Nghiên cứu thành phần loài cua ghẹ sống tầng đáy ở khánh hòa và phú yên dựa trên đặc điểm hình thái và di truyền - Pdf 44

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC VÀ MÔI TRƯỜNG
BỘ MÔN SINH HỌC
-----------o0o-----------

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI CUA GHẸ SỐNG
TẦNG ĐÁY Ở KHÁNH HÒA VÀ PHÚ YÊN DỰA TRÊN
ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI VÀ DI TRUYỀN

GVHD : TS. Đặng Thúy Bình
SVTH : Nguyễn Trúc Sơn
MSSV : 55131540

Khánh Hòa: 06/2017


i

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành đồ án tốt nghiệp tại Trường Đại Học
Nha Trang, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của các thầy cô, gia đình và
bạn bè. Nhân đây tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới TS. Đặng Thúy Bình, người đã
định hướng cũng như tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề
tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến thấy cô giáo thuộc Viện Công Nghệ Sinh Học và
Môi Trường – Trường Đại Học Nha Trang, những người đã truyền đạt kiến thức và kinh
nghiệm quý báu trong suốt quá trình học tập của những năm vừa qua.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè và các anh chị

bootstrap (BT) 1000 lần. Cây phát sinh loài cho thấy sự phân tách di truyền của 7 họ cua
ghẹ được phân thành 2 nhóm chính: nhóm I (Xanthidae, Carpiliidae, Gecarcinucidae,
Portunuidae) và nhóm II (Calappidae, Macrophthalmidae và Grapsidae). Trong đó,
nhóm I phân thành 2 nhóm phụ gồm nhóm I.1 (Xanthidae, Carpiliidae, Gecarcinucidae)
và nhóm I.2 (Portunuidae). Nhóm II chia thành 2 nhóm gồm nhóm II.1 (Calappidae)
và nhóm II.2 (Macrophthalmidae và Grapsidae).


iii

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................................i
TÓM TẮT ..................................................................................................................... ii
DANH MỤC HÌNH .......................................................................................................v
DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT ......................................................................... viii
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN .........................................................................................3
1.1. Tổng quan về vùng nghiên cứu .............................................................................3
1.1.1. Vị trí địa lý, khí hậu và tài nguyên thiên nhiên của Khánh Hòa ....................3
1.1.2. Vị trí địa lý, khí hậu và tài nguyên thiên nhiên của Phú Yên .........................5
1.2. Tình hình nghiên cứu đa dạng các loài cua ghẹ ở trong nước và thế giới ............6
1.3. Ứng dụng kĩ thuật di truyền trong nghiên cứu đa dạng sinh học cua ghẹ ..........10
1.3.1. DNA ty thể và nghiên cứu di truyền .............................................................10
1.3.2. Ứng dụng kĩ thuật di truyền mã vạch (DNA barcoding) trong nghiên cứu đa
dạng sinh học cua ghẹ .............................................................................................12
1.3.3. Nghiên cứu mối quan hệ tiến hóa và phát sinh loài ở cua ghẹ .....................14
CHƯƠNG 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................16
2.1. Đối tượng, địa điểm và phương pháp thu mẫu ...................................................16
2.2. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................................16
2.3. Phân loại dựa vào hình thái .................................................................................17

hiện tại ...........................................................................................................................10
Hình 2.1. Các chỉ số đo trong phân loại cua ghẹ ...........................................................17
Hình 2.2. Các chỉ tiêu đếm trong phân loại cua ghẹ .....................................................18
Hình 2.3. Chu trình nhiệt phản ứng PCR của cặp mồi LCO 1490/HCO 2198 .............20
Hình 2.4. Chu trình nhiệt phản ứng PCR của cặp mồi CF20/CR19..............................20
Hình 3.1. Bản đồ phân bố các loài cua ghẹ trong nghiên cứu hiện tại ..........................26
Hình 3.2. Đặc điểm hình thái loài Charybdis natator ...................................................28
Hình 3.3. Đặc điểm hình thái loài Charybdis acutifrons...............................................29
Hình 3.4. Đặc điểm hình thái loài Charybdis anisodon ................................................30
Hình 3.5. Đặc điểm hình thái loài Charybdis vadorum.................................................31
Hình 3.6 Đặc điểm hình thái loài Portunus gladiator ...................................................32
Hình 3.7. Đặc điểm hình thái loài Podophthalmus vigil ...............................................33
Hình 3.8. Đặc điểm hình thái loài Thalamita crenata ...................................................34
Hình 3.9. Đặc điểm hình thái loài Atergatis floridus ....................................................36
Hình 3.10. Đặc điểm hình thái loài Atergatis integerrimus ..........................................37
Hình 3.11. Đặc điểm hình thái loài Liagore rubromaculata .........................................38
Hình 3.12. Đặc điểm hình thái loài Calappa pustulosa ................................................39
Hình 3.13. Đặc điểm hình thái loài Calappa lophos .....................................................40
Hình 3.14. Đặc điểm hình thái loài Eucrate alcocki .....................................................41
Hình 3.15. Đặc điểm hình thái loài Eucrate crenata.....................................................42
Hình 3.16. Đặc điểm hình thái loài Carcinoplax longimanus .......................................43
Hình 3.17. Đặc điểm hình thái loài Carcinoplax purpurea...........................................44


