BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
RA LAN VON GA
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
CHO QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ
EA SOL, HUYỆN EA H' LEO, TỈNH DAK LAK
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Tây - 2007
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
RA LAN VON GA
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
CHO QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ
EA SOL, HUYỆN EA H' LEO, TỈNH DAK LAK
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
dụng các nguồn tài nguyên bền vững và góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh
thần, văn hóa của các cộng đồng dân tộc sống trong và gần rừng đã và đang được
trung ương và địa phương quan tâm. Trên thực tế, hoạt động lâm nghiệp ở cơ sở
chưa có phương pháp tiếp cận thích hợp; cộng đồng dân tộc thiểu số thay vì sử dụng
những kiến thức kinh nghiệm về sinh thái, kỹ thuật, nhân văn để bảo vệ và phát
triển rừng thì đứng ngoài cuộc; điều này đã làm mất đi một nguồn lực quan trọng
trong phát triển rừng bền vững ở vùng cao. Vì vậy để phát triển lâm nghiệp cộng
đồng thì cần làm thế nào để cộng đồng có được một kế hoạch quản lý lâu dài, phù
hợp với năng lực, kinh nghiệm và tổ chức thiết chế truyền thống của họ.
2
Quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam được thực hiện từ khi Đảng và Nhà
nước ban hành các chủ trương, chính sách phân cấp, phân quyền trong quản lý tài
nguyên rừng; về giao đất giao rừng và chính sách về chế độ hưởng lợi từ rừng cho
người quản lý rừng; chủ trương về xã hội hóa nghề rừng và phát triển lâm nghiệp xã
hội, lâm nghiệp cộng đồng. Đặc biệt là Luật đất đai năm 2003, Luật Bảo vệ và Phát
triển rừng năm 2004; gần đây nhất là Quyết định 106/2006/QĐ-BNN ngày
27/11/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành Bản
hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư thôn; Quyết định 18/2007/QĐ-TTg ngày
05/02/2007 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược phát triển lâm
nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020. Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng
trong phát triển lâm nghiệp cộng đồng.
Thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước về
xã hội hóa công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng, xây dựng nghề rừng của dân,
do dân, vì dân. Dak Lak là tỉnh miền núi Tây nguyên có diện tích đất tự nhiên là
1.312.537 ha, trong đó diện tích có rừng và đất quy hoạch cho lâm nghiệp
750.982,3 ha (đất có rừng là 604.807,6 ha, đất chưa có rừng 146.174,7 ha); có 13
đơn vị hành chính cấp huyện (trong đó có 12 huyện và thành phố Buôn Ma Thuột);
đồng; chưa kết hợp xây dựng các chương trình tổng hợp về phát triển quản lý rừng
cộng đồng lồng ghép với chương trình của chính phủ.
Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn
nhằm phân tích, đánh giá cơ chế chính sách, cơ sở kinh tế - xã hội và tiến trình, nội
dung, phương pháp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng là một trong
những vấn đề cần thiết. Để góp phần vào việc bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi
trường, tăng thu nhập và bảo tồn văn hóa đối với cộng đồng sống gần rừng, thông
qua đó giúp cho việc phục hồi và quản lý rừng có hiệu quả, cũng như kết hợp các
thể chế chính sách của nhà nước và thiết chế ở địa phương để xây dựng một mô
hình có thể bảo vệ và phát triển rừng bền vững và đảm bảo được lợi ích trước mắt
cũng như lâu dài của cộng đồng, đồng thời góp phần hoàn thiện các quy trình kỹ
thuật đối với quản lý rừng cộng đồng, chúng tôi tiến hành thực hiện luận văn cuối
khóa: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng tại
xã Ea Sol, huyện Ea H’ Leo, tỉnh Dak Lak”.
4
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
Năm 1970, khái niệm về lâm nghiệp cộng đồng xuất hiện lần đầu tiên tại Ấn
Độ, đã đƣợc tổ chức FAO nghiên cứu, quảng bá và nhân rộng. Hiện nay lâm nghiệp
cộng đồng đƣợc áp dụng hầu hết ở các nƣớc trên thế giới, đặc biệt là các nƣớc đang
phát triển và đƣợc xem là một phƣơng thức quản lý rừng có hiệu quả.
