BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOBỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ THU HÒA
CHẾ ĐỘ QUAN LẠI TRIỀU LÊ SƠ (1428-1527)
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ THAM KHẢO CHO CẢI CÁCH
CHẾ ĐỘ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
CHẾ ĐỘ QUAN LẠI TRIỀU LÊ SƠ (1428-1527)
VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ THAM KHẢO CHO CẢI CÁCH
CHẾ ĐỘ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 62 34 04 03
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Người hướng dẫn khoa học:GS.TSKH. Nguyễn Văn Thâm
PGS.TS. Nguyễn Hữu Hải
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH VẼ
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1.Lý do chọn đề tài .................................................................................................. 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 3
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu .................................................... 4
5. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học .......................................................... 7
6. Những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn của đề tài........................................ 8
7. Cấu trúc của Luận án ........................................................................................... 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI .......................................................................... 10
1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHẾ ĐỘ QUAN LẠI
TRIỀU LÊ SƠ ..................................................................................................... 10
1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CHẾ ĐỘ QUAN LẠI TRIỀU LÊ
SƠ CÓ LIÊN QUAN ............................................................................................. 17
1.2.1. Nghiên cứu về thể chế, pháp luật triều Lê sơ ................................................ 17
1.2.2. Nghiên cứu về tổ chức bộ máy triều Lê sơ ................................................... 20
1.2.3. Nghiên cứu về các cuộc cải cách trong lịch sử ............................................. 21
1.2.4. Các công trình nghiên cứu lịch sử hành chính để rút ra những bài học
kinh nghiệm ......................................................................................................... 22
1.3. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC ...... 22
1.4. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU ................... 25
Tiểu kết chương 1: ............................................................................................... 27
3.2.6. Một số hạn chế trong việc thực hiện chế độ quan lại triều Lê sơ .................. 97
Tiểu kết chương 3 .............................................................................................. 100
Chương 4: NHỮNG GIÁ TRỊ THAM KHẢO CHO CẢI CÁCH CHẾ ĐỘ
CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ................................... 101
4.1. CHẾ ĐỘ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC VÀ CẢI CÁCH CHẾ ĐỘ CÔNG VỤ,
CÔNG CHỨC GIAI ĐOẠN HIỆN NAY ............................................................ 101
4.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức và chế độ công vụ, công chức ...................... 101
4.1.2. Những tương đồng và khác biệt- từ góc nhìn tham chiếu lịch sử ................ 107
4.1.3. Luận giải về những giá trị mang tính “hằng số” và “biến số” từ chế độ quan
lại triều Lê sơ ...................................................................................................... 114
4.2 NHỮNG GIÁ TRỊ THAM KHẢO CỐT LÕI TỪ CHẾ ĐỘ TUYỂN CHỌN
QUAN LẠI TRIỀU LÊ SƠ................................................................................... 119
4.2.1. Những giá trị tham khảo từ chế độ tuyển chọn thi cử ................................. 119
4.2.2. Những giá trị tham khảo từ các chế độ tuyển chọn khác............................. 123
4.2.3. Những giá trị tham khảo từ công tác tổ chức tuyển chọn của triều
Lê sơ .................................................................................................................. 129
4.3.NHỮNG GIÁ TRỊ THAM KHẢO CỐT LÕI TỪ CHẾ ĐỘ SỬ DỤNG QUAN
LẠI TRIỀU LÊ SƠ.............................................................................................. 131
4.3.1.Những giá trị tham khảo từ việc phân công, bố trí công việc, luân chuyển và
giản thải quan lại triều Lê sơ................................................................................ 131
4.3.2.Những giá trị tham khảo từ việc thực hiện chế độ trách nhiệm, chế độ đạo đức
công vụtriều Lê sơ ............................................................................................... 136
4.3.3.Những giá trị tham khảo từ việc thực hiện văn hóa hành chính triều Lê sơ .......... 144
4.3.4.Những giá trị tham khảo từ công tác kiểm tra, giám sát, khen thưởng và xử phạt
quan lại triều Lê sơ .............................................................................................. 147
4.3.5. Những giá trị tham khảo từ việc thực hiện chế độ đãi ngộ đối với quan lại
triều Lê sơ ........................................................................................................... 152
4.4. KIẾN NGHỊ ................................................................................................. 158
CĐPK
Chế độ quan lại
CĐQL
“Con ông cháu cha”
COCC
Công vụ, công chức
CV,CC
Đào tạo, bồi dưỡng
ĐT,BD
Đội ngũ quan lại
ĐNQL
Nhà xuất bản
NXB
Quản lý nhà nước
QLNN
hành chính luôn đạt hiệu quả cao. Thành quả đó có được là nhờ vào nhiều yếu tố,
trong đó, phải kể đến vai trò của đội ngũ quan lại (ĐNQL) - bộ phận hữu cơ của hoạt
động quản lý nhà nước (QLNN). Nhiều triều đại trong giai đoạn thịnh trị đã ý thức
được tầm quan trọng của ĐNQL, sử dụng đội ngũ đó như một công cụ quan trọng để
nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý, đưa công tác QLNN vào kỷ cương, nề nếp.
