Giải pháp phát triển hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ) - Pdf 44

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

DƯƠNG VĂN KHOA

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

DƯƠNG VĂN KHOA

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS CHU ĐỨC DŨNG

THÁI NGUYÊN - 2017



thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến các đồng chí lãnh đạo Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Liên minh HTX tỉnh, UBND các cấp chính
quyền và các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh đã giúp đỡ tôi về thông tin,
số liệu trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu luận văn.
Xin chân thành cảm ơn tất các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ
nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn của tôi chắc hẳn không thể
tránh khỏi những sơ suất, thiếu sót, tôi rất mong nhận đuợc sự đóng góp của
các thầy cô giáo cùng toàn thể bạn đọc. Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày

tháng 4 năm 2017

Tác giả luận văn

Dương Văn Khoa


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
MỤC LỤC ....................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ........................................................... vi
DANH MỤC BẢNG ...................................................................................... vii
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài ..................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 3

3.2.2. Tình hình hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp........................... 46
3.3. Một số đánh giá chung về tình hình phát triển của các hợp tác xã nông
nghiệp tỉnh Phú Thọ ........................................................................................ 60
3.3.1. Về tổ chức quản lý ở các hợp tác xã nông nghiệp ................................ 60
3.3.2. Về kết quả hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp ......................... 61
3.3.3. Một số hạn chế ...................................................................................... 64
3.3.4. Những nguyên nhân của hạn chế .......................................................... 65
Chương 4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ
NÔNG NGHIỆP Ở TỈNH PHÚ THỌ GIAI ĐOẠN 2017 - 2020 .............. 66
4.1. Định hướng nhằm phát triển HTX nông nghiệp ở tỉnh Phú Thọ ............. 66
4.1.1. Cơ sở của những định hướng ................................................................ 66
4.1.2. Định hướng và mục tiêu nâng cao hoạt động của các hợp tác xã nông
nghiệp ở tỉnh Phú Thọ ..................................................................................... 68
4.2. Một số giải pháp nhằm phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở tỉnh Phú Thọ
giai đoạn 2017-2020 ........................................................................................ 72
4.2.1. Giải pháp về phương thức tổ chức và công tác cán bộ ......................... 72
4.2.2. Tăng cường sự chỉ đạo của Nhà nước đối với hợp tác xã..................... 73
4.2.3. Giải pháp về thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển................................ 79


v
4.2.4. Giải pháp quản lý tài chính trong các hợp tác xã nông nghiệp ............. 79
4.2.5. Giải pháp về đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ quản lý
hợp tác xã, cán bộ chuyên môn nghiệp vụ hợp tác xã .................................... 80
4.3. Một số kiến nghị....................................................................................... 81
4.3.1. Kiến nghị Trung ương ........................................................................... 81
4.3.2. Kiến nghị với UBND tỉnh Phú Thọ ...................................................... 82
4.3.3. Kiến nghị với sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Liên minh HTX
tỉnh Phú Thọ .................................................................................................... 82
KẾT LUẬN .................................................................................................... 84



vii
DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1.

Tình hình chuyển đổi và thành lập mới hợp tác xã giai đoạn
2013-2016 ................................................................................... 46

Bảng 3.2.

Tình hình chuyển đổi và thành lập mới hợp tác xã nông nghiệp
giai đoạn 2013- 2016 .................................................................. 47

Bảng 3.3.

Phân loại các hợp tác xã nông nghiệp điều tra theo loại hình
sản xuất kinh doanh .................................................................... 49

Bảng 3.4.

Tổng hợp trình độ của cán bộ làm công tác quản lý hợp tác xã
nông nghiệp đến năm 2016 ......................................................... 50

Bảng 3.5.