Hầu hết các quốc gia ASEAN đang có những chính sách để phân cấp, phân
quyền trong quản lý tài nguyên rừng, các quốc gia này đã thử nghiệm khá thành
công cách tiếp cận có sự tham gia của ngƣời dân và chú ý đến kiến thức bản địa,
nâng cao năng lực cho các cộng đồng thiểu số để xây dựng các mô hình quản lý
rừng cộng đồng.
nhóm ngƣời sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung”. Về tính chất tổng
thể hoặc cùng nhau gắn bó là gốc ngữ nghĩa trong thuật ngữ cộng đồng. Trong khi
từ “cộng đồng” ẩn dụ một nhóm ngƣời “tổng thể” sống tại một vị trí hoặc cùng với
nhau theo cách nào đó, thì từ “thôn xã” có nghĩa là giữa những nhóm ngƣời khác
nhau. Sự phân biệt giữa cộng đồng và thôn xã khá quan trọng trong khi nghiên cứu
những ai có quyền hƣởng lợi một vài tài nguyên công cộng và lợi ích đƣợc phân bổ
nhƣ thế nào.
Tiếp theo đó là thuật ngữ “Lâm nghiệp cộng đồng (Community Forestry)”
đây là một thuật ngữ sẽ không bao giờ kết thúc việc tìm kiếm định nghĩa, theo FAO
[40] “Lâm nghiệp cộng đồng là bao gồm bất kỳ tình huống nào mà ngƣời dân địa
phƣơng tham gia vào hoạt động lâm nghiệp”, tuy vậy nó thƣờng đƣợc sử dụng
nghĩa hẹp hơn nhƣ là các hoạt động lâm nghiệp đƣợc tiến hành bởi cộng đồng hoặc
nhóm ngƣời dân địa phƣơng (J.E. Michael Arnold [40]). Ở Nêpal dùng thuật ngữ
“Nhóm sử dụng rừng” (Forest User Group) để chỉ hoạt động lâm nghiệp cộng đồng
đƣợc tổ chức bởi các nhóm đồng sử dụng tài nguyên rừng trong một làng [41].
Nhƣ vậy, khái niệm lâm nghiệp cộng đồng đã đƣợc đề cập ở nhiều quốc gia
trên thế giới, nó đƣợc hình thành với mục đích tạo dựng một phƣơng thức quản lý
rừng dựa vào cộng đồng, phân cấp trong quản lý rừng, rừng đƣợc quản lý bền vững
6
hơn từ những ngƣời đang sống phụ thuộc vào rừng và những giải pháp quản lý bảo
vệ rừng đóng góp vào việc sinh kế và cải thiện đời sống ngƣời dân từ hoạt động lâm
nghiệp. Từ quan điểm đó đã hình thành phƣơng thức, các chƣơng trình hoạt động
quản lý rừng dựa vào cộng đồng (Community Based Forest Management – CBFM),
nó đƣợc hiểu là một phƣơng thức nhằm duy trì và phát triển rừng cũng nhƣ giải
quyết vấn đề đói nghèo ở vùng cao, một nguyên nhân gốc rễ làm suy giảm tài
nguyên rừng ở các quốc gia. CBFM dựa trên quan điểm “Con ngƣời trƣớc và lâm
nghiệp bền vững sẽ theo sau đó”, nó trao cho các cộng đồng quyền và trách nhiệm
hoạt động, tổ chức thu hút cộng đồng tham gia và đƣợc chia sẻ lợi ích từ nguồn tài
nguyên; (ii) Trong khi đó một số khác niệm cụ thể hơn là quản lý rừng cộng đồng
(Community Forest Management – CFM) đã đƣợc đề xƣớng và thực thi ở nhiều
nƣớc, nó nhấn mạnh và làm rõ quyền sở hữu rừng của cộng đồng, trên cơ sở đó
cộng đồng tự tổ chức quản lý sử dụng theo nhu cầu đảm bảo tính ổn định bền vững
[42].