Lịch sử đã chứng minh, triều Lê sơ (1428-1527) là giai đoạn đạt được những
thành tựu rực rỡ nhất trong xây dựng và phát triển đất nước - được xem là đỉnh cao sự
phát triển của CĐPK Việt Nam. Trong khoảng 100 năm đó, nhà nước Đại Việt đã trở
thành một quốc gia có vị thế hùng cường trong khu vực Đông Nam Á trên tất cả các
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Để có được vị thế đó, triều Lê sơ đã tập
trung xây dựng nhà nước quân chủ trung ương tập quyền vững mạnh và thực hiện việc
quản lý xã hội bằng pháp luật, gắn việc xây dựng, củng cố thể chế chính trị theo tư
tưởng Nho giáo với việc thực hiện chế độ quan lại (CĐQL) như một nhiệm vụ trọng
tâm. Nhiều chủ trương, biện pháp, quy định, thể lệ liên quan đến đào tạo, tuyển chọn,
sử dụng, thăng giáng, thưởng phạt, lương bổng… của quan lại đã được các vị vua triều
Lê sơ ban hành nhằm đưa hoạt động quản lý ĐNQL đi vào quy củ, nề nếp và mang lại
những kết quả hữu hiệu. CĐQL triều Lê sơ thật sự đã góp phần tạo nên một trật tự
điều hành quy củ, một hệ thống quan lại vững chắc, trở thành “rường cột” của quốc
gia, trở thành “khuôn vàng thước ngọc” cho các triều đại sau học theo và làm theo.
Những giá trị của nó luôn là cơ sở, nền tảng, là bài học quý giá để thế hệ ngày nay rút
kinh nghiệm, kế thừa và phát triển.
Cha ông ta có câu “Sử khả lập thân” - nghĩa là muốn tu dưỡng, học tập cho
thành người có tài, có đức chỉ có thể học từ lịch sử, từ kinh nghiệm của cha ông.Ngày
nay, những kiến thức lịch sử luôn đóng một vai trò quan trọng, đem lại cho chúng ta
những bài học kinh nghiệm quý báu. Để thực hiện đường lối đổi mới, Đảng và Nhà
nước ta luôn coi nhiệm vụ cải cách chế độ công vụ, công chức (CV,CC) là khâu quan
trọng, là công việc thường xuyên, là đòi hỏi khách quan của cải cách hành chính
(CCHC). Việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức (CB,CC) đòi
hỏi phải tập trung giải quyết một số công việc như: rà soát, đánh giá đội ngũ công chức
hành chính để cơ cấu lại công chức, bố trí lại theo từng vị trí, rõ chức trách; xây dựng
Việt Nam hiện nay, tôi quyết định lựa chọn đề tài:“CĐQL triều Lê sơ (1428-1527) và
những giá trị tham khảo cho cải cách chế độ CV,CC ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài
nghiên cứu viết Luận án Tiến sĩ Quản lý công của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
*Mục đích nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu việc thực hiện CĐQL triều Lê sơ (1428-1527) để
đúc rút thành những bài học có giá trị trong quản lý, sử dụng đội ngũ CB,CC, thực
hiện tốt mục tiêucải cách chế độ CV,CC đáp ứng yêu cầu CCHC nhà nước trong giai
đoạn hiện nay.