Năng lực điều hành của cán bộ quản lý và trình độ xã viên của
các hợp tác xã nông nghiệp điều tra ........................................... 51


mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đặc biệt đối với lĩnh
vực nông nghiệp vốn được coi là thế mạnh của Việt Nam cũng được Đảng và
Nhà nước tập trung nguồn lực để tạo ra sự đột phá.
Phát triển nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đổi mới là chủ trương
lớn của Đảng và Nhà nước. Song có nhiều vấn đề lớn sẽ đặt ra như: phát triển
các doanh nghiệp nông nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp theo hướng nào; việc
phát triển hoạt động nông nghiệp hiện nay; bảo vệ thành quả của cải cách
ruộng đất…
Năm 2016 khu vực kinh tế HTX của tỉnh Phú Thọ có giá trị GDP là
38.294 triệu đồng. Như vậy, nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm của khu
vực này là gần 6%. Điều đó chứng tỏ, khu vực kinh tế hợp tác, HTX phát
triển chưa thật sự ổn định. Xét về mặt đóng góp thì kinh tế hợp tác, HTX mới
chỉ cộng vào tổng GDP của tỉnh mỗi năm khoảng 1%.
Qua một vài con số chứng minh trên đây có thể thấy, những đóng góp
của kinh tế hợp tác, HTX cho địa phương còn chưa nhiều, chưa tương xứng
với vai trò là chủ đạo của nền kinh tế quốc dân. Có thể chỉ ra hàng loạt những
tồn tại cần phải tháo gỡ trong phát triển kinh tế hợp tác, HTX: tiềm lực kinh tế
khu vực này còn yếu, tài sản vốn, quỹ ít, đặc biệt là các HTX nông nghiệp.
Số HTX hoạt động hiệu quả chưa nhiều, trong khi số HTX yếu kém
chiếm tỷ lệ cao. Trong đó, đáng lưu ý là còn một số HTX hoạt động mang
tính hình thức, chưa được củng cố hoặc phải giải thể. Tình trạng một số HTX
thành lập mới không xuất phát từ nhu cầu thực tiễn mà ra đời với mục đích để
được hưởng chính sách vay vốn ưu đãi hoặc đón các chương trình tài trợ của
tỉnh còn khá nhiều. Vì thế, khi phải bước vào hạch toán độc lập thì các HTX
này tỏ ra lúng túng và bị rơi vào tình trạng hoạt động cầm chừng.


2
Hợp tác xã nông nghiệp là tổ chức kinh tế tập thể có vai trò đặc biệt
quan trọng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; được đảng,

trong quá trình sản xuất kinh doanh của các HTXNN. Từ đó, đưa ra những
giải pháp nhằm phát triển các HTX nông nghiệp tại địa phương.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về kinh tế hợp tác, HTX nói chung và
HTX nông nghiệp nói riêng.
Đánh giá thực trạng về tổ chức và kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của các HTX nông nghiệp trước và sau Luật HTX năm 2012 trên cơ sở
phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của HTX nông nghiệp trên
địa bàn tỉnh.
Đưa ra các giải pháp chủ yếu, định hướng phát triển các HTX nông
nghiệp trên địa bàn phù hợp với đặc điểm, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh Phú Thọ.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển các HTX nông nghiệp.
Đối tượng khảo sát: các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nội dung, phương
thức tổ chức hoạt động, phương thức tổ chức quản lý điều hành, phương thức
tổ chức sản xuất kinh doanh…của các HTX nông nghiệp.
Về không gian: Đề tài nghiên cứu HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ.
Về thời gian: Đánh giá thực trạng hoạt động của các HTX nông nghiệp
trong thời gian từ năm 2013 - 2016 ở địa phương. Để từ đó có các định hướng
và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của các HTX nông nghiệp trong giai
đoạn 2017-2020.


4
4. Ý nghĩa khoa học của đề tài

càng cao nhưng hoạt động sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu gắn liền với các
hộ gia đình. Đặc điểm sản xuất của hộ gia đình trước đây phục vụ nhu cầu của
gia đình sau đó mới đưa sản phẩm dư thừa ra cung ứng trên thị trường. Nhưng
trong nền kinh tế thị trường các hộ gia đình từng bước gắn sản xuất với thị
trường, từ việc lựa chọn các sản phẩm đầu vào phục vụ sản xuất đến việc lựa
chọn thị trường đầu ra cho sản phẩm.
Tuy vậy, trong nền kinh tế thị trường hoạt động sản xuất luôn gắn với
cạnh tranh. Sản phẩm luôn đòi hỏi sự đa dạng về chủng loại, chất lượng ngày
càng nâng cao, giá cả phải hợp lý… chính vì thế đòi hỏi hoạt động sản xuất
phải tiến hành trên quy mô ngày càng mở rộng, áp dụng công nghệ mới, sử
dụng nguồn vốn lớn cũng như đội ngũ lao động có tay nghề. Điều đó các hộ
gia đình không thể đáp ứng được và đòi hỏi phải có sự hợp tác trong các khâu
của quá trình sản xuất cũng như phục vụ sản xuất. Chính lẽ đó các hộ gia đình
cần phải hợp tác với nhau để tạo ra khả năng sản xuất lớn hơn để mang lại
hiệu quả kinh tế chung.


