Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bộ Nông nghiệp & PTNT
Trường Đại học Lâm nghiệp
Phạm văn Hùng
Nghiên cứu đặc điểm sinh lý, sinh thái loài Mây nếp
(Calamus tetradactylus Hance) ở tỉnh Hà Giang và Hoà Bình
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 60
Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Hà Tây, năm 2007
Bộ Giáo dục và Đào tạo
Bộ Nông nghiệp & PTNT
Trường Đại học Lâm nghiệp
Phạm văn Hùng
Nghiên cứu đặc điểm sinh lý, sinh thái loài Mây nếp
(Calamus tetradactylus Hance) ở tỉnh Hà Giang và Hoà Bình
Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
gây trồng Mây nếu không dựa vào đặc điểm sinh lý, sinh thái của loài, không biết
trồng nó như thế nào, ngay cả khi có giống tốt. Vì vậy, việc nghiên cứu đặc điểm
sinh lý, sinh thái loài Mây nếp làm cơ sở khoa học cho việc xác định hệ thống biện
pháp kỹ thuật trồng thâm canh Mây nếp là rất cần thiết.
Để góp phần giải quyết những vấn đề trên, đề tài ”Nghiên cứu đặc điểm
sinh lý, sinh thái loài Mây nếp (Calamus tetradactylus Hance) ở tỉnh Hoà Bình
và Hà Giang" đã được thực hiện.
Phương hướng của đề tài là xác định những đặc điểm sinh lý quan trọng của
hạt Mây nếp, làm cơ sở đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong bảo quản hạt và xử
lý hạt nảy mầm; xác định những đặc điểm sinh lý, sinh thái cây Mây nếp làm cơ sở
cho việc phân chia điều kiện lập địa thích hợp cho loài cây này cũng như cho việc
đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao sản lượng, chất lượng Mây.
2
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, những thông tin về đặc điểm sinh lý, sinh thái
Mây đã được thu thập dựa trên những cơ sở lý thuyết và các phương pháp thực
nghiệm hiện có; đồng thời những thông tin này luôn được liên hệ với thực tiễn sản
xuất, nhằm làm cho các kết quả nghiên cứu của đề tài đáp ứng tốt nhất hai yêu cầu
lý thuyết và thực tiễn.
3
Ch¬ng 1
Tæng quan vÊn ®Ò nghiªn cøu
1.1. Ở ngoài nước
1.1.1. Nghiên cứu đặc điểm sinh lý hạt giống
Nghiên cứu đặc điểm sinh lý hạt giống trên thế giới đã được thực hiện từ rất
lâu. Trong khi hạt của các loài cây nông nghiệp sau khi chín có thể nảy mầm ngay
khó nảy mầm. Một trong các thí nghiệm với hạt cây donnik (loài cây họ đậu) sau
khi ngâm trong nước 9 năm thì 49% số hạt vẫn còn giữ được vỏ cứng. Cũng tương
tự với hạt của loài cây Keo trắng (Acacia alba) sau 15 năm ngâm trong nước vẫn
còn 5 - 18% hạt cứng; hạt loài Keo lencoran nằm 23 năm dưới đất vẫn còn sống và
còn vỏ cứng (Gupalo và Skriptjinski, 1971).
Jakashina (1985) đã xác định hạt cây đậu lupin (chi Lupinus) có thể nằm ở
vùng đất băng giá vùng Jucon trong thời gian 10 ngàn năm mà vẫn chưa mất khả
năng nảy mầm nhờ lớp vỏ có tính thấm nước cao. Nghiên cứu cho thấy sức sống lâu
dài của hạt dưới tác động của các nhân tố môi trường có liên quan đến khả năng bảo
vệ chống xâm nhập nước ở vỏ hạt (dẫn theo Nguyễn Như Khanh, 1996). Như vậy,
để những loại hạt này nảy mầm cần có biện pháp thích hợp để hạt hút nước.
Goor và Barney (1976) cho rằng, cách làm đơn giản nhất để giúp hạt có vỏ
dày hút nước được là cắt hoặc dùi một lỗ nhỏ trên vỏ hạt trước khi gieo.
Một biện pháp khác có thể làm vỏ hạt mỏng ra là chà xát vỏ hạt hoặc xử lý
bằng cách ngâm hạt trong dung dịch axit sunfuric (H2SO4) đậm đặc. Hạt loài
leucaena khi không được xử lý làm mỏng vỏ hạt, chúng hoàn toàn không thấm
nước và do đó không thể nảy mầm sau khi ngâm 24 giờ trong nước lạnh. Nhưng
nếu ngâm chúng một phút trong dung dịch axit H2SO4 đậm đặc, rồi ngâm nước thì
tỷ lệ nảy mầm của lô hạt có thể đạt 42% (Nisa và Qadir, 1969).