2
*Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quan lại và CĐQL thời phong kiến ở Việt Nam.
- Luận giảicơ sở hình thành CĐQL triều Lê sơ.
-Tìm hiểu về chế độ tuyển chọn quan lại (TCQL);việc sử dụng quan lại (phân
công, bố trí công việc, thăng - giáng, khảo thí - khảo khóa, kiểm tra, giám sát, văn hóa
hành chính, đạo đức công vụ của quan lại, việc thực hiện CĐĐN đối với quan lại)...
triều Lê sơ.
- Nhìn nhận, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện CĐQL triềuLê sơ trong mối
liên hệ chặt chẽ với chế độ CV,CC ngày nay; luận giải và đúc rút những giá trị tham
khảo quý báu đối với việc hoàn thiện thể chế quản lý, góp phần nâng cao chất lượng
đội ngũ CB,CC đáp ứng yêu cầu cấp bách của cải cách chế độ CV,CC nói riêng, công
cuộc CCHC nói chung.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
- Luận án tập trung nghiên cứu việc thực hiện CĐQL triều Lê sơ về tuyển chọn
và sử dụng quan lại từ cấp trung ương đến cấp Đạo, cấp Phủ, cấp huyện - châu, xã; chỉ
chú trọng nghiên cứu CĐQL ngạch văn, không đề cập đến CĐQL ngạch võ và đội ngũ
- Luận án còn sử dụng các tài liệu thứ cấp - đó là thành tựu nghiên cứu từ trước
đến nay của các tác giả về triều Lê sơ dưới dạng các cuốn sách, kỷ yếu hội thảo khoa
học, các bài tạp chí chuyên ngành, các luận văn, luận án, đề tài khoa học các cấp.
- Ngoài ra, Luận án còn sử dụng các văn bản: Luật CB,CC, Luật Phòng chống
tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… và một số tài liệu nghiên cứu
về chế độ CV,CC hiện hành.
+ Phạm vi nội dung nghiên cứu:
CĐQL bao gồm việc xây dựng, vận hành những quy định về đào tạo, tuyển
chọn, sử dụng (trong sử dụng lại bao gồm một quy trình quản lý từ việc bố trí phân
công công việc, kiểm tra, giám sát, khảo thí, khảo khóa, chế độ trách nhiệm công vụ,
xử phạt và khen thưởng, chế độ đãi ngộ…) đối với quan lại như thế nào. Trong đó,
Luận án chỉ tập trung nghiên cứu chế độ tuyển chọn và sử dụng quan lại thời Lê sơ
chứ không đề cập đến chế độ đào tạo.
Luận án còn tập trung nghiên cứu về cải cách công vụ, công chức hiện nay như:
đổi mới nâng cao chất lượng thi tuyển công chức, thi nâng ngạch, tuyển chọn lãnh đạo;
chế độ tiến cử, thu hút người tai; chú trọng và nâng cao chế độ kỷ luật trong hoạt động
công vụ; cơ chế quản lý và chế độ chính sách đối với CB,CC…
+ Phạm vi thời gian nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu từ 1428 đến 1527 - đây là 100 năm giai đoạn đầu phát
triển cường thịnh của nhà Hậu Lê (1428-1789).
- Luận án còn tập trung nghiên cứu về chế độ CV,CC hiện nay nhằm liên hệ, so
sánh, tham chiếu để rút ra những giá trị tham khảo, những bài học từ lịch sử.