6
Trong quá trình phát triển của các hình thức hợp tác, từ hình thức hợp
tác mang tính ngẫu nhiên, thời vụ đến việc hình thành sự liên kết giữa người
sản xuất với người phân phối, hay dựa trên cơ sở chuyên môn hoá và phân
công lao động ngày càng cao mà có sự liên kết, hợp tác giữa các khâu của quá
trình sản xuất. Cho đến ngày nay sự hợp tác không chỉ được thực hiện giữa
các hộ gia đình, các doanh nghiệp, các địa phương mà nó còn được thực hiện
trên phạm vi thế giới giữa các quốc gia với nhau gắn với quá trình toàn cầu
hoá về kinh tế. Hợp tác trong sản xuất cũng như trong phân phối lưu thông
làm cho năng suất lao động ngày càng tăng lên, thúc đẩy và mở rộng sản xuất,
làm xuất hiện nhiều ngành nghề mới và tăng cường sự giao lưu giữa các chủ
thể kinh tế.
Có thể nói kinh tế hợp tác là phương thức hoạt động kinh tế, tồn tại

phát triển kinh tế bị ràng buộc và quy định bởi sự tiến triển trong quá trình xã
hội hoá của hoạt động kinh tế của con người và phải thích ứng với tiến trình
phát triển kinh tế đó. HTX phải tạo ra xung lực tăng năng suất lao động và đạt
hiệu quả kinh tế cao.
Xuất phát từ thực tiễn nước ta kinh tế HTX sẽ tồn tại và phát triển dưới
nhiều hình thức đa dạng, từ thấp đến cao. Chẳng hạn, có những HTX trở
thành lĩnh vực hoạt động chính của các thành viên. Có những HTX chỉ nhằm
đáp ứng nhu cầu chung về một hay một số dịch vụ trong quá trình sản xuất
hoặc chuyên sản xuất kinh doanh một sản phẩm nhất định, thành viên tham
gia chỉ đóng góp một phần vốn và lao động, hộ gia đình vẫn là đơn vị kinh tế
tự chủ. HTX là kết quả liên kết theo chiều dọc, chiều ngang hoặc hỗn hợp,
không bị giới hạn bởi địa giới hành chính và lĩnh vực kinh doanh. Mỗi người
lao động, mỗi hộ gia đình có thể tham gia đồng thời vào nhiều loại hình kinh
tế hợp tác. HTX có tư cách pháp nhân có thể nhân danh mình huy động vốn,
lao động… ở bên ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau để phục vụ sản xuất,
kinh doanh.


8
Xuất phát từ khái niệm kinh tế hợp tác, nhiều tổ chức và các nhà kinh tế
đã đưa nhiều khái niệm về HTX, cụ thể:
Liên minh HTX quốc tế đưa ra khái niệm như sau: “Hợp tác xã là một
tổ chức chính trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các nhu
cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một
xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ” [1].
Còn Tổ chức Lao động quốc tế cho rằng: “ Hợp tác xã là sự liên kết của
những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện
liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài
sản mà họ đã chuyển giao vào hợp tác xã phù hợp với các nhu cầu chung và
giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ chịu trách nhiệm và

dân chủ.
Thứ tư, mục đích của HTX là phục vụ lợi ích chung của các xã viên và
lợi ích cộng đồng.
Ở nước ta, trong Luật HTX có định nghĩa như sau: “Hợp tác xã là tổ
chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu, lợi
ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này
để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng
giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước”[10].
Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp
nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn
điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của
pháp luật [10].
Từ các khái niệm về HTX, có thể khái quát một số đặc điểm cơ bản về
HTX như sau:
Hợp tác xã là hình thức thực hiện các quá trình hợp tác trong hoạt động
kinh tế. Mục tiêu của HTX là phát triển được sức sản xuất xã hội, tiết kiệm