Gordon và Row (1982) khi nghiên cứu một số loại hạt có vỏ dày, cứng
cũng cho thấy, mặc dù vỏ hạt vẫn thấm nước và trương lên nhưng áp lực trương
nước không đủ để phôi có thể phá vỡ vỏ hạt để chui ra ngoài. Từ đó, tác giả đã đề
xuất biện pháp giúp hạt nảy mầm tốt là: sau khi ngâm hạt vào nước lạnh khoảng
48 giờ, vớt ra để ráo rồi trộn hạt với 2 - 4 lần thể tích môi trường thoát nước tốt
như cát, than bùn hoặc veniculit. Sau đó, cho vào bao tải và bảo quản mát, hàng
tuần mở bao và đảo hạt. Cách làm này giúp vỏ hạt mềm ra, dễ co giãn và có khả
năng trương lên khi hạt hút nước, do đó quá trình nảy mầm được dễ dàng.
Nhiều nghiên cứu khác đã tập trung vào quy trình xử lý nảy mầm hạt giống
bằng nhiệt độ. Bawer và Eusebio (1981) khi thử nghiệm xử lý hạt Keo tai tượng
(Acacia mangium) ở Sabah (Malaysia) bằng nhiệt độ cũng cho thấy có sự tương
ức chế (cản trở) hỗn hợp như cumarin ở trong phần thịt quả, các chất này ức chế
quá trình nảy mầm của hạt (dẫn theo Nguyễn Như Khanh, 1996).
1.1.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh lý cây rừng
Việc nghiên cứu cấu tạo giải phẫu các bộ phận cây không chỉ có ý nghĩa
trong sử dụng mà còn có nhiều ý nghĩa lý thuyết trong hệ thống học thực vật và tiến
hoá. Vì vậy, vấn đề này đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu.
Trong những năm gần đây đã có những công trình nghiên cứu về bản chất và
cơ chế của quá trình quang hợp. Mục đích của những nghiên cứu này là tái lập và sử
dụng các nguyên tắc và phản ứng của quá trình quang hợp trong các hệ công nghiệp
6
nhân tạo và điều chỉnh, nhất là xây dựng những phương thức tăng hiệu suất quang
hợp của thực vật.
Nhiệt độ cũng là nhân tố ảnh hưởng khá mạnh đến sinh trưởng của cây. Giới
hạn nhiệt độ của cây có thể sinh trưởng được khá rộng đối với các loài cây khác
nhau. Nhiệt độ có liên quan mật thiết với bức xạ, sự phân bố của nhiệt độ ở khu vực
khác nhau. Các chức năng sinh lý cũng chịu ảnh hưởng lớn của nhiệt độ. Cây muốn
quang hợp tốt cần có một nhiệt độ thích hợp. Khi nhiệt độ tăng lên thì cường độ
quang hợp cũng tăng dần và đạt cực đại, đồng thời cường độ hô hấp tăng sẽ làm
giảm hiệu suất quang hợp. Đối với cây C4 hiệu suất quang hợp tối ưu trong khoảng
35-400C. Đối với cây C3 ở những vùng nóng, hiệu suất quang hợp tối ưu trong
khoảng 20–300C.
Theo Robbins, Weisi và Stocking (1959) cơ chế thoát hơi nước gắn liền với cơ
chế đóng mở khí khổng; Các tác giả cho rằng sự đóng mở khí khổng là một phản
ứng đối với tăng giảm độ trương nước trong tế bào đóng so với những tế bào biểu bì
lân cận. Bất kỳ đặc điểm hình thái nào làm tăng độ rộng của khe khí khổng: sự phân
bố khí khổng ở cả 2 mặt lá, khí khổng nhô lên trên lớp biểu bì, vv…đều làm tăng
tốc độ thoát hơi nước.
Theo Rabinovitch (1961), quang hợp là quá trình dinh dưỡng chính của thực vật,
Sands và Milligan (1990) ... Về mặt hình thái, Boyer (1968) cho rằng, sự lớn lên
của lá rất nhạy cảm với chế độ tưới nước, khi thiếu nước lá cây thường nhỏ. Đối với
bạch đàn (Eucalyptus globules), tổng trọng lượng khô bị giảm trong điều kiện thiếu
nước, nguyên nhân do sự phát triển của lá mới bị hạn chế dẫn đến tổng diện tích lá
giảm. Đối với loài Thông đỏ sự nảy chồi và tỷ lệ sống bị giảm rất nhiều trong điều
kiện khô ẩm. Rễ của loài này cũng có xu hướng ngừng phát triển khi bị thiếu nước
(Wilcox, 1968).