vi

Hình 3.18. Kết quả điện di DNA tổng số của một số loài cua ghẹ ...............................49
Hình 3.19. Kết quả điện di sản phẩm PCR đoạn gen CO1 mtDNA của một số loài cua
ghẹ .................................................................................................................................49
Hình 3.20. Cây phát sinh loài từ phương pháp Neighbor – Joining với độ lặp lại 1000


CBOL

Consortium for the Barcode of Life

CO1

Cytochrome c oxidase subunit 1

cvt

Cộng tác viên

BT

Bootstrap

µL

Microliter

DNA

Deoxyribonucleic acid

TĐTL

Thước đo tỷ lệ

mtDNA


PCR

Polymerase Chain Reaction

H3

Histone 3

GAPDH

Glyceraldehyde-3-phosphate dehydrogenase

PEPCK

Phosphoenolpyruvate carboxykinase

rbcL

Ribulose bisphosphate carboxylase large chain

matK

MaturaseK


1

MỞ ĐẦU
Đa dạng sinh học đang tồn tại hiện nay trên thế giới là kết quả của một quá trình



2

khảo sát và đánh giá về mặt hình thái, chưa đi sâu vào các nghiên cứu phân loại dựa trên
lĩnh vực sinh học phân tử.
Trong bối cảnh của nền kinh tế phát triển nhanh và hậu quả tác động đến động vật,
thực vật của các quốc gia là khác nhau, sự xác định loài sử dụng phương pháp nhanh là
cần thiết để đánh giá đa dạng sinh học của các khu vực này nhằm bảo vệ các loài đặc
hữu quý hiếm và nguy cấp. Hiện nay, phương pháp sử dụng mã vạch DNA là một trong
những công cụ phục vụ định danh loài chính xác, nhanh chóng, tự động hóa bằng cách
sử dụng một vùng DNA chuẩn hay còn gọi là DNA – barcoding (Hebert và ctv, 2003;
Rougerie và ctv, 2009).
Xuất phát từ những vấn đề trên, đề tài “Nghiên cứu thành phần loài cua ghẹ sống
tầng đáy ở Khánh Hòa và Phú Yên dựa trên đặc điểm hình thái và di truyền” được
thực hiện nhằm bước đầu xây dựng mối quan hệ loài, cung cấp dẫn liệu về hình thái,
phân bố và di truyền của một số loài cua ghẹ ở hai khu vực này, làm cơ sở cho các
nghiên cứu đánh giá đa dạng sinh học bằng việc xây dựng mã vạch DNA.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Kết quả của đề tài sẽ cung cấp những thông tin khoa học liên quan đến mối quan hệ
phát sinh loài và đa dạng di truyền của các loài cua ghẹ ở Khánh Hòa và Phú Yên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Các loài cua ghẹ sống đáy thu được ở tỉnh Phú Yên và khu vực tỉnh Khánh Hòa dựa
trên phương pháp thu mẫu ngẫu nhiên. Sau đó, mẫu được phân loại bằng hình thái ngay
khi còn tươi, các nghiên cứu di truyền được thực hiện tại phòng thí nghiệm trường Đại
học Nha Trang.
Mục tiêu của đề tài:
Phân loại các loài cua ghẹ thu được tại khu vực Khánh Hòa và Phú Yên dựa trên
đặc điểm hình thái và di truyền. Xây dựng cây phát sinh loài của một số loài cua ghẹ
sống tầng đáy ở Khánh Hòa và Phú Yên.

và ít chịu ảnh hưởng của bão (Giang Nam và Nguyễn Văn Khánh, 2003).


