T.gigantea
BTG5
Năng lượng trao đổi
ME/CP
Năng lượng trao đổi/ Đạm thô
N
Nitơ
Ntl/Nav
Nitơ tích lũy/ Nitơ ăn vào
NS
Năng suất
OM
Chất hữu cơ
OMtl
Tỷ lệ vật chất hữu cơ tích lũy
NDF
Xơ trung tích (xơ còn lại sau khi thủy phân bằng dung dịch acid)
NDFtl
Tỷ lệ xơ trung tính tích lũy
P
Phốt pho
PER
Chỉ số hiệu dụng
SKT
Sau khi trồng
TA
Thức ăn
TAHH
Thức ăn hỗn hợp
KPCS100
100% khẩu phần cơ sở
KPCS95
đã được trồng và phát triển tốt ở 3 miền Bắc, Trung, Nam (Nguyen Ngoc Ha and
Phan Thi Phan, 1995; Nguyen Thi Hong Nhan et al., 1996; Nguyen Xuan Ba and
Le Duc Ngoan, 2003). Ở Đồng bằng sông Cửu Long cây T. gigantea được trồng
rãi rác cùng với các mùa vụ cây ăn quả, lượng sinh khối từ lá cây thu về cũng đã
góp phần giảm chi phí thức ăn chăn nuôi tại nông hộ, tuy nhiên năng suất lá cây
phần lớn không đồng đều do điều kiện trồng tận thu chủ yếu bị tác động bởi diện
tích đất trồng mà chưa xem trọng nhân tố ánh sáng. Một số kết quả nghiên cứu sử
dụng lá cây T. gigantea ở dạng bột và tươi trong khẩu phần vật nuôi như cút, vịt
xiêm, gà đẻ... (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 1998) đã được thực hiện và cho thấy đã
góp phần giảm chi phí thức ăn chăn nuôi mà không gây ảnh hưởng đến năng suất.
Tuy nhiên, việc sử dụng thực liệu thay thế nói chung và lá cây T. gigantea nói
riêng chỉ đạt được hiệu quả tốt tác động tích cực đến năng suất chăn nuôi của loài,
giống khi ở một tỷ lệ sử dụng thích hợp.
Gà Lương Phượng là một trong những giống gà lông màu ngoại nhập có
năng suất cao, khả năng thích nghi tốt với khí hậu và điều kiện chăn nuôi tại Việt
1
Nam. Một số nghiên cứu cho thấy gà Lương Phượng có khả năng tận dụng tốt
thức ăn xanh sẵn có tại nông hộ như bèo tấm, rau muống, lá khoai lang (Nguyen
Thi Thuy and Ogle, 2004). Thế nên, giống giống gà này hứa hẹn có khả năng là
đại diện cho nhóm gà lông màu sử dụng hiệu quả lá cây T. gigantea trồng tại
nông hộ góp phần giảm chi phí thức ăn chăn nuôi.
Từ đó đề tài “Nghiên cứu sử dụng lá cây Trichanthera gigantea trong khẩu
phần gà Lương Phượng nuôi thịt” được thực hiện nhằm xác định khả năng sử
dụng cây thức ăn gia súc có hàm lượng đạm cao này trong khẩu phần gà Lương
Phượng nuôi theo hướng thịt.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nhằm tìm ra mức thay thế lá cây T. gigantea ở dạng bột và tươi trong khẩu
phần gà Lương Phượng nuôi thịt với 2 loại khẩu phần là khẩu phần cơ sở tự phối
thuật của Ủy ban khoa học Thành phố Nam Ninh trên cơ sở đánh giá tính ổn định
đặc điểm di truyền các tính trạng và tính năng sản xuất. Năm 1998 giống gà
Lương Phượng đã được nhập vào nước ta 1.900 con và nuôi ở trại thực nghiệm
Liên Ninh nhằm đa dạng hóa các giống gà lông màu, cùng với việc chọn lọc các
giống gà trong nước là việc tìm nhập các giống gà có năng suất cao, chất lượng
tốt thích nghi với các vùng sinh thái khác nhau. (Đào Đức Long, 2002). Sau một
thời gian nuôi, giống gà này đã thể hiện rõ tính ưu việt về khả năng thích nghi,
năng suất sinh trưởng, chất lượng và màu sắc của thịt trứng phù hợp thị hiếu của
người tiêu dùng.