+ Phạm vi không gian nghiên cứu:
- Luận án tập trung nghiên cứu CĐQL ở các cấp chính quyền từ trung ương đến
địa phương trên địa bàn lãnh thổ của quốc gia Đại Việt ở thời Lê sơ (giai đoạn này
lãnh thổ của quốc gia Đại Việt thống nhất và được mở rộng gồm toàn bộ khu vực miền
Bắc đến Phú Yên ngày nay).
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận
- Luận án thuộc lĩnh vực Lịch sử hành chính nên để có thể thực hiện đề tài, tác
tích, làm rõ những thành công và hạn chế của việc thực hiện CĐQL triều Lê sơ nhằm
so sánh, tham chiếu lịch sử… và sử dụng tối đa phương pháp này trong việc đúc rút
các giá trị tham khảo nhằm xây dựng đội ngũ CB,CC, đáp ứng yêu cầu cải cách chế độ
CV,CC trong giai đoạn hiện nay.
Phương pháp tổng hợp còn được sử dụng để tóm lược nội dung, nhằm đánh giá
tổng quan của từng phần, sau các đề mục nhỏ và tiểu kết, kết luận của từng chương,
kết luận của toàn luận án.
+ Phương pháp khảo sát thực tế và xử lý số liệu:
Dựa vào mục đích nghiên cứu, thời gian nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
của đề tài, nghiên cứu sinh đã tiến hành phát phiếu điều tra khảo sát thực trạng chất
5
lượng đội ngũ CB,CC và tham khảo ý kiến của những nhà quản lý thực tiễn có nhiều
kinh nghiệm trong việc thực thi chế độ tuyển chọn và sử dụng CB,CC…
- Về địa bàn khảo sát: Nghiên cứu sinh dựa trên địa bàn và tính dễ tiếp cận
các đối tượng điều tra để chọn mẫu phiếu, tiến hành thăm dò ý kiến ở các cơ quan
hành chính nhà nước và các lớp ĐT,BD do Học viện Hành chính Quốc gia tổ chức
thực hiện.
Các cơ quan hành chính ở trung ương gồm: Ban Tổ chức trung ương, Văn
phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch, Bộ Tư pháp…
Các cơ quan hành chính địa phương gồm: UBND Quận Tây Hồ, UBND tỉnh
Phú Thọ, UBND thành phố Đà Nẵng, UBND tỉnh Bình Dương, UBND huyện Quốc
Oai - Thành phố Hà Nội, UBND huyện Tam Nông - Phú Thọ. Việc lựa chọn các địa
phương trên căn cứ vào sự phân chia khu vực địa lý và là ngẫu nhiên (miền Bắc, miền
Trung, miền Nam, trung du miền núi, đồng bằng, thành phố).
Các lớp ĐT,BD tại Học viện Hành chính Quốc gia: 1 lớp bồi dưỡng chuyên
viên cao cấp, 1 lớp bồi dưỡng Chuyên viên chính, 1 lớp bồi dưỡng Cán bộ cấp vụ, 1
lớp cao học Quản lý công, 1 lớp Đại học tại chức văn bằng 1.
mềm tin học excel để xử lý kết quả và tổng hợp phiếu khảo sát. Kết quả khảo sát được
tính theo tỉ lệ phần trăm tổng số phiếu hợp lệ thu về (Xem phụ lục 1,2,3; tr1,6,8).
+ Phương pháp so sánh: Để đánh giá được mức độ thành công hay hạn chế của
CĐQL triều Lê sơ, luận án sử dụng phương pháp so sánh để đối chiếu với các triều đại
trước và sau đó. Luận án cũng dùng phương pháp này để tham chiếu lịch sử với hiện
tại, so sánh giữa bối cảnh lịch sử, thể chế, mục tiêu và biện pháp thực hiện CĐQL và
chế độ CV,CC ngày nay. Thông qua đó, luận án phân tích những điểm tương đồng và
khác biệt giữa xưa và nay trong thực hiện chế độ CV,CC. Những tương đồng và khác
biệt đó sẽ là cơ sở để luận án rút ra những giá trị tham khảo nhằm đạt được hiệu quả
quản lý CB,CC, thực hiện tốt chế độ CV,CC trong điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa
và sự phát triển của thời đại ngày nay.