10
lao động, tăng hiệu quả kinh tế, phải thích hợp với các mối quan hệ kinh tế
mới trong điều kiện mới.
Việc thành lập HTX không làm mất đi tính tự chủ vốn có của các bên
tham gia, trái lại nó tăng thêm sức mạnh tổng lực và phát triển được những ưu
thế của phương thức HTX.
Thành lập HTX là tạo ra đòn bẩy để phát triển kinh tế các chủ thể kinh
tế tự chủ. HTX là việc liên kết nhau lại giữa các chủ thể kinh tế tự chủ tạo ra
sức mạnh mới, thông qua đó phát triển được kinh tế của mình. Như vậy khi
thành lập HTX mới không phải vì kinh tế HTX mà là sự phát triển kinh tế của

kinh doanh. Trên cơ sở chuyên môn hoá sẽ hình thành một hệ thống các HTX
nông nghiệp, trong đó bao gồm các HTX thực hiện một hoặc một số khâu
hoặc toàn bộ quá trình sản xuất để tạo ra lương thực - thực phẩm để đáp ứng
nhu cầu thị trường. Vì vậy, có thể có các HTX tiến hành nghiên cứu, dự báo
thị trường nông sản - thực phẩm, HTX cung ứng các yếu tố phục vụ sản xuất
như: vốn, máy móc thiết bị, điện, nước, phân bón, thuốc trừ sâu… và các
HTX phục vụ việc bán hàng và phân phối hàng hoá thậm chí cả các HTX
cung cấp lao động.
Như vậy ta có thể hiểu: Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức kinh tế
tự chủ được các thành viên thành lập trên cơ sở tự nguyện, tiến hành các hoạt
động sản xuất hoặc cung ứng các yếu tố phục vụ hoạt động sản xuất nhằm tạo
ra các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản để đáp ứng nhu cầu xã hội.
Chính vì vậy, sự liên kết để hình thành lên HTX là các thành viên đó là
các hộ gia đình nông nghiệp hoặc các cá nhân hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp. Do sự khó khăn vì hoạt động đơn lẻ đã tự nguyện tiến hành hợp tác để
có sức mạnh tổng hợp và mong muốn đạt được lợi ích lớn hơn. Từ đó làm
phát huy tinh thần đoàn kết làm giàu cho gia đình và địa phương.
1.1.1.2. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã


12
Đối với việc tổ chức hoạt động của HTX nhiều quan điểm của các nhà
kinh tế và chính trị đều tập trung vào một số nguyên tắc cơ bản như sau:
Đầu tiên là nguyên tắc dân chủ và tự nguyện, đây là nguyên tắc quan
trọng nhất vì dựa trên tinh thần tự nguyện các hộ nông dân cá thể nhận thấy
lợi ích của việc gia nhập vào các HTX họ sẽ quyết định tham gia và nhiệt tình
đóng góp để xây dựng phát triển HTX, không chỉ vì lợi ích cá nhân mà còn vì
lợi ích của các thành viên khác. Vì thế Các Mác, Ăng-ghen cũng như Lênin
đã nhấn mạnh rằng: “Tuyệt đối không được cưỡng ép nông dân mà phải để
cho người nông dân tự suy nghĩ, thấy rõ lợi ích thiết thực của mình và tự