1.1.2 Đặc điểm ngoại hình- năng suất
Gà Lương Phượng (Hình 2.1) có lông màu vàng tuyền, vàng đốm hoa hoặc
đen đốm hoa; mào, yếm và tích màu đỏ, da chân và mỏ có màu vàng. Gà trống có
mào đơn, ngực nở, lưng thẳng, lông đuôi vươn cong, chân cao vừa phải và khối
lượng trưởng thành khoảng 2,7 kg. Gà mái có đầu nhỏ, thân hình chắc chắn, chân
thấp và khối lượng trưởng thành khoảng 2,1 kg. Gà mái bắt đầu đẻ trứng lúc 24
tuần, đến 66 tuần tuổi đạt 170 quả/mái. Gà thịt nuôi đến 65 ngày tuổi đạt 1,5-1,6
kg, tiêu tốn thức ăn 2,4-2,6 kg thức ăn/ kg tăng trọng (Cục Chăn nuôi, 2009).
Hình 2.1: Gà Lương Phượng
3
Theo kết quả báo cáo của Viện chăn nuôi (2002) khi nghiên cứu đặc điểm
sinh học và tính năng sản xuất của giống gà Lương Phượng cho biết giống gà này
có yêu cầu về thức ăn và quản lý nuôi dưỡng gần giống với giống gà địa phương
như gà Tàu, gà Nòi,…. Bên cạnh đó trong quá trình chọn lọc các nhà chọn giống
đã chú trọng đến yếu tố tăng sức đề kháng chống đỡ bệnh tật, vì vậy theo thời
gian gà Lương Phượng đã thích nghi với điều kiện chăn nuôi và khí hậu nóng ẩm
ở Việt Nam. Do vậy giống gà này đã và đang được phát triển rộng rãi trong chăn
nuôi hộ gia đình tại nhiều vùng trong cả nước. Để đạt được năng suất cao cho gà
0,39
0,38
1,05
0,97
1,19
1,18
0,76
0,78
0,33
0,31
(Nguồn: Viện chăn nuôi, 2002)
Năm 2003 trên cơ sở con giống ngoại Trần Cộng Xuân và ctv đã kết hợp tận
dụng các gà mái lẫn trong dòng trống và gà trống lẫn trong dòng mái rồi cho tự
giao và chọn lọc theo định hướng về khả năng sinh trưởng đối với dòng trống và
năng suất trứng đối với dòng mái qua các thế hệ để chọn tạo ra 3 dòng gà LV1,
LV2, LV3 nhằm từng bước chủ động được giống gà chăn thả có nguồn gốc từ gà
Lương Phượng cho năng suất, chất lượng cao cung cấp cho sản xuất, hạn chế bỏ
ra ngoại tệ để nhập khẩu. Kết quả nghiên cứu cho thấy các dòng gà được tạo ra ổn
định về ngoại hình, kích thước các chiều đo cơ thể ổn định qua các thế hệ, tỷ lệ
nuôi sống đạt trên 90%.
1.1.3 Đặc điểm tiêu hóa gia cầm
Gia cầm có cấu tạo bộ máy tiêu hóa thích hợp với loại hình tiêu hóa thức ăn
hạt, mặc dù có cấu tạo khác biệt khá rõ nét so với nhiều động vật có vú nhưng
nhiệm vụ nhìn chung tương tự, đó là nơi thực hiện quá trình phân giải thức ăn từ
miệng đến ruột già nhằm biến đổi những hợp chất hữu cơ phức tạp của thức ăn
thành những chất đơn giản nhất để có thể hấp thu được. Các hoạt động tiêu hóa
bao gồm: hoạt động cơ học, phân tiết ezyme tiêu hóa, phân giải chất hữu cơ và
4
Bảng 2.2: Các enzyme tiêu hóa chính trong cơ thể gia cầm
Enzyme
Tuyến nước bọt
Amylase
Nguồn
Cơ chất
Sản phẩm
Tuyến nước bọt
Tinh bột và glycogen
Maltose (disaccharide), maltotriose
(trisaccharide) và α- dextrins
Proteins
Các peptides
Proteins, chyotrypsinogen,
procarboxypeptidase
Protein
Protein
Các acid amin bắt đầu bằng nối carboxy
và kết thúc bằng nối peptide
Các triglyceride
Ribonucleic acid
Carboxypeptidase
-nt-nt-nt-
Lipase tuyến tụy
-ntRibonuclease
-ntDeoxyribonuclease
-ntCác enzye ở vi nhung (Brush border enzyme- dịch ruột)
α-dextrinese
Màng bào tương của microvilli
Maltase
-ntSucrase
-ntEnterokinase
-ntAminopeptidase
-ntDipeptidase
-ntNucleosidase
-ntPhosphates
-nt-
Nucleotide
Nguồn: Aker and Denbow ( 2008)
6
Các peptides
Các peptides
Peptides, chymotrypsin,
carboxypeptidase
7
b) Dạ dày cơ
Dạ dày cơ nằm ở phần còn lại cùng với dạ dày tuyến cấu thành dạ dày
hoàn chỉnh ở gia cầm là một khối cơ dày giúp tiếp tục nghiền thức ăn thành
những phần nhỏ hơn. Mặt trong của dạ dày là một màng cứng, lớp mô sừng
(đôi khi còn gọi là lớp koilin), màng này đặc biệt chắc khỏe đối với gia cầm
được cho ăn thức ăn cứng. Lớp màng này không phải là lớp sừng mà là một
phức hợp polysaccharide-protein. Vận động co bóp nhịp nhàng của cơ dạ dày
diễn ra 2-3 lần/phút, thức ăn được nhào trộn giữa 2 mảng cơ lớn. Hoạt động
nghiền của dạ dày cơ được hỗ trợ nhờ hoạt động của hạt sỏi góp phần tăng
diện tích bề mặt tiếp xúc của thức ăn trong quá trình tiêu hóa hóa học. Đến đây
thức ăn đã chuyển thành dạng bán lỏng (semi-fluid form), dưỡng trấp (chyme)
và đi đến ruột non.