4

Hình 1.1. Bản đồ tỉnh Khánh Hòa (Nguồn: http://www.chinhphu.vn – Cập nhật
ngày 10/05/2017)
 Tài nguyên thiên nhiên
So với các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, tỉnh Khánh Hòa được thiên nhiên ưu đãi
với khí hậu thuận lợi, địa hình và chất đáy bờ biển khá đa dạng với nhiều đầm, vịnh và
các đảo tạo những điều kiện thuận lợi cho sự hình thành các hệ sinh thái như hệ sinh
thái rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, cửa sông, đầm vịnh.
Khánh Hòa được xếp vào các vùng ven biển có độ đa dạng sinh học cao nhất ở Việt
Nam bao gồm vịnh Nha Trang với 12 hòn đảo lớn nhỏ và mặt nước xung quanh, vịnh
Vân Phong, vịnh Cam Ranh và nhiều đảo lớn nhỏ khác. Theo điều tra ban đầu, ở khu
vực vịnh Nha Trang có 350 loài san hô, 222 loài cá rạn, 69 loài động vật giáp xác, 106
loài động vật thân mềm, 252 loài rong biển, 7 loài cỏ biển và 27 loài da gai (Võ Sĩ Tuấn
và ctv, 2005). Còn ở khu vực vịnh Vân Phong đã ghi nhận được 294 loài san hô tạo rạn,
267 loài cá, 68 loài giáp xác, 169 loài thân mềm, 37 loài da gai và 162 loài giun nhiều
tơ, trong đó cá và nhiều loài giáp xác có giá trị và nguồn lợi thủy sản cao (Nguyễn Văn
Long và ctv, 2014).
Trong những năm gần đây sức ép của sự tăng nhanh dân số, phát triển kinh tế xã
hội, quá trình khai thác như đánh bắt quá mức, đánh bắt bằng thuốc nổ và sử dụng tài
nguyên môi trường chưa hợp lý ở Khánh Hòa đã đe dọa thật sự đến các tài nguyên và
môi trường biển (Võ Sĩ Tuấn và ctv, 2005). Các hệ sinh thái vùng ven bờ đang đứng


5

trước các nguy cơ bị hủy hoại, suy thoái hoặc mất cân cân bằng sinh thái, giảm sút nguồn

 Tài nguyên thiên nhiên
Phú Yên có điều kiện tự nhiên khí hậu thuận lợi, vùng biển có nguồn lợi thủy sản
vô cùng đa dạng và phong phú bao gồm: Cá, các loài giáp xác, thân mềm, rong biển,
trong đó chủ yếu là nguồn lợi cá biển và các loài tôm, cua ghẹ có giá trị về thực phẩm
và kinh tế. Phú Yên có điều kiện tự nhiên và tài nguyên vùng ven bờ, hệ thực vật, động
vật nơi đây đa dạng, phong phú bao gồm 263 loài tảo phù du, 9 loài cỏ biển, 35 loài thực
vật ngập mặn, 90 loài động vật phù du, 14 loài động vật thân mềm, 224 loài cá (Nguyễn
Minh Hạnh, 2016).
Những năm gần đây, vùng ven biển của Phú Yên đang chịu nhiều tác động từ các
hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, vùng biển này không chỉ là “vùng trọng điểm” của
nghề khai thác bằng các ngư cụ mang tính hủy diệt, mà còn là nơi đang bị ô nhiễm do
hậu quả của nghề nuôi tôm và người dân sống xung quanh đã biến thành nơi chứa chất
thải, đồng thời chịu ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ (Nguyễn Thị Hoài Trang, 2011;
Nguyễn Minh Hạnh, 2016). Từ đó làm suy thoái sinh cảnh và tài nguyên thủy sinh, gây
ô nhiễm môi trường, đe dọa đến sự mất đa dạng sinh học, làm suy giảm nguồn lợi thủy
sản cũng như số lượng các loài cua ghẹ.
1.2. Tình hình nghiên cứu đa dạng các loài cua ghẹ ở trong nước và thế giới
 Trên thế giới
Cho đến nay đã có một số công trình được công bố về đa dạng các loài cua ghẹ
thuộc lớp giáp xác trên thế giới dựa trên hình thái và di truyền.
Carpenter và Niem (1998) bằng phương pháp chủ yếu là mô tả hình thái dựa vào
các đặc điểm bên ngoài đã xác định được 668 loài giáp xác ở Tây Thái Bình Dương,
trong đó có 16 họ cua ghẹ.