Khi nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của cây, cần thiết phải nghiên cứu
tính chất của điều kiện thổ nhưỡng. Từ thế kỷ 20, trên thế giới đã có nhiều công
trình nghiên cứu về đất hướng sự chú ý về sự hình thành đất và phát hiện ra quy luật
phân bố theo đới khí hậu. Việc nghiên cứu về các nguyên tố vi lượng trong đất đã
được Katalymov và các nhà khoa học khác xác định tương đối cụ thể.
1.1.4. Nghiên cứu về Mây song
1.1.4.1. Tính đa dạng và phân bố của Mây song
Mây thuộc họ cau dừa (Arecaceae) phân bố tự nhiên ở vùng nhiệt đới và á
nhiệt đới. Trên thế giới có khoảng 600 loài Mây song thuộc 13 chi (Uhl và
Dransfield, 1987). Trong đó chi Calamus có 400 loài và chi Daemonorops có 115
loài là hai chi lớn nhất. Những chi khác có số loài ít hơn như Korthalsia (26 loài),
Plectocomia (16 loài) và Ermospatha (12 loài). Có tám chi với số loài dưới 10, trong
đó ba chi chỉ có một loài. Ba chi là Eremospatha (12 loài), Laccosperrma (7 loài) và
Oncocaiamus (3 loài) chỉ phân bố ở châu Phi, còn lại những loài khác đều phân bố
ở Nam và Đông Nam Á và Nam Trung Quốc. Chi Calamus xuất hiện phổ biến ở
châu Á và châu Phi. Gần 300 loài Mây song được dự đoán xuất hiện ở Indonesia,
8
danh lục các loài Mây song lần đầu tiên được xuất bản vào năm 1986. Một số tài
liệu đã đề cập đến phân loại và sử dụng Mây (Kong Ong và Manokaran, 1986;
Wong và Manokaran, 1985; Rao, 1989; Manokaran, 1990; Basu, 1992; Renuka,
1992, 1995)...
9
mạnh ở nơi đất thoát nước, còn loài C. wuilong sinh trưởng tốt ở nơi nhiều mùn.
Đất hơi chua thích hợp cho loài C. tetradactylus (Mây nếp) và Daemonorops
margaritae (Mây nước). Rất ít loài Mây trong chi Calamus sinh trưởng ở độ cao địa
hình từ 1000 m trở lên, còn lại đều thích hợp dưới 1000 m. Đa số loài Mây thích
nghi với điều kiện ẩm độ cao và lượng mưa lớn ở vùng nhiệt đới.
Sinh thái quần thể, tính đa dạng loài và mật độ cây, tỷ lệ cây đực và cây cái
trong quần thể, tái sinh tự nhiên sau khai thác đã được nghiên cứu như một hợp
phần trong các nghiên cứu về tài nguyên song Mây. Tăng trưởng của 4 loài Mây đã
được ghi chép, đạt 1 - 4 m/năm (Manokaran, 1985). Sự phân hoá song Mây phụ
thuộc vào nguồn giống, điều kiện thổ nhưỡng, thực vật, tiểu khí hậu, độ chín của
hạt, sự hình thành và giai đoạn phát triển của thân cây...
Tính thích ứng sinh thái của các loài Mây song đã được đề cập từ những
quan sát trong quá trình điều tra, phân loại. Đó là những tóm tắt về song Mây ở bán
đảo Malaixia, Sabah và Sarawak trong các công trình của Dransfield (1979, 1984 và
1992). Những tổng kết về sinh thái như vậy là rất quí giá, đó là những hiểu biết cơ
bản để thiết lập các quần thể cây trồng. Một lỗ hổng lớn nhất trong nhận thức về
sinh thái của Mây song là vấn đề hiểu biết về động thái quần thể, vì đó là một điều
kiện tiên quyết đảm bảo cho việc chỉ đạo phát triển song Mây đạt kết quả tốt.