1.1.3.3 Tiêu hóa ở ruột non
Chlohyric acid (HCl) từ dạ dày đi xuống ruột non, môi trường pH thấp
giúp phân tiết hormone secretin vào máu. Secretin kích thích tuyến tụy tiết
bicarbonate đi vào ruột non để kéo pH lên mức trung tính. Ruột non là nơi quá
trình tiêu hóa gần như hoàn chỉnh và quá trình hấp thu bắt đầu diễn ra, dưỡng
trấp được hòa trộn với dịch ruột và nơi đầu tiên là tá tràng. Tá tràng bao lấy
tuyến tụy giống như loài hữu nhũ, và các enzyme phân tiết cũng tương tự như
ở loài hữu nhũ và quá trình tiêu hóa protein, béo, carbohydrat ở ruột non cũng
tương tự như heo. Tuy nhiên ở gia cầm người ta không tìm thấy sự hiện diện
của lactase. Ruột non của gà con có enzyme maltase và sucrase thế nên gà con
có thể tiêu hóa được thức ăn hạt không chín (McDonal et al., 2012). Các tuyến
ở tá tràng tiết ra chất tiết mang tính kiềm trơn giúp bảo vệ vách tá tràng khỏi
những tổn hại do HCl gây ra ở dạ dày cơ. Tuyến tụy có nhiều enzyme
(amylase, trypsine, chymotrypsine và lipase...) tác động lên các carbohydrat,
protein và béo. Mật chứa muối mật góp phần tạo ra pH kiềm và nhũ tương hóa
+ H2O
maltase
2 D-glucose
Lactose
+ H2O
lactase
Sucrose
+ H2O
Trehalose
+ H2O
D-glucose +
galactose
sucrase
D-fructose +
D-glucose
Enzyme polynucleotidase deoxyribonuclease (DNase) thủy phân nucleic
acid DNA và ribonuclease (RNase) thủy phân RNA. Các enzyme này xúc tác
phân cắt nối ester giữa đường và acid phosporic trong acid nucleic. Sản phẩm
cuối cùng là các thành phần nucleotides. Enzyme nucleosidase tấn công liên
kết giữa đường và bazơ nitơ, giải phóng purine và pyrimidine tự do.
Phosphates thủy phân hoàn toàn orthophosphoric thành ribose và deoxyribose
(McDonald et al., 2012).
Những mảnh thức ăn cứng chưa được nghiền kỹ được đưa ngược trở lại
dạ dày cơ nhờ vào nhu động của ruột non để dạ dày cơ nghiền tiếp, vì vậy
niêm mạc của dạ dày cơ có màu vàng của mật. Thời gian tiêu hóa ở ruột non
từ 6-8 giờ. Chất bột đường tiêu hóa và hấp thu nhanh ở đoạn trên của ruột non
(tá tràng), protein phân giải thành acid amin chậm hơn nên được hấp thu nhiều
nhất ở đoạn kế tiếp của ruột non là hồi tràng (Dương Thanh Liêm, 2008).
1.1.3.4 Tiêu hóa ở ruột già
Cơ trơn ở vách ruột non thực hiện các hoạt động co, giãn, nhào trộn và
đẩy dưỡng trấp về phía ruột già. Quá trình tiêu hóa và hấp thu còn được diễn
ra liên tiếp đến cuối hồi tràng. Các khoáng chất được giải phóng trong quá
trình tiêu hóa được hòa tan và hấp thu cùng dưỡng trấp. Quá trình tiêu hóa và
hấp thu các vitamin cũng khác biệt tùy theo đặc tính hòa tan của chúng.
Vitamin tan trong chất béo được hấp thu chủ yếu ở ruột non nhờ vào các cơ
chế tương tự như tiêu hóa và hấp thu chất béo (A, β-carotene, D, E và K). Đa
phần các vitamin tan trong nước cần có các enzyme chuyên biệt cần cho sự
chuyển hóa để chuyển từ dạng tự nhiên trong thức ăn thành dạng cơ thể có thể
hấp thu được.