1.1.2. Đổi mới thể chế chính sách của ngành lâm nghiệp phục vụ tiến trình quản
lý rừng cộng đồng
Mặc dù chính sách cho lâm nghiệp cộng đồng đã có ở nhiều quốc gia, tuy
vậy thực hiện các chính sách đó cũng thƣờng gặp trở ngại (RECOFTC, FAO,
ICRAF, IUCN [38]): (i) Thiếu sự cam kết và mất công bằng trong phân bổ ngân
sách. (ii) Tiếp cận từ trên xuống và thiếu linh hoạt. (iii) Quyền sử dụng đất và tài
nguyên không ổn định. (iv) Hệ thống quản lý, kỹ thuật lâm nghiệp chƣa tƣơng thích
với kiến thức và năng lực của cộng đồng trong quản lý rừng. (v) Nhân viên kỹ thuật
lâm nghiệp thiếu các kỹ năng thúc đẩy quản lý rừng dựa vào cộng đồng có sự tham
gia và tiến trình ra các quyết định ở địa phƣơng. (vi) Thiếu các khung pháp lý để hỗ
trợ lâm nghiệp cộng đồng. (vii) Nhận thức chƣa đầy đủ của một bộ phận dân cƣ và
nhân viên lâm nghiệp về các chính sách lâm nghiệp cộng đồng hiện hành và tổ chức
thực hiện nó. (viii) Thiếu công bằng trong phân bổ lợi ích từ rừng.
Nhƣ vậy cho thấy để thực hiện CFM, điều đầu tiên cần thiết đó là sự đổi mới
về thể chế, chính sách và quan điểm tiếp cận, phát huy dân chủ trong quản lý tài
nguyên thiên nhiên. Trong đó cho thấy sự cần thiết của giao đất giao rừng cho cộng
đồng quản lý, tức là giao quyền và trách nhiệm rõ ràng, làm cơ sở để thu hút sự
quan tâm tham gia của ngƣời dân trong tiến trình quản lý rừng; sau giao đất giao
8
rừng cần thiết có những hỗ trợ để cộng đồng, hộ gia đình kinh doanh rừng. Quản lý
rừng cộng đồng cũng đòi hỏi có sự thay đổi trong tiến trình ra quyết định quản lý
(tập trung vào tất cả các loại sản phẩm rừng), để từ đó lập kế hoạch quản lý rừng; nó
cũng đƣa đến cho phụ nữ và những nhóm ngƣời “thiệt thòi” các cơ hội chia sẻ kinh
nghiệm và trình bày các nhu cầu và mong đợi của họ (Robin Aus der Beek [38]).
Các tài liệu hƣớng dẫn về điều tra và phân tích dữ liệu tài nguyên rừng đơn giản có
sự tham gia (bao gồm gỗ, lâm sản ngoài gỗ) ở các nƣớc Nêpal, Thái Lan, Philippin
[37, 45] bao gồm các nội dung hƣớng dẫn chính sau: (i) Phƣơng pháp thu thập dữ
liệu: bao gồm xác định kích thƣớc và số ô mẫu điều tra, phƣơng pháp đo đếm. (ii)
Phân tích dữ liệu: Chất lƣợng tái sinh, dự đoán trữ sản lƣợng gỗ, củi, cỏ thu hoạch,
LSNG. (iii) Lập kế hoạch quản lý rừng: bao gồm phân loại rừng chức năng theo
kiến thức bản địa, kế hoạch quản lý tái sinh, khai thác gỗ, củi, cỏ, LSNG; bảo tồn đa
dạng sinh học, bảo vệ đất, nguồn nƣớc và phƣơng pháp giám sát có sự tham gia.
