BÀI THẢO LUẬN
Chủ đề 3:
Các tội phạm tin học theo luật
hình sự Việt Nam.
I, Khái niệm tội phạm tin học.
1, Khái niệm
Hiện nay, trên thế giới vẫn chưa đi tới được một khái niệm
hoàn chỉnh về tội phạm tin học được mọi người cùng nhất trí. Việc
định nghĩa tội phạm này được chia ra thành hai dạng tội phạm
theo hai hướng tiếp cận:
Tiếp cận trên phạm vi rộng, tội phạm tin học là các hành vi
phạm tội sử dụng máy tính hoặc các phương pháp khác có liên
quan đến máy tính, mạng máy tính, bao gồm các loại tội phạm
như chiếm giữ bất hợp pháp và đe doạ hoặc làm sai lệnh thông tin
bằng phương pháp sử dụng mạng máy tính. Loại tội phạm theo
định nghĩa này là rất rộng, bao gồm nhiều loại hành vi của tội
phạm truyền thống được thực hiện với sự trợ giúp của công cụ
máy tính mà phổ biến hiện nay như các hành vi lừa đảo, trốn lậu
cước viễn thông, mạo danh... Theo quan điểm hiểu tội phạm tin
học theo phạm vi rộng đã vấp phải một vấn đề khó khăn đó là cụ
thể hoá các hành vi phạm tội cụ thể từ đó xác định tội danh cụ
thể cho các hành vi này. Đây là công việc không dễ dàng vì khi
định tội danh xét về bản chất nhiều tội danh lại trùng với các tội
danh truyền thống như tội lừa đảo, đánh bạc..., có khác chăng ở
đây là việc sử dụng công cụ là mạng máy tính mà thôi.
Tiếp cận trên phạm vi hẹp, tội phạm tin học là các hành vi
phạm tội sử dụng máy tính và mạng máy tính với mục đích xâm
phạm đến an toàn của hệ thống máy tính và quy trình lưu trữ dữ
mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài
sản.
II, Các dấu hiệu đặc trưng cơ bản.
Về khách thể, chủ thể và mặt chủ quan của các tội phạm tin
học đều có nét tương đồng nhau. Cụ thể:
+ Khách thể của tội phạm: Tội phạm trong lĩnh vực công
nghệ thông tin và viễn thông được xếp vào chương các tội phạm
xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Do đó, nhóm tội
phạm này xâm phạm đến các quan hệ xã hội trong lĩnh vực an
toàn trật tự xã hội. Nói một cách cụ thể, tội phạm loại này xâm
hại đến an toàn trong hoạt động tin học và viễn thông, gây ra
những những ách tắc, rối loạn và thiệt hại về nhiều mặt cho đời
sống xã hội.
Chúng ta có thể chia khách thể của tội phạm này thành 2
loại:
Thứ nhất, tội phạm công nghệ thông tin xâm phạm, làm ảnh
hưởng đến hoạt động bình thường của hệ thống máy tính, mạng
máy tính và thiết bị liên quan.
Thứ hai, tội phạm công nghệ thông tin sử dụng máy tính và
mạng máy tính như là công cụ để xâm phạm đến lợi ích chính
đáng của cá nhân, pháp nhân, tổ chức, ảnh hưởng đến trật tự
công cộng.
+ Chủ thể của tội phạm: Chủ thể thực hiện tội phạm là chủ
thể thường, đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (từ đủ 16 tuổi trở
lên chịu trách nhiệm về mọi hành vi phạm tội, từ đủ 14 tuổi đến
dưới 16 tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm
trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng) và có năng
lực trách nhiệm hình sự. Người từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ phải chịu
b. Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy
tính, mạng viễn thông , mạng Internet, thiết bị số( Điều 225).
- Tội phạm thể hiện ở hành vi gây rối loạn hoạt động, phong
tỏa hoặc làm biến dạng, làm hủy hoại các dữ liệu của mạng máy
tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số.
- Bao gồm các hành vi cụ thể:
+ Tự ý xóa, làm tổn hại hoặc thay đổi phần mềm, dữ liệu
thiết bị số được hiểu là hành vi cố ý xóa, làm tổn hại hoặc thay đổi
phần mềm dữ liệu thiết bị số mà không được sự đồng ý của chủ
thể quản lý phần mềm, dữ liệu kỹ thuật số đó.
+ Ngăn chặn trái phép việc truyền tải dữ liệu của mạng máy
tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số được hiểu là
hành vi trái pháp luật cố ý làm cho việc truyền tải dữ liệu của
mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số bị
gián đoạn hoặc không thực hiện được.
+ Hành vi khác cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của
mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số được
hiểu là hành vi cố ý của người không có quyền quản lý, vận hành,
khai thác mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet,thiết bị
số làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của mạng máy tính,
mạng viễn thông, mạng Internet, thiết bị số bằng việc đưa vào,
truyền tải làm hư hỏng, xóa, làm suy giảm, thay thế hoặc nén dữ
liệu máy tính, thiết bị viễn thông hoặc thiết bị số.
- Hậu quả pháp lý bắt buộc là phải gây thiệt hại nghiêm
trọng.
c. Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy
tính, mạng viễn thông, mạng Internet (Điều226).
- Tội phạm thể hiện ở hành vi sử dụng trái phép thong tin
+ Cố ý vượt qua cảnh báo, mã truy cập, tường lửa, sử dụng
quyền quản trị của người khác.