+ Các phương pháp nghiên cứu khác: Đề tài còn mang tính liên ngành vì có liên
quan đến ngành sử học, hành chính nên sử dụng các phương pháp nghiên cứu xã hội
học, hành chính học như: phương pháp đánh giá tâm lý xã hội, phương pháp tiếp cận
quy phạm pháp luật và phương pháp hành chính so sánh...
5. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
*Câu hỏi nghiên cứu:
- Tại sao việc nghiên cứu lại hướng vào CĐQL triều Lê sơ mà không phải các
triều đại khác?
- Việc thực hiện CĐQL được chú trọng ra sao, cách thức thực hiện thế nào dưới
triều Lê sơ? Việc thực hiện đó đã đem lại hiệu quả như thế nào?
- Những giá trị tham khảo rút ra từ việc nghiên cứu CĐQL triều Lê sơ có ý
nghĩa như thế nào đối với việc xây dựng CB,CC ngày nay nói riêng, đối với việc thực
hiện cải cách chế độ CV,CC nói chung?
* Giả thuyết khoa học:
- Để thực hiện việc nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CC ngày nay chúng ta có
thể học tập rất nhiều kinh nghiệm từ CĐQL của cha ông trong lịch sử, đặc biệt kinh
7
tham nhũng… trong hệ thống quan lại; những ảnh hưởng của nó đến ĐNQL nói riêng,
đến nền hành chính đương thời nói chung; đặc biệt là những ảnh hưởng của nó tới nền
hành chính Việt Nam sau đó. Luận án khẳng định việc để có một ĐNQL trở thành
rường cột vững chắc của quốc gia trước hết phải có những quy định rõ ràng về chức
năng, nhiệm vụ, thưởng phạt công minh, quy định rõ việc kiểm tra, giám sát, việc
thưởng phạt và đãi ngộ đối với quan lại…
8
- Luận án chỉ ra cách làm dẫn tới sự thành công và hạn chế trong thực hiện
CĐQLcủa triều Lê sơ, từ đó gợi mở những bài học có giá trị tham khảo làm cơ sở khoa
học cho cải cách chế độ CV,CC ở Việt Nam hiện nay; định hướng cho việc tiếp thu, kế
thừa giá trị lịch sử hành chính một cách có chọn lọc và khách quan nhất.
* Về thực tiễn:
- Rút ra những giá trị tham khảo giúp công tác quản lý CB,CC của các cơ quan
cũng như công cuộc CCHC của chúng ta hiện nay đạt hiệu quả cao.
- Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ là cơ sở cho việc xây dựng, ban hành, thực
thi Luật CB,CC, viên chức; góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CC đáp ứng
yêu cầu cấp bách của công cuộc CCHC ngày nay. Kết quả đó cũng là kinh nghiệm quý
báu cho các CB,CC, lãnh đạo các cấp có thể học tập, áp dụng vào thực tế công việc
của mình.
- Kết quả của luận án phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu, đào tạo cử nhân,
thạc sĩ, tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công và một số môn học khác
của Khoa Nhà nước và pháp luật, Khoa Quản lý nhân sự của Học viện Hành chính
Quốc gia, Đại học Nội vụ...