Đây là các tài liệu hƣớng dẫn đƣợc thiết kế hệ thống, bao gồm hầu hết các
lĩnh vực cần quan tâm trong quản lý kinh doanh tổng hợp và bền vững tài nguyên
rừng. Các phƣơng pháp điều tra rừng có sự tham gia đƣợc xây dựng bảo đảm tính
kỹ thuật lâm nghiệp; đồng thời các công cụ điều tra lập kế hoạch và công thức tính
toán đơn giản để cộng đồng có thể tiếp cận, đặc biệt là tiếp cận với kiến thức sinh
thái địa phƣơng trong phân loại để quản lý kinh doanh rừng theo chức năng trong
cộng đồng. Tuy nhiên một vài công cụ, phƣơng pháp điều tra, lập kế hoạch còn khá
phức tạp và hàn lâm; việc xác định sản lƣợng khai thác đảm bảo ổn định rừng chƣa
đƣợc thiết kế rõ ràng, do đó việc tính toán khối lƣợng gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ thu
hoạch hàng năm theo kế hoạch chỉ là ƣớc đoán, chƣa thực sự có cơ sở để đảm bảo
sự cân bằng và ổn định sản lƣợng rừng.
Ngoài ra ở cấp quốc gia, để tổ chức điều tra các khu rừng ở cấp làng, xã
trong phạm vi toàn quốc, Trung tâm nghiên cứu lâm nghiệp thế giới (CIFOR [43])
đã đƣa tài liệu hƣớng dẫn bao gồm các phƣơng pháp nhƣ xác định vấn đề, chủ đề
điều tra, lập kế hoạch, thiết kế các cách điều tra rừng, sử dụng ảnh viễn thám, phân
tích dữ liệu và đánh giá kết quả điều tra. Trong đó đã phối hợp phƣơng pháp hàn
lâm với PRA và sử dụng công nghệ thông tin, đã đƣa ra phƣơng pháp mô hình hóa
để dự đoán thể tích cây rừng theo nhân tố đƣờng kính (D) và chiều cao (H) và loài
thành công của hệ thống quản lý rừng này là sự nhất trí của toàn thể ngƣời dân khi
thực thi các điều khoản trong hƣơng ƣớc bảo vệ rừng của cộng đồng, sự tổ chức
11
chặt chẽ của cộng đồng và sự phân chia quyền lợi các sản phẩm từ rừng trên cơ sở
bình đẳng giữa các thành viên trong cộng đồng. Phƣơng thức quản lý rừng có sự
tham gia của cộng đồng ngƣời dân sống gần rừng đã chứng tỏ tính hiệu quả về mặt
kinh tế xã hội và bền vững về mặt sinh thái môi trƣờng, phù hợp với chính sách
giao đất giao rừng của nƣớc ta hiện nay (Nguyễn Ngọc Bình [14]).
Để khôi phục và phát triển phƣơng thức quản lý rừng cộng đồng, ở Việt Nam
đã và đang có các nghiên cứu cũng nhƣ thực hiện các dự án hỗ trợ cho phát triển
lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng trong các vùng khác nhau. Các khía cạnh
liên quan đƣợc hệ thống nhƣ sau: (i) Khái niệm và quan điểm về lâm nghiệp cộng
đồng, quản lý rừng cộng đồng; các nghiên cứu về truyền thống và thực trạng của
quản lý rừng cộng đồng. (ii) Nghiên cứu về chính sách giao đất giao rừng có sự
tham gia; về thể chế, tổ chức, trách nhiệm và chế độ hƣởng lợi để phát triển phƣơng
thức quản lý rừng cộng đồng. (iii) Nghiên cứu về kiến thức bản địa và phƣơng pháp
tiếp cận trong phát triển công nghệ có sự tham gia. (iv) Quy trình quy phạm lâm
sinh áp dụng trong điều kiện cộng đồng dân tộc thiểu số.