xã nông nghiệp”, “Phải phát triển tốt phong trào đổi công và hợp tác; phải
thi đua tăng gia sản xuất thực hành tiết kiệm hoàn thành và hoàn thành
vượt mức kế hoạch Nhà nước.” và “ Hiện nay phong trào tổ chức hợp tác
xã nông nghiệp tiến bước khá tốt; nhưng nhiều nơi còn lệch lạc. Chúng ta
phải củng cố thật tốt các tổ đổi công và các hợp tác xã đã có, tuyên truyền
và giáo dục nông dân làm cho phong trào phát triển vững chắc… Những
nơi chưa có hợp tác xã thì phải củng cố tổ đổi công thật tốt để tiến lên hợp
tác xã. Các địa phương phải cố gắng làm cho mỗi làng có một vài hợp tác
xã thật tốt để làm kiểu mẫu cho những hợp tác xã sẽ tổ chức sau. Trong
việc củng cố và phát triển phong trào đổi công và hợp tác xã phải chú trọng
chất lượng tốt, không nên chỉ chú trọng con số”[8].
Hợp tác xã nông nghiệp cần phải tiến hành thận trọng từng bước, và
phải dựa trên hiệu quả hoạt động của các tổ đổi công. Việc xây dựng các HTX
cần chú trọng đến chất lượng. Trên cơ sở xây dựng thành công các HTX điển
hình thì mới nhân rộng để trở thành phong trào hợp tác hoá trong nông
nghiệp.Như vậy muốn tăng gia sản xuất được nhiều thì cần làm tập thể, nhưng
vì từ trước tới nay nông dân ta quen làm ăn riêng rẽ, từng nhà, không quen tập
thể, không quen tổ chức. Để tiến bộ thì đường đi của nông dân phải có mấy
bước, bước ngắn, bước dài tuỳ theo hoàn cảnh của mỗi nước.


14
Theo Người, việc xây dựng và phát triển HTX không phải là sự áp đặt
theo lối chủ quan, duy ý chí mà phải được hình thành trên các cơ sở sau:
1. Phải dựa trên cơ sở nhu cầu thực tiễn đòi hỏi mà tổ chức xây dựng
HTX cho phù hợp cả về tổ chức và qui mô.
2. Phải dựa trên các nguyên tắc: Tự nguyện, cùng có lợi, quản trị dân
chủ. Người viết: “Chuẩn bị tốt là làm cho xã viên tự nguyện, tự giác, không
được gò ép, mệnh lệnh và quản trị phải dân chủ”[8].
3. Phải dựa trên cơ sở hiệu quả kinh tế. Người viết: “Cần phải nêu cao

cần có phương hướng sản xuất đúng đắn, phù hợp với tình hình kinh tế trong
hợp tác xã và phù hợp với tình hình và yêu cầu chung của nền kinh tế quốc
dân” và “ Kế hoạch sản xuất của hợp tác xã phải đưa ra bàn bạc một cách dân
chủ với xã viên. Phải tuyên truyền giáo dục cho xã viên hiểu, xã viên tự
nguyện làm, tuyệt đối không được dùng cách gò ép, mệnh lệnh, quan liêu”[9].
Đây là những tư tưởng quản lý kinh tế rất tiến bộ không chỉ phù hợp
với hoạt động sản xuất kinh doanh của loại hình HTX lúc đó mà còn đúng đến
ngày nay với mọi tổ chức sản xuất kinh doanh.
Khâu cuối cùng của trong hoạt động của các HTX là phân phối thành
quả cho các xã viên. Tư tưởng của Người là:“ Sản xuất được nhiều, đồng thời
phải chú ý phân phối cho công bằng, cán bộ phải chí công, vô tư thậm chí có
khi cán bộ vì lợi ích chung mà phải chịu thiệt thòi phần nào. Chớ nên cái gì
tốt thì giành về cho mình, xấu để người khác”[9].
Người cũng đưa ra nguyên tắc trong thực hiện phân phối:“Không sợ
thiếu, chỉ sợ không công bằng”[9]. Đó là một trong những phương pháp
quản lý kinh tế hiệu quả, vì theo khoa học quản lý hiện nay thì yếu tố đảm
bảo sự công bằng trong phân phối là một trong những động lực giúp cho
người lao động gắn bó và nhiệt tình với công việc. Chính điều đó làm cho
các HTX nói riêng và các tổ chức khác nói chung vận hành hiệu quả và
ngày càng phát triển.
Theo Luật HTX đưa ra quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động
của HTX cụ thể như sau:


16
Thứ nhất: Tự nguyện: mọi cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có đủ điều
kiện theo quy định của Luật này, tán thành Điều lệ HTX đều có quyền gia
nhập hợp tác xã; xã viên có quyền ra HTX theo quy định của Điều lệ HTX.
Thứ hai: Dân chủ, bình đẳng và công khai: xã viên có quyền tham gia
quản lý, kiểm tra, giám sát HTX và có quyền ngang nhau trong biểu quyết;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status