7. Cấu trúc của Luận án
Kết cấu của Luận án:“Chế độ quan lại triều Lê sơ (1428-1527) và những giá trị tham
khảo cho cải cách chế độ công vụ, công chức ở Việt Nam hiện nay” gồm 4 chương:
- Chương 1. Tổng quan tình hình các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Kim Ngọc đã hệ thống lại các chính sách, thể lệ của nhà Lê về đào tạo và tuyển chọn
quan chức; phân tích vị trí, vai trò và tác dụng của công tác đào tạo, tuyển dụng này đến
sự vận động phát triển của xã hội đương thời. Tuy nhiên, Luận án chỉ tập trung bàn về
vấn đề đào tạo quan chức và tuyển chọn quan chức mà chưa có điều kiện để bàn luận
đến vấn đề sử dụng, cũng như việc thực thi CĐĐN quan lại của triều Lê sơ [76]. Điểm
thành công trong Luận án tiến sĩ Lịch sử của Lê Thị Thanh Hòa chính là ở chỗ Luận
án khẳng định việc đào tạo quan lại luôn được nhà Nguyễn chú ý. Từng bước một, các
vua triều Nguyễn đã xây dựng được một hệ thống giáo dục từ trung ương đến các phủ
- huyện khá phát triển. Tuy nhiên với học thuyết Nho giáo đã lỗi thời, nhà Nguyễn đã
4
"Ôn cố tri tân", tức là "xét lại (cái) cũ (để) biết (cái) mới" trích từ sách Luận Ngữ của Nho giáo
10
không thể tạo nên được một lớp quan lại được trang bị đầy đủ kiến thức, cập nhật sự
phát triển chung của xã hội đương thời. Về việc sử dụng, luận án cũng khẳng định nhà
Nguyễn đã dành nhiều ưu đãi về vật chất và tinh thần cho quan lại, song nhìn chung
vẫn còn thấp so với các triều đại trước. Nghiên cứu này sẽ là cơ sở thuận lợi để Luận
án so sánh, đối chiếu với CĐĐN quan lại triều Lê sơ [45].
Một chuyên khảo khá sâu là cuốn Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt
Nam thời phong kiến của tác giả Nguyễn Tiến Cường, NXB Giáo dục, Hà Nội 1998.
Cuốn sách có hai phần cơ bản: nghiên cứu về sự phát triển của giáo dục Nho học và
nghiên cứu về chế độ thi cử Nho học qua các thời kỳ lịch sử Việt Nam. Nội dung trọng
tâm của phần thứ nhất là giới thiệu các loại hình trường học qua các triều đại Lý, Trần,
Hồ, Lê, Nguyễn. Phần thứ hai là nội dung giới thiệu về thể lệ các cuộc thi Hương, thi
Hội, thi Đình, các kỳ thi bổ sung, các kỳ thi lại viên, đặc biệt là các kỳ thi võ cử. Trong
phần này, tác giả cũng đề cập đến chế độ ân thưởng của nhà vua đối với người đi thi
và đỗ đạt. Tác giả cho rằng, các CĐĐN đối với người đi thi dưới các triều đại được thể
Nho học và còn góp phần tìm hiểu về thể chế chính trị, tư tưởng, biến động xã hội ở Việt
Nam qua từng thời kỳ lịch sử. Dù rất sâu sắc nhưng công trình cũng mới chỉ đi sâu vào
một khía cạnh của CĐQL - đó là khâu thi tuyển của triều Lê [111].
Năm 2011, có nhiều công trình như cuốn Giáo dục khoa cử và quan chế ở Việt
Nam thời phong kiến, thời Pháp thuộc của Nguyễn Công Lý, NXB Đại học Quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh [71]; Thi cử học vị học hàm dưới các triều đại phong kiến
Việt Nam của Đinh Văn Niêm, NXB Lao động - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông
Tây, Hà Nội [80]; Nhà nước phong kiến Việt Nam với việc sử dụng các đại khoa học vị
tiến sĩ (1075-1919) của TS. Lê Thị Thanh Hòa do NXB Khoa học xã hội xuất bản
[45]. Nếu hai cuốn của Nguyễn Công Lý và Đinh Văn Niêm tập trung hệ thống lại các
vấn đề về giáo dục, khoa cử (ghi chép kết quả học tập và quy chế thi cử của các Nho
sinh, học sĩ của nhà nước ta từ năm 1070 đến quy cách thi cử năm 1919), về chức
tước, phẩm hàm, ngạch trật, chức năng của các cơ quan hành chính làng, xã; việc
phong học hàm, học vị của các triều đại phong kiến ngày xưa cho logic, rành mạch…
thì cuốn của tác giả Lê Thị Thanh Hòa lại đề cập đến việc sử dụng các đại khoa học vị
tiến sĩ. Tác giả cuốn sách cũng khẳng định thái độ trân trọng của vua - quan các triều đại
đối với những người đỗ đại khoa; biết trọng dụng họ để đội ngũ đó phục vụ hết mình cho
sự phát triển đất nước. Cuốn sách không đi sâu nghiên cứu toàn diện bức tranh tổng thể bộ
máy hành chính cũng như CĐQL mà chỉ giới hạn tìm hiểu một khía cạnh quyết định sự
thành công hay thất bại của một nhà nước trong quá trình phát triển - đó là việc sử dụng
người có học vấn vào công việc chính sự. Những cuốn sách đó sẽ là mảng tư liệu quý để
luận án tham khảo trong quá trình nghiên cứu về CĐQL triều Lê.