1.2.1. Khái niệm và quan điểm về lâm nghiệp cộng đồng, quản lý rừng cộng đồng
và thực trạng
Về quan điểm và nhận thức khái niệm cộng đồng, lâm nghiệp cộng đồng,
rừng cộng đồng, quản lý rừng dựa vào cộng đồng và quản lý rừng cộng đồng hiện
vẫn còn nhiều tranh luận. Nhƣng nhìn chung nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, các
tổ chức chính phủ, phi chính phủ đều thừa nhận quản lý rừng với sự tham gia của
các cộng đồng địa phƣơng sống gần rừng là một tiềm năng để giới thiệu những hệ
thống quản lý rừng khả thi về kinh tế - xã hội và bền vững về sinh thái, đồng thời
tiết kiệm chi phí cho nhà nƣớc [14]. Thực tế cho thấy ở các hội thảo quốc gia, hội
các chủ trƣơng, chính sách về giao đất giao rừng, quản lý tài nguyên rừng và cơ chế
hƣởng lợi từ rừng cho ngƣời quản lý, xã hội hóa nghề rừng và phát triển lâm nghiệp
xã hội, lâm nghiệp cộng đồng. Cụ thể là đã ban hành Nghị định 02/CP ngày
15/4/1994; Nghị định 01/CP ngày 04/01/1995; Quyết định 245/1998/QĐ-TTg ngày
21/12/1998 của Thủ tƣớng Chính phủ về thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nƣớc
của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp; Nghị định 163/CP ngày 16/11/1999; Quyết
định 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc ban hành
13
Quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên;
Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tƣớng Chính phủ về quyền
hƣởng lợi và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân đƣợc giao, đƣợc thuê, nhận khoán
và đất lâm nghiệp. Đặc biệt là Luật đất đai năm 2003, Luật Bảo vệ và Phát triển
rừng 2004; Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành
Luật Đất đai; Quyết định 304/2005/QĐ-TTg ngày 23/11/2005 của Thủ tƣớng Chính
phủ về việc thí điểm giao rừng, khoán quản lý bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng
đồng trong buôn, làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây nguyên;
Nghị định 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ
và Phát triển rừng; Quyết định 813/QĐ-TTg ngày 07/6/2006 của Thủ tƣớng Chính
phủ về việc phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án phát triển lâm nghiệp
để cải thiện đời sống vùng Tây nguyên; Quyết định 186/2006/QĐ-TTg ngày
14/8/2006 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng; Quyết
định 106/2006/QĐ-BNN ngày 27/11/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn về việc ban hành Bản hƣớng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cƣ thôn; Quyết
định 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tƣớng Chính phủ về phê duyệt
Chiến lƣợc phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 [34].
Ngoài ra với sự nỗ lực của dự án phát triển nông thôn ở Dak Lak (RDDL),
dự án ETSP, dự án ADB về lâm nghiệp cộng đồng ở Gia Lai; khái niệm CFM đã
cầu đa dạng của ngƣời dân địa phƣơng. (ii) Vùng còn truyền thống cộng đồng và
kiến thức bản địa cao. (iii) Những vùng mà duy trì rừng hiện còn là mối quan tâm
của toàn cộng đồng; ở đây nếu giao đất giao rừng cho hộ cá thể dễ làm mất sự kiểm
soát và quyền hƣởng lợi của cộng đồng đối với các nguồn tài nguyên rừng. (iv)
Những vùng có tác dụng bảo vệ đầu nguồn.
1.2.2. Thử nghiệm giao đất giao rừng và các nghiên cứu về chính sách, thể chế,
tổ chức, tiếp cận để phát triển phương thức quản lý rừng cộng đồng
Theo tác giả Nguyễn Hồng Quân năm 2003, thực hiện Nghị định 163 và
Quyết định 187 của Chính phủ, ƣớc tính ngƣời dân đã tham gia quản lý khoảng 2,5
triệu ha đất lâm nghiệp, trong đó một số tỉnh đã thí điểm và triển khai giao rừng cho
cộng đồng; đi tiên phong là tỉnh Dak Lak giao 8.000 ha, tỉnh Sơn La giao 105.000
ha rừng tự nhiên cho hộ, nhóm hộ, cộng đồng thôn buôn quản lý. Từ đây đã bƣớc
đầu rút ra kinh nghiệm ở các tỉnh về giao rừng tự nhiên cho các cộng đồng thôn
15
buôn, kết quả cho thấy phƣơng thức này đã đƣợc ngƣời dân ủng hộ, vì đã gắn lợi
ích của họ với rừng và hài hòa giữa lợi ích của nhà nƣớc với lợi ích cộng đồng [15].