7

Guinot và ctv (2008) đưa ra danh sách các loài cua thuộc phân thứ bộ Brachyuran
trên thế giới bao gồm 6.793 loài và phân loài, 1.271 giống và phân giống, 93 họ và 38
phân họ.


8

thuộc 70 họ, trong đó một số họ có số loài nhiều là Xantiidae, Gonoplacidae, Leucosidae,
Portunidae, Ocypodidae (thuộc nhóm cua), Penaeidae, Alpheidae, Paguridae,
Palaemonidae (thuộc nhóm tôm) (Đặng Ngọc Thanh và Nguyễn Huy Yết, 2009), còn
khu hệ nước ngọt có số lượng loài cua đã biết là 45 loài (Đặng Ngọc Thanh và Hồ Thanh
Hải, 2012), bên cạnh đó mỗi vùng Bắc Trung Nam lại có những nhóm loài đặc trưng
riêng.
 Khu vực miền Bắc
Đỗ Văn Nhượng và Hoàng Ngọc Khắc (2004) cung cấp dẫn liệu về các loài cua ở
rừng ngập mặn vùng cửa sông Hồng. Nhóm tác giả xác định được 62 loài thuộc 7 họ và
27 giống. Trong số đó, họ có nhiều loài nhất gồm Ocypodidae – 27 loài, Grapsidae – 20
loài.
Đỗ Văn Tứ và ctv (2012) nghiên cứu thành phần loài động vật đáy cỡ lớn ở vườn
quốc gia Xuân Thủy tỉnh Nam Định đã thống kê được 350 loài thuộc 6 ngành (Annelida,
Arthropoda, Brachiopoda, Cnidaria, Mollusca, Sipuncula), 11 lớp, 38 bộ, 106 họ, 206
giống. Trong đó, lớp giáp xác có nhiều loài cua ghẹ có giá trị kinh tế thuộc họ Portunidae
như cua bùn (Scylla serrata), ghẹ hoa (Portunus pelagicus).
Nghiên cứu đa dạng động vật đáy cỡ lớn ở đảo Bạch Long Vĩ – Hải Phòng của Bùi
Đức Quang và ctv (2013) ghi nhận số lượng nhiều loài cua thuộc họ Xanthidae (8 loài),
điển hình nhất là cua đá (Atergatic spp.) và nhiều loài có giá trị kinh tế như Charybdis
feriata (Linnaeus, 1785), Portunus sanguinolentus (Herbst, 1783), Thalamita sima
(Edwards, 1834).
 Khu vực miền Trung
Trương Văn Đàn và ctv (2010) nghiên cứu khu hệ động vật đáy khu vực Hải Vân Sơn Trà, từ đó xác định các loài cua ghẹ tại khu vực chỉ tập trung ở một số họ như
Xanthidae – 14 giống, 17 loài; sau đó đến các họ Portunidae – 5 giống, 12 loài;
Grapsidae – 5 giống, 7 loài; Ocypodidae – 4 giống, 6 loài; các họ còn lại có số lượng
giống, loài khá ít.
Nghiên cứu của Tôn Thất Chất và Trần Thị Minh Thư (2011) xác định được 13 loài

Ocypodidae – 25 loài, Grapsidae – 13 loài, các họ khác có số lượng loài ít hơn:
Portunidae – 5 loài, Potamidae – 2 loài, Leucosiidae – 2 loài, Majida – 1 loài và
Mictyridae – 1 loài.
Lê Văn Thọ và Phan Doãn Đăng (2011) tiến hành khảo sát động vật đáy không
xương sống cỡ lớn trên sông Vàm Cỏ Đông tỉnh Long An ghi nhận được 41 loài, 6 lớp
và 3 ngành, trong đó có hai loài cua thuộc họ Potamidae là Potamon sp. và Deacapoda
larva.
Nghiên cứu về cua nước ngọt ở các đảo lớn Việt Nam của Đỗ Văn Tứ (2015) thực
hiện trên 5 đảo gồm Cát Bà, Cù Lao Chàm, Côn Đảo, Hòn Khoai và Phú Quốc, ghi nhận