Manh tràng gia cầm có cấu tạo hai nhánh cùng phát triển, chỗ tiếp giáp
giữa ruột non với ruột già có van hồi manh tràng để đảm bảo thức ăn đi theo
một chiều. Hoạt động nhu động trộn lẫn vi khuẩn trên bề mặt manh tràng và
dòng dưỡng trấp tham gia vào quá trình lên men tạo ra sản phẩm là acid béo
bay hơi. Chất xơ được tiêu hóa tạo ra các acid béo bay hơi và hấp thu lại ở
Theo Dương Thanh Liêm (2006), khởi xướng tính toán năng lượng trao
đổi cho gia cầm đầu tiên là Fraps ở trường Đại học Texas (Mỹ). Sau đó Hill
trường Đại học Cornel (Mỹ) tiếp tục hoàn thiện thêm đến nay. Khi xác định
năng lượng trao đổi của protein nhận thấy, giá trị thu được khi đốt trong nhiệt
lượng kế bom luôn cao hơn đốt trong cơ thể vì sản phẩm thải ra là acid uric có
chứa 34,4 kJ/g N của acid uric.
Việc xác định năng lượng thô của thức ăn không khó lắm vì có thể đo
nhanh bằng “nhiệt lượng kế bom”, song nó không quan hệ chặt chẽ đến sức
sản xuất của gia cầm, vì còn tùy thuộc vào sự hấp thu của cơ thể. Tuy nhiên
việc xác định năng lượng tiêu hóa ở gia cầm rất khó khăn do nước tiểu đổ ra
trộn lẫn vào trong phân. Vì vậy, để đo lường năng lượng thức ăn của gia cầm
người ta thường sử dụng đơn vị năng lượng trao đổi để đo.
- Năng lượng trao đổi biểu kiến (AME: Apparent metabolizable energy):
năng lượng thô trừ đi năng lượng chứa trong phân, nước tiểu, khí sinh ra trong
quá trình tiêu hóa. Ở gia cầm, khí sinh ra không đáng kể, thế nên ME thường
được xác định bằng cách lấy năng lượng thô của thức ăn trừ đi năng lượng thô
của chất bài thải. Sự hiệu chỉnh nitơ được giữ lại trong cơ thể thường được áp
dụng trong việc tính giá trị năng lượng trao đổi hiệu chỉnh nitơ (Men: nitrogen11
corrected ME value). Vì vậy, công thức tính Men đã hiệu chỉnh lại, với 1 g N
tích lũy có giá trị năng lượng là 8,22 kcal như sau:
Men=ME-N tích lũy trong cơ thể (g) x8,22 (kcal)
Năng lượng trao đổi cho gia cầm được tính theo Nerhring như sau:
ME (kcal/kg)=4,26CPtiêu hóa+9,5EEtiêu hóa+4,23CFtiêu hóaS+4,23NFEtiêu hóa
Trong đó NFE là dẫn xuất không đạm, tất cả được tính bằng g/kg thức
ăn.
Theo đề nghị của Hartel và ctv (1977) (trích dẫn theo Dương Thanh
Liêm và ctv, 2006) giá trị ME được tính như sau:
Nhu cầu về acid amin của gia cầm cũng bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố,
bao gồm: mức sản xuất, kiểu gen, giới tính, tình trạng sinh lý, môi trường và
tình trạng sức khỏe. Tuy nhiên, hầu như những thay đổi về nhu cầu acid amin
không dẫn đến những thay đổi có liên quan đến sự cân đối acid amin khác.
Thế nên, sự cân đối lý tưởng trong khẩu phần của gia cầm và những thay đổi
về nhu cầu acid amin thường cho thấy có sự tương quan với protein cân đối
hoặc protein lý tưởng (Ravindran, 2011). Theo NRC (1994) nhu cầu CP của
gà thịt ở các giai đoạn 0-3, 3-6 và 6-8 tuần tuổi lần lần lượt là 23%, 20% và
18% tương ứng với ME cho cả 3 giai đoạn là 3200 Kcal/kg thức ăn.
b) Các phương pháp đánh giá chất lượng protein
Xác định hàm lượng protein thô (CP) và protein tiêu hóa
Protein thô được xác định bằng định lượng N tổng số trong thức ăn bằng
phương pháp Kjeldahl rồi nhân với hệ số 6,25 (16:100= 6,25).
%CP = 6,25 x %N
Tỷ lệ tiêu hóa protein được tính theo công thức sau:
Tỷ lệ tiêu hóa protein (%)=
Protein thu nhận (g)- Protein thải ra (g)
Protein thu nhận (g)
x 100
Hiệu quả sử dụng protein là tỷ lệ giữa số gam tăng khối lượng và số gam
protein tiêu thụ
PER =
Tăng khối lượng (g)
Protein ăn vào (g)