Các tỉnh đã tiến hành giao rừng tự nhiên bao gồm: Dak Lak, Dak Nông,
Thừa Thiên Huế, Sơn La, Gia Lai ... các khu rừng, đất lâm nghiệp đƣợc giao ở các
tỉnh phía bắc chủ yếu là đất trống, rừng non, trong khi đó ở Tây nguyên đã thử
nghiệm giao cả các khu rừng tốt; từ đây đã tổng kết đƣợc kinh nghiệm bƣớc đầu của
tiến trình này.
Riêng ở Tây nguyên, gần đây Chính phủ dựa vào tình hình thực tiễn đã ban
hành Quyết định 304/2005/QĐ-TTg ngày 23/11/2005 của Thủ tƣớng Chính phủ về
việc thí điểm giao rừng, khoán quản lý bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng
trong buôn, làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây nguyên; Quyết
định 813/QĐ-TTg ngày 07/6/2006 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc phê duyệt Báo
cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án phát triển lâm nghiệp để cải thiện đời sống vùng
phƣơng;
- Kế hoạch quản lý bảo vệ rừng cho cộng đồng trong 5 năm và kế hoạch cụ
thể cho từng năm còn một số vấn đề chƣa phù hợp;
- Cơ chế hƣởng lợi hiện hành chƣa phù hợp, còn một số bất cập và phần
hƣởng lợi của ngƣời nhận rừng thấp;
- Quy trình kỹ thuật để triển khai thực hiện các biện pháp trong quản lý bảo
vệ và phát triển tài nguyên rừng đối với cộng đồng chƣa phù hợp đối với từng trạng
thái rừng ở địa phƣơng;
- Tổ chức thực hiện và giám sát quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng
đối với cộng đồng còn có một số vấn đề chƣa phù hợp.
Điều này đã ảnh hƣởng không tốt đến công tác bảo vệ và phát triển rừng;
những cơ sở khoa học và thực tiễn cho quản lý rừng cộng đồng chƣa đƣợc phân tích
và đánh giá một cách đầy đủ. Việc xây dựng kế hoạch chủ yếu dựa vào chỉ tiêu kinh
tế là chính, ít quan tâm đến các yếu tố về xã hội, môi trƣờng và kỹ thuật. Chính vì
vậy, chƣa kết hợp xây dựng các chƣơng trình tổng hợp về phát triển quản lý rừng
cộng đồng lồng ghép với chƣơng trình của chính phủ. Hơn nữa, việc xây dựng kế
hoạch chƣa tính đến việc đảm bảo đời sống trƣớc mắt cũng nhƣ sự phát triển lâu dài
17
của cộng đồng, đặc biệt là nhu cầu về gỗ, củi, lâm sản và khả năng cung cấp của
rừng cho cộng đồng và thị trƣờng.
Hiệu quả quản lý rừng và đất rừng bởi cộng đồng đã đƣợc khẳng định bƣớc
đầu nhƣ sau:
- Thực tế cho thấy rừng giao cho cộng đồng đƣợc quản lý tốt hơn, ngƣời dân
có niềm tin và ý thức đƣợc rừng là tài sản của mình; kết quả này đƣợc khẳng định ở
hầu hết các địa phƣơng đã giao rừng.