10

được 8 loài cua nước ngọt thuộc 8 giống, 2 họ (Gecarcinucidae – 3 loài và Potamidae –
5 loài).
1.3. Ứng dụng kĩ thuật di truyền trong nghiên cứu đa dạng sinh học cua ghẹ
1.3.1. DNA ty thể và nghiên cứu di truyền
Ở động vật, ngoài hệ gen trong nhân còn có hệ gen tế bào chất nằm trong ty thể
(mitochondrial DNA-mtDNA) chiếm tỉ lệ từ 1 - 5% DNA của tế bào. DNA ty thể là một
hệ gen độc lập, thường là mạch vòng, được định vị trong ty thể. Bộ gen ty thể có cấu tạo
xoắn kép, trần, mạch vòng với 2 chức năng chủ yếu: mã hóa nhiều thành phần của ty thể
và mã hóa cho một số protein tham gia vào chuỗi chuyền điện tử, có khoảng một vài
trăm ty thể trên một tế bào (Chial và Craig, 2008).

Hình 1.3. DNA ty thể người, bao gồm 22 gen tRNA, 2 gen rRNA và 13 vùng mã
hóa protein. Mũi tên màu vàng chỉ vùng gen CO1 mtDNA được sử dụng trong
nghiên cứu hiện tại (Nguồn: https://www.mitomap.org/MITOMAP - Cập nhật
tháng 05/2017)
Mỗi ty thể có từ 2 đến 10 bản sao của DNA và mỗi tế bào chứa từ hàng trăm đến
hàng triệu ty thể nên số lượng DNA ty thể là rất lớn (Taylor và Turnbull, 2005). DNA

độ chính xác cao (Avise, 2009; Kress và ctv, 2008; Chase và ctv, 2005).
Các chỉ thị của DNA ty thể thường được sử dụng là các gen mã hóa CO1, 16S rRNA,
12S rRNA, tRNA. Bên cạnh đó, trình tự của các gen mã hóa thuộc DNA ribosome (28S,
5.8S và 18S) cũng như các gen không mã hóa (khoảng chèn giữa gen ITS1 và ITS2)
cũng được sử dụng rộng rãi trong phân loại và định danh loài (Cunningham và ctv, 1996;
Berg và ctv, 2000). Trên thực tế, sử dụng một cặp mồi chung khuếch đại đoạn gen
cytochrome c oxidase subunit 1 (CO1) của DNA ty thể có thể định danh được đến loài
ở hầu hết các ngành thuộc hệ thống phân loại động vật (Herbert và ctv, 2003) và thường
được sử dụng như một mã vạch DNA (DNA barcoding) để nghiên cứu sự đa dạng sinh
học của giới sinh vật (Herbert và ctv, 2003; 2004).


12

1.3.2. Ứng dụng kĩ thuật di truyền mã vạch (DNA barcoding) trong nghiên cứu đa
dạng sinh học cua ghẹ
Khái niệm mã vạch DNA được biết đến rộng rãi từ những năm đầu thế kỷ 21, khi
các nhà khoa học Canada trình bày nghiên cứu sử dụng một đoạn gene dài 648
nucleotid từ bộ gene ty thể (vùng gen CO1 – Cytochrome Oxidase subunit 1) để định
loại 260 loài chim và đề xuất dùng nó như một "mã vạch" để lưu trữ, chuẩn hóa thông
tin các loài động vật (Hebert và ctv, 2004). Về cơ bản, kỹ thuật này dựa vào việc sử
dụng một vùng DNA có kích thước từ 400-800bp như là một tiêu chuẩn để nhận dạng
các loài một cách nhanh chóng, chính xác và phương pháp này được gọi là mã vạch
DNA (DNA barcoding).
Mã vạch DNA là phương pháp dựa trên việc so sánh các trình tự DNA ngắn, chuẩn
của các loài sinh vật chưa biết với ngân hàng trình tự DNA của Genbank, từ đó xác định
tên loài của mẫu nghiên cứu (Dương Văn Tăng và ctv, 2014; Trần Thị Việt Thanh và
ctv, 2015).
Sự khác biệt về trình tự DNA ty thể của đa số các loài động vật là rất rõ ràng, do đó
giải trình tự DNA ngắn được sử dụng làm mã vạch cho các loài động vật hứa hẹn sẽ