Nghiên cứu đặc điểm sinh lý, sinh thái loài Mây cũng được thực hiện gắn với
nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của loài. Hầu hết các loài song Mây đều mọc
cụm, thân ngầm nằm dưới đất hình dạng như củ gừng, mặt dưới thâm ngầm có
mang rễ, rễ rất khoẻ nên có thể mọc được ở những nơi đất cứng và khô. Khóm Mây
càng già thân ngầm càng lớn và có nhiều rễ. Thân ngầm có xu hướng ăn nổi dần
trên mặt đất. Ở những nơi đất tốt sâu ẩm rễ ăn nông trên lớp đất mặt, với đặc điểm
này việc tách chồi tạo cây mới là tương đối dễ dàng.
Mỗi cụm song Mây thường có nhiều thân khí sinh mọc lên từ thân ngầm.
Thường mỗi năm từ đầu thân ngầm mọc ra 2 chồi, nhưng chỉ 1 chồi phát triển thành
thân khí sinh. Đây là đặc điểm cần chú ý khi tách chồi nách. Sau khi trồng 5 - 6
của một số loài cây rừng cho rằng hàm lượng diệp lục chứa trong lá của thực vật
nước ta cao hơn với thực vật ôn đới (đa số loài chiếm từ 1-6 mg/g lá tươi) và biến
thiên từ loài này sang loài khác trong một giới hạn rộng hơn (từ 1-10 mg/g lá tươi).
Qua nghiên cứu một số loài cây rừng cho thấy hàm lượng diệp lục và
Carotenoid ở các tháng khác nhau biến thiên rõ rệt trong một giới hạn rộng, như cây
bạch đàn có hàm lượng diệp lục tại tháng 9 cao gấp 3 lần so với tháng 3, và biến thiên
từ 0,78-2,20 mg/g lá tươi.
Các nghiên cứu của một số tác giả như: Lê Đức Diên, Cung Đình Lượng
(1968) cho rằng cây càng ưa sáng, càng chứa ít diệp lục và tỷ lệ diệp lục (a/b) càng
cao.
1.2.3. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của cây rừng
11
Nghiên cứu đặc điểm sinh thái cây rừng đã thu hút được sự quan tâm của
nhiều tác giả trong nước, trong số đó phải kể đến công trình của một số tác giả sau:
Đinh Văn Tài khi nghiên cứu sử dụng các loại cây bản địa chịu hạn phục vụ
“chương trình phục hồi và trồng rừng” chống sa mạc hoá vùng đất cát ven biển tỉnh
Ninh Thuận đã áp dụng kỹ thuật trồng mới rừng để tiếp tục phát triển mở rộng diện
tích trên cơ sở tuyển chọn một số loài cây bản địa có giá trị cung cấp giống cho
trồng rừng.
Nguyễn Huy Sơn, Vương Hữu Nhi khi nghiên cứu đặc điểm lâm học quần thể
Thông nước ở Đắc Lắc đã phân loại hiện trạng rừng, cấu trúc tổ thành loài và mật độ,
cấu trúc tầng tán và độ tàn che, đã kết luận rằng: Thông nước có thể sống hỗn loài theo
đám trong rừng lá rộng thường xanh ở vùng đầm lầy nước ngọt.
Trong giai đoạn vườn ươm, các công trình nghiên cứu tập trung về nhiệt độ,
ẩm độ trong vườn ươm, nhằm tìm ra công thức gieo ươm tốt nhất, những công trình
nghiên cứu ánh sáng dưới tán rừng mới chỉ là những nghiên cứu bước đầu mang
tính chất thăm dò.
Che bóng cho cây rừng giai đoạn vườn ươm được nhiều tác giả đề cập đến,
Vùng sinh thái
Số loài
1
Tây Bắc
7
Tên loài cây
Mây roi, Mây balansa, Mây nước, Mây hèo,
song mật, Mây nếp, Mây dắng (Mây dang)
Mây roi, Mây balansa, Mây ngọc linh, Mây
2
Đông Bắc
9
nước, Mây hèo, song mật, Mây nếp, Mây dắng
(dang), Mây đỏ
Mây lá rộng, Mây thủ công, Mây balansa,
3
Bắc Trung bộ
- Đặc điểm sinh thái học của Mây
Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách hệ thống về
đặc điểm sinh thái học các loài Mây. Đặc điểm này chỉ được đề cập một cách tản
mạn, mờ nhạt trong nghiên cứu thực vật học, và đưa ra một số nhận xét định tính
như: trong rừng nguyên sinh rất ít khi gặp cây Mây, thường gặp chúng trong các
khu rừng thứ sinh, dọc đường đi ven suối. Khi non 1 -3 tuổi Mây là cây ưa bóng,
cần có tàn che mới phát trển bình thường. Nhưng sau 4 tuổi nếu không được mở
sáng kịp thời hoặc leo lên tán rừng, cây Mây sẽ ngừng phát triển hoặc chết. Cây cao
trên 0,5m, trên bẹ lá xuất hiện tay Mây để bám vào giá thể, gặp giá thể Mây phát
triển rất nhanh.