- Ngƣời dân đã quan tâm đầu tƣ vào các khu rừng của mình, một số khu rừng
giao đã đƣợc cộng đồng đầu tƣ chăm sóc, làm giàu rừng, áp dụng kiến thức bản địa
Từ thực tiễn thử nghiệm giao đất giao rừng ở các tỉnh cho thấy tiến trình này
đã đƣợc triển khai và bắt đầu tích lũy kinh nghiệm, nhà nƣớc cũng đã định hƣớng rõ
ràng hơn về giao rừng cho cộng đồng và tổ chức quản lý; tuy nhiên hầu hết cũng
mới giao đất giao rừng và chƣa có thử nghiệm cụ thể cho tiến trình phát triển
phƣơng thức quản lý rừng cộng đồng bền vững. Để phát triển phƣơng thức quản lý
rừng cộng đồng, các nghiên cứu điểm đã tổng kết các vấn đề về chính sách, thể chế
cần đƣợc cải tiến hoặc cần có các nghiên cứu tiếp theo:
- Cần phát triển cơ chế chính sách và vai trò của quản lý lâm nghiệp của các
cấp huyện, xã, thôn buôn; mà trong thời gian dài điều này đƣợc giao phó cho các
doanh nghiệp lâm nghiệp nhà nƣớc. Khẳng định vị trí pháp lý của cộng đồng dân cƣ
thôn buôn và thừa nhận quản lý rừng cộng đồng nhƣ một hình thức quản lý tồn tại
song song với các hình thức quản lý rừng khác. Hình thành hệ thống quản lý thôn rõ
ràng, đủ mạnh để quản lý rừng (Vũ Long [14]). Làm cơ sở để giao đất giao rừng
cho cộng đồng thôn buôn.
- Cần bình đẳng đối với các chủ thể quản lý rừng: Trên thực tế các khu rừng
có khả năng khai thác gỗ thƣờng do các lâm trƣờng quốc doanh quản lý, các khu
rừng phục hồi chƣa có khả năng khai thác trong thời gian dài hoặc rừng tự nhiên
giàu nhƣng không thể tổ chức khai thác gỗ thì mới đề cập giao cho các chủ thể khác
quản lý (Trần Hữu Bành [15]).
- Quyền hƣởng lợi cần đƣợc làm rõ ràng hơn đối với các trạng thái, kiểu
rừng; cụ thể hóa chính sách hƣởng lợi ở từng địa phƣơng. Bên cạnh đó quyền
hƣởng lợi theo Quyết định 178 và đƣợc xác định dựa theo trạng thái rừng là khó
khăn không chỉ đối với ngƣời dân mà cả cán bộ kỹ thuật (Phạm Xuân Phƣơng [15]).
19
Do đó cần nghiên cứu làm rõ ràng, minh bạch về phân chia lợi ích từ rừng, cũng
nhƣ đơn giản hơn để có thể áp dụng đối với các cộng đồng. Đối với Tây nguyên
quyền lợi quản lý rừng của cộng đồng đƣợc áp dụng theo Quyết định 304, nhƣng
tỉnh Hòa Bình, Thừa Thiên Huế, Dak Nông, Dak Lak đã đƣa ra so sánh để làm rõ sự
khác biệt của hai phƣơng thức quản lý rừng nhƣ ở bảng 1.1 (Bảo Huy [9]).
Bảng 1.1: So sánh hai phương thức quản lý rừng giữa
lâm nghiệp truyền thống với lâm nghiệp cộng đồng
Các chỉ tiêu so sánh
Lâm nghiệp truyền thống
Khối lượng gỗ khai Lớn (Dựa vào hiệu quả kinh tế
thác trong một lần
của khai thác)
Lâm nghiệp cộng đồng (CFM)
Nhỏ (Chủ yếu cho nhu cầu hộ
gia đình và một ít cho thƣơng
mại)
Giải pháp lâm sinh Khai thác chọn với cƣờng độ
áp dụng
Chặt chọn từng cây theo cỡ
lớn trong một lần (Khai thác
kính, loài, cƣờng độ nhỏ (Dựa
hết lƣợng tăng trƣởng trên 20 –
vào mô hình rừng ổn định trong
Tác động của khai thác đến đất,
trường
sinh và cây rừng khác do sử
tái sinh, cây rừng khác là thấp
dụng máy móc và cƣờng độ
do sử dụng dụng cụ đơn giản,
chặt lớn
cƣờng độ chặt thấp.