Gần đây nhất, có cuốn Chính sách đào tạo sử dụng quan lại thời Lê Thánh
Tông và công tác cán bộ hiện nay của tác giả Nguyễn Hoài Văn, NXB Chính trị Quốc
gia - Sự thật ấn hành năm 2012 [117]. Nội dung cuốn sách tập trung làm rõ chính sách
đào tạo và sử dụng quan lại dưới thời vua Lê Thánh Tông, từ đó rút ra ý nghĩa và bài
học lịch sử thông qua liên hệ với thực tiễn công tác cán bộ hiện nay. Tuy nhiên, cũng
như các đề tài khác, cuốn sách của tác giả Nguyễn Hoài Văn chỉ tập trung vào việc
5
Lê sơ [107].
- Bài Tuyển chọn, kiểm tra, giám sát công chức dưới triều Lê Thánh Tông của Bùi
Huy Khiên in trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 3-2004. Bài viết tập trung cung cấp
một số thông tin về hoạt động tuyển chọn, giám sát hoạt động công chức thời vua Lê Thánh
Tông - thời kỳ được coi là hưng thịnh nhất của các triều đại phong kiến Việt Nam. Ở hoạt
động tuyển chọn, bài viết giới thiệu ba lệ mới để tuyển lựa quan lại của vua Lê Thánh Tông:
thi tuyển, bảo cử và tập ấm. Ở hoạt động giám sát, Lê Thánh Tông cũng đặt ra lệ khảo thí và
khảo khóa [59]. Bài Tuyển chọn và sử dụng quan lại ở nước ta thời kỳ trung đại của TS. Đỗ
Minh Cương in trên Tạp chí Xây dựng Đảng số 8-2006. Bài viết giới thiệu về phương thức
tuyển chọn và sử dụng quan lại trong suốt thời kỳ trung đại ở Việt Nam. Về chế độ khoa cử
13
để tuyển chọn quan lại, bài viết đi sâu giới thiệu về phương thức tuyển chọn quan văn,
phương thức tuyển chọn quan võ và phương thức tuyển chọn lại viên. Ngoài ra, để tuyển
chọn quan lại, thời trung đại còn sử dụng chế độ tiến cử, bảo cử. Chế độ cất nhắc và sử
dụng được đề cập lướt qua mà chưa đi sâu phân tích cụ thể, chi tiết [16].