chẳng hạn như Hebert và ctv (2004) dựa trên mã vạch DNA sử dụng gen CO1 để định
loại được 260 loài chim ở Bắc Mỹ.
Ward và ctv (2009) sử dụng vùng gen CO1 đã định loại được 5000 loài cá được thu
nhiều nơi trên thế giới, tiếp tục công trình của Ward thì đến năm 2011 Becker và ctv
đánh dấu DNA mã vạch của 7800 loài cá.
Kress và ctv (2009) dựa vào phương pháp mã vạch DNA sử dụng hệ gen lục lạp
gồm ba vùng gen rbcL, matK và trnH – PsbA xác định được 296 loài thực vật ở khu
rừng trên đảo Barro Colorado – Panama.
Mã vạch DNA cũng được ứng dụng tại cửa khẩu nhằm hỗ trợ xác định nguồn gốc
của sinh vật sống hoặc hàng nhập khẩu để ngăn cản việc vận chuyển trái phép các loài
động, thực vật quý hiếm qua biên giới và còn được ứng dụng trong thực phẩm như
Vartak và ctv (2014) xác định được có 11 sản phẩm từ 11 loài cua kém
chất lượng ghi nhãn không đúng cách ở các nhà hàng Ấn Độ.
Để thúc đẩy việc sử dụng DNA barcoding cho tất cả sinh vật nhân chuẩn sống trên
hành tinh này, CBOL (Consortium for the Barcode of Life) đã được thành lập vào tháng
5 năm 2004, gồm hơn 120 tổ chức từ 45 quốc gia. Mục tiêu ban đầu là xây dựng một
thư viện trực tuyến trình tự mã vạch cho tất cả các loài chưa được biết đến, có thể làm
tiêu chuẩn phân loại cho bất kỳ mẫu DNA nào. Với sự hỗ trợ của CBOL, mã vạch DNA
ngày càng phát triển và trở thành một phương pháp phân loại và định danh loài mới.


14

1.3.3. Nghiên cứu mối quan hệ tiến hóa và phát sinh loài ở cua ghẹ
Cho đến nay, trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về sự phát sinh loài cua
ghẹ đã được thực hiện. Tuy nhiên, mối quan hệ phát sinh chủng loài của chúng vẫn chưa
được giải quyết một cách triệt để.
Daniels và ctv (2002) sử dụng trình tự của ba gen ti thể 12S rRNA, 16S rRNA và
CO1 mtDNA nghiên cứu mối quan hệ phát sinh của giống cua Potamonautes ở Nam
Phi. Kết quả dựa vào vị trí trên cây phát sinh loài cho thấy mối quan hệ chặt chẽ của 14

xanh có mối quan hệ gần nhau. Trên đối tượng là loài cua xanh thuộc giống Scylla,
Nguyễn Giang Sơn và ctv (2011) định loại được 2 mẫu thuộc loài S. olivacea và S.
paramamosain phân bố ở vùng biển thuộc tỉnh Cà Mau dựa trên trình tự gen 16S RNA
ribosomal, từ đó đánh giá mối quan hệ phát sinh chủng loại các loài cua thuộc giống
Scylla.
Như vậy, việc sử dụng rộng rãi các chỉ thị phân tử, đặc biệt là việc kết hợp các
chỉ thị phân tử DNA ty thể và DNA bộ gen đã góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ của
các loài cua ghẹ nói chung và theo vùng địa lý nói riêng, góp phần cung
cấp các dữ liệu cần thiết cho việc bảo tồn loài cua ghẹ trên thế giới và Việt Nam.


16

CHƯƠNG 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, địa điểm và phương pháp thu mẫu
Các loài cua ghẹ thu được ở tỉnh Phú Yên và một số khu vực tỉnh Khánh Hòa, sử
dụng phương pháp thu mẫu ngẫu nhiên ở hai khu vực tại các địa điểm: Vùng biển Lương
Sơn – Nha Trang, Vạn Ninh – Khánh Hòa, vùng biển Tuy Hòa – Phú Yên. Mẫu sau khi
thu được đem đi rửa sạch, chụp hình và tiến hành phân loại bước đầu về hình thái. Sau
đó, tiến hành lấy mô cơ các loài cua ghẹ thu được cố định trong cồn 96o và bảo quản ở
-200C cho các thí nghiệm sau.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu:



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status