Công nghệ sử dụng
Nhu cầu nuôi
Rất cao (Vì tác động lớn đến tài Thấp (Nhƣng phụ thuộc vào kỹ
dưỡng rừng sau
nguyên rừng)
thuật lựa chọn cây và chặt hạ)
khai thác
tham gia. (iii) Phƣơng pháp phát triển trong quy ƣớc bảo vệ rừng. Nhìn chung các
phƣơng pháp này đƣợc phát triển chủ yếu dựa vào nguyên tắc của tiếp cận PRA và
lồng ghép với các phƣơng pháp kỹ thuật đơn giản; tuy nhiên chúng chƣa đƣợc hệ
thống hóa thành một chu trình thống nhất để lập kế hoạch quản lý rừng cấp thôn
buôn, đôi khi lại quá chi tiết gồm nhiều bƣớc, nhiều yêu cầu nên chƣa đáp ứng đƣợc
tiêu chí đơn giản trong ứng dụng.
Trong năm 2003, dự án RDDL và ETSP của tỉnh Dak Lak, Dak Nông và dự
án ADB ở tỉnh Gia Lai (Bjoern Wode [21]) bắt đầu khởi xƣớng dựa vào kinh
22
nghiệm của dự án SFDP sông Đà, những vấn đề về lập kế hoạch quản lý rừng cộng
đồng bƣớc đầu đƣợc thử nghiệm khảo sát đánh giá ở cấp thôn xã, bao gồm: (i) Đánh
giá tài nguyên rừng có sự tham gia. (ii) Lập kế hoạch sử dụng và phát triển rừng.
(iii) Hệ thống giám sát đánh giá. (iv) Quy trình quản lý hành chính.
Năm 2005 và 2006 các dự án trên đã hình thành các hƣớng dẫn kỹ thuật,
cách tiếp cận trong lập kế hoạch quản lý rừng cộng đồng và thử nghiệm áp dụng các
giải pháp lâm sinh trên các vùng dự án. Trong đó có đề xuất một số công cụ điều tra
rừng đơn giản, cách xác định lƣợng chặt thông qua cấu trúc mẫu N/D định trƣớc và
đề xuất phƣơng hƣớng cho hệ thống giám sát và quản lý hành chính hỗ trợ cho tiến
trình quản lý rừng cộng đồng. Kết quả này mới dừng ở nghiên cứu điểm và dự thảo,
cần có sự góp ý và nghiên cứu phát triển thêm.
1.3. Những kết luận phục vụ cho nghiên cứu
Tổng quan các vấn đề liên quan đến phát triển phƣơng thức quản lý rừng, lập
kế hoạch kinh doanh rừng cộng đồng trong và ngoài nƣớc cho thấy:
- Xu hƣớng phát triển phƣơng thức quản lý rừng cộng đồng là khách quan
trong phát triển lâm nghiệp ở nhiều quốc gia, nhằm định hƣớng thu hút sự tham gia
của các cộng đồng để đóng góp vào tiến trình quản lý rừng bền vững. Việt Nam
cũng đang đi theo tiến trình này và đƣợc thể chế hóa trong các văn bản pháp luật
nói chung và rừng nói riêng có cơ sở thực tiễn và đƣợc quản lý bền vững.
- Phát triển các giải pháp kỹ thuật trên đất rừng dựa vào kiến thức sinh thái
địa phƣơng: Cần phát triển phƣơng pháp tiếp cận có sự tham gia thích hợp và lồng
ghép với yêu cầu lâm sinh trong quản lý tài nguyên rừng.
- Lập kế hoạch kinh doanh rừng cộng đồng: Cần xây dựng một chu trình có
tính hệ thống để lập kế hoạch kinh doanh rừng hàng năm và trung hạn phù hợp với
điều kiện cộng đồng, bao gồm các phƣơng pháp giám sát, đánh giá tài nguyên đơn
giản có sự tham gia đến lập kế hoạch khai thác gỗ củi. Phƣơng pháp tiếp cận để phát
triển các giải pháp kinh doanh đất rừng và hệ thống chỉ tiêu kỹ thuật thích hợp để tổ
chức không gian và thời gian rừng trong điều kiện nguồn lực cộng đồng.
- Quyền lợi trong quản lý rừng cộng đồng và vấn đề chia sẻ lợi ích: Trong cả
nƣớc hiện đang áp dụng quyết định 178, đối với Tây nguyên là quyết định 304 về