- Bài Lê Thánh Tông và vấn đề xây dựng ĐNQL - bài học kinh nghiệm của
Trương Vĩnh Khang in trên Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam Số 3-2007. Bài viết đề cập
đến vấn đề xây dựng ĐNQL dưới triều vua Lê Thánh Tông. Theo đó, tiêu chuẩn để làm
quan mà Lê Thánh Tông đặt ra là phải vừa hiền, vừa tài. Hiền là đạo đức, tài là khả năng
giúp vua cai trị đất nước. Năng lực đó lại được thể hiện trên hai phương diện: Trình độ học
vấn - trình độ thông hiểu văn, sử, kinh sách Nho giáo; năng lực thực tế - biểu hiện qua hiệu
quả cai trị. Bài viết cho rằng, để có được ĐNQL hiền - tài như trên, Lê Thánh Tông đã thực
hiện việc quy chế hóa các quyền hạn và trách nhiệm của quan lại đi đôi với việc trừng phạt
nghiêm khắc các hành vi vi phạm; chuẩn hóa quy trình đào tạo, tuyển chọn, sát hạch, kiểm
tra, giám sát, chống tham nhũng, xây dựng chế độ thưởng phạt hợp lý…[55]
- Bài Tiếp cận nền giáo dục khoa cử thời Lê sơ của Phạm Ngọc Trung trên Tạp chí
Văn hóa nghệ thuật số 306 tháng 12 năm 2009. Bài viết khẳng định, nền giáo dục, khoa cử
tích về sự giống và khác nhau về kết cục cũng như tầm ảnh hưởng trong chính sách phòng
chống tham nhũng của hai triều đại Minh Thái Tổ và Lê Thánh Tông so với các triều đại
trước. Có thể nói đây là một đề tài hay và hiếm vì nó được hoàn thành tại trường Đại học
Vũ Hán (Trung Quốc) - một luận án nghiên cứu về lịch sử Việt Nam ở nước ngoài và
bằng tiếng nước ngoài. Đề tài đã có cái nhìn tham chiếu sâu sắc về sự giống và khác nhau
cũng như tầm ảnh hưởng trong chính sách phòng chống tham nhũng của hai triều đại
Minh Thái Tổ và Lê Thánh Tông so với các triều đại trước [130].
Để khách quan trong đánh giá CĐQL triều Lê, còn có cuốn Quan
và lại ở miền Bắc Việt Nam - một bộ máy hành chính trước thử thách (1820-1918) của
2 tác giả Emmanuel Poisson, Daniel Hémery - người Pháp. Cuốn sách được Đào Hùng,
Nguyễn Văn Sự dịch, NXB Đà Nẵng ấn hành năm 2006. CĐQL Việt Nam từ trước đến
nay được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Các nhà nghiên cứu Việt Nam thường xuất
phát từ tinh thần "phản phong", từ trên lập trường dân tộc để đánh giá CĐQL đó là thối
nát, xa rời thực tế, xa rời dân chúng, đặc biệt là tình hình quan lại thời thuộc địa. Còn
đây là cuốn sách chuyên khảo gồm 8 chương khảo cứu các góc nhìn khác nhau về hệ
thống quan lại ở Việt Nam trong một giai đoạn đầy biến động và nhiều thử thách 18201918 của một tác giả nước ngoài. Cuốn sách này là cái nhìn khách quan của các nhà
nghiên cứu phương Tây, cái nhìn từ tổ chức bộ máy (TCBM) hành chính của chủ
nghĩa tư bản về TCBM hành chính phong kiến của Việt Nam. Với các nguồn tư liệu
phong phú và có giá trị cao, tác giả đã trình bày về hệ thống quan và lại Việt Nam trong
dòng chảy của những đợt cải cách quan trường được tiến hành từ triều Lê sơ đến đầu
triều Nguyễn. Qua tác phẩm khảo cứu này, tác giả còn muốn gửi gắm những bài học cho
chiến lược CCHC ở Việt Nam [123].
Ngoài ra, để có cái nhìn tham chiếu trong việc thực hiện CĐQL với một số
nước trong khu vực đương thời, các nghiên cứu bằng tiếng Trung cũng là nguồn tư
liệu quý báu như: Cuốn 宋代官吏制度 / 祝丰年, 祝小惠. Tác giả 祝丰年 (Zhu
FengNian), 祝小惠 (Zhu Xiao Hui). Nơi XB 北京: 中国社会, 2007. (Dịch: Hệ thống
quan lại thời Tống. Tác giả Chúc Phong Niên, Chúc Tiểu Huệ. Nơi xuất bản Bắc Kinh:
15
lại nhưng chỉ tìm hiểu vấn đề này ở một triều đại nhất định, hoặc một giai đoạn cụ
thể… chứ chưa có một tài liệu nào nghiên cứu các vấn đề xuyên suốt và giá trị của nó
đối với việc xây dựng đội ngũ CB,CC ngày nay như đề tài nghiên cứu của Luận án.
16