+ Truy nhập bất hợp pháp vào mạng máy tính, mạng
internet, mạng viễn thông hoặc thiết bị số của người khác để
chiếm quyền điều khiển. Thủ đoạn là vượt qua cảnh báo, mã truy
cập, tường lửa, sử dụng quyền quản trị của người khác hoặc
phương thức khác. Lợi dụng quyền quản trị mạng của người khác
được hiểu là sử dụng trái phép quyền quản lý, vận hành, khai thác
và duy trì hoạt động ổn định của hệ thống mạng và thiết bị số để
thực hiện hành vi phạm tội.
+ Can thiệp vào chức năng hoạt động của thiết bị số.
+ Lấy cắp, thay đổi hoặc hủy hoại, làm giả dữ liệu hoặc sử
dụng trái phép dịch vụ.
e. Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng
Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài
sản(Điều 226b).
- Mục đích của người phạm tội là nhằm chiếm đoạt tài sản,
sử dụng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet và thiết bị số
như là công cụ phạm tội.
- Hành vi khách quan của tội phạm thể hiện ở một trong
những dạng sau:
+ Sử dụng thông tin về tài khoản, thẻ ngân hàng của cơ
quan, tổ chức, cá nhân để chiếm đoạt hoặc làm giả thẻ ngân hàng
nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hoá,
dịch vụ. Làm giả thẻ ngân hàng là việc cá nhân không có
thẩmquyền sản xuất, phát hành thẻ ngân hàng nhưng sản xuất
thẻ giống như thẻ ngân hàng (trong đó có chứa đựng thông tin, dữ
liệu như thẻ của ngân hàng phát hành).
+ Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ
chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản, tức là việc cố ý vượt qua
đây cũng là lĩnh vực mà những kẻ xấu có thể phá hoại, lừa đảo với
nhiều hình thức tinh vi. Bộ luật hình sự mới đây đã bổ sung một số
điều luật mới qui định về tội phạm trong lĩnh vực này.
Mặc dù BLHS năm 1999 đã quy định về các tội phạm trong
lĩnh vực công nghệ thông tin và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của BLHS năm 2009 đã tội phạm hóa một số hành vi thành các tội
độc lập, quy định tại Điều 226a và 226b, song thực tiễn các vụ án
trong lĩnh vực công nghệ thông tin được đưa ra xét xử rất ít. Như
năm 2009 trở về trước, theo thống kê các vụ án hình sự xét xử
trên phạm vi cả nước thì tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông
tin không có vụ án nào, năm 2010 có 1 vụ với 1 bị cáo, năm 2011
có 4 vụ với 12 bị cáo.
Số lượng các vụ án thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin không
được đưa ra xét xử nhiều là do nhiều nguyên nhân cả nguyên
nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan như:
- Công nghệ phát triển kèm theo sự gia tăng của tội phạm,
phạm vi hoạt động lớn và có tính chất toàn cầu, liên kết toàn cầu,
thủ phạm của loại tội phạm này hầu hết là người trẻ, có trình độ
hoạt động với thủ đoạn tinh vi, ít để lại dấu vết nên khó phát hiện,
gây khó khăn cho công tác điều tra.
- Công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực này hiện vẫn đang
khó khăn, lỏng lẻo, chưa theo kịp tình hình phát triển của công
nghệ.
- Trong các vụ án thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin thì các
dấu vết được thu thập thường thể hiện là các chứng cứ điện tử. Do
đó việc thu thập, bảo quản và xử lý các chứng cứ này để chứng
minh tội phạm đòi hỏi phải tuân theo chu trình nghiêm ngặt, nếu
không rất dễ làm mất các dấu vết không khôi phục được. Lý do là
phó với loại tội phạm này là các quy định của Bộ luật hình sự còn
quá chung chung, mang tính nguyên tắc, sau khoảng thời gian dài
kể từ khi ban hành đến nay mới có văn bản hướng dẫn, nên có thể
dẫn tới việc hiểu điều luật chưa thống nhất và bỏ lọt tội phạm.
2. Đề xuất hướng hoàn thiện.
Trước hết là phải tuyên truyền, giáo dục ý thức của mỗi
người để có thể ngăn chặn sự phát triển của tội phạm tin học.
+ Tình hình diễn biến phức tạp, đặc biệt là qua di động, bản
thân mỗi cá nhân phải hết sức cảnh giác khi nhận các tin nhắn
cũng như cuộc gọi của các số điện thoại lạ bởi chúng đang dùng
đủ mọi cách để chiểm đoạt tiền của các chủ thuê bao.
+ Khuyến cáo người dân trong vấn đề thực hiện các giao
dịch qua tài khoản thẻ ngân hàng, cẩn trọng trong bảo mật. Cảnh
giác với các hoạt động lừa đảo trúng thưởng, khuyến mại qua các
trang mạng xã hội.
Bên cạnh đó cần hoàn thiện về trình độ của đội ngũ điều tra
viên, kiểm sát viên, thẩm phán và trang thiết bị của các cơ quan
pháp luật.
+ Theo dự báo thì tình hình tội phạm trong lĩnh vực công
nghệ thông tin và viễn thông sẽ có chiều hướng gia tăng với tốc
độ nhanh, và ngày càng tinh vi phức tạp liên ngành Trung ương
cần có các hội nghị tập huấn và các văn bản hướng dẫn cụ thể và
thường xuyên để việc xử lý và áp dụng pháp luật được thống nhất
và hiệu quả hơn.
+ Đối với loại tội phạm sử dụng công nghệ cao, cần trao
quyền cho cơ quan điều tra được sử dụng các kỹ thuật điều tra
đặc biệt để thu thập chứng cứ ví dụ sử dụng kỹ thuật công nghệ
máy tính để phục hồi lại các dữ liệu đã bị xóa... cũng như quyền