Tóm lại, những nghiên cứu về đặc điểm sinh lý, sinh thái loài Mây nếp chưa
được hệ thống và đầy đủ, có thể tổng kết như sau:
- Thành tựu đạt được:
+ Xác định được vùng phân bố tự nhiên của Mây nếp
14
+ Mô tả đặc điểm hình thái Mây nếp.
+ Đề xuất một số biện pháp trong thu hái, cất trữ, bảo quản hạt giống.
+ Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong xử lý và gieo ươm tạo cây giống.
- Tồn tại:
+ Chưa xác định được đặc điểm sinh lý quan trọng của hạt như: cấu tạo giải
phẫu của hạt, nghiên cứu tính ngủ vật lý, hoá học, chất ức chế, chất kích thích nảy
mầm của hạt Mây nếp.
+ Chưa xác định được nhu cầu dinh dưỡng của cây ở các giai đoạn tuổi khác
nhau.
+ Chưa làm rõ đặc điểm sinh thái cây Mây.
+ Chưa chú ý nghiên cứu về phân chia điều kiện lập địa cho trồng Mây.
Qua đó cho thấy, những hiểu biết về loài Mây còn rất hạn chế. Điều này
khẳng định rằng, việc thực hiện đề tài là cần thiết, góp phần cung cấp cơ sở lý luận
- Cấu tạo giải phẫu lá cây;
- Cường độ thoát hơi nước;
- Sức hút nước của tế bào và mô;
- Hệ số héo của cây;
16
- Hàm lượng diệp lục trong lá cây;
- Cường độ quang hợp của cây;
- Khả năng chịu nóng của cây.
2.3.3. Nghiên cứu đặc điểm sinh thái cây Mây nếp
- Ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng của cây con ở giai đoạn vườn
ươm;
- Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của cây con ở giai đoạn vườn
ươm;
- Ảnh hưởng của điều kiện lập địa (ĐKLĐ) đến sinh trưởng Mây nếp;
- Phân chia ĐKLĐ theo mức độ thích hợp cho loài Mây nếp.
2.3.4. Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật trong gây trồng Mây nếp
- Một số biện pháp kỹ thuật trong bảo quản, xử lý hạt và gieo ươm;.
- Một số biện pháp kỹ thuật tác động trong trồng và phát triển Mây nếp.
.2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh lý của hạt Mây nếp
2.4.1.1. Phương pháp nghiên cứu độ thuần của lô hạt Mây
Lô hạt Mây đề tài thí nghiệm được tạo ra như sau: (i) quản được thu hái và ủ
cho chín đều; (ii) tách vỏ quả hạt lấy hạt (không ngâm nước trong quá trình tách).
Độ thuần là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng hạt thuần khiết so với khối
lượng mẫu kiểm nghiệm.
Thí nghiệm 1: Lấy 02 mẫu hạt kiểm nghiệm, mỗi mẫu có khối lượng 20g.
Sử dụng cân điện tử có độ chính xác tới 0,01 gam để cân. Trải mẫu hạt lên kính và
dùng panh phân chia thành 3 phần: hạt tốt, hạt xấu và tạp vật. Trong đó, (i) hạt tốt là
Sau khi đã cân khối lượng của 8 mẫu, tiến hành kiểm tra số liệu:
- Tính độ lệch chuẩn của 8 lần lặp:
S
Trong đó:
N
x x
2
i
2
i
N ( N 1)
(2.2)
xi: là khối lượng (gam) của từng mẫu,
N: là tổng số mẫu.
- Tính hệ số biến thiên:
V
Trong đó:
S
100
Ni
100 (%)
N
(2.5)
Pi : là tỷ lệ nảy mầm
Ni : là số hạt nảy mầm
N: là tổng số hạt thí nghiệm
- Tốc độ nảy mầm chính là số ngày bình quân cần thiết cho hạt nảy mầm và
được tính theo công thức 2.6:
S
X
i
X
Yi
(ngày)
(2.6)
i
Trong đó: S: là số ngày bình quân cho quá trình nảy mầm
- Cắt nhỏ hạt cho vào đĩa thuỷ tinh (pettry) đã được xác định trước trọng
lượng và đem sấy ở nhiệt độ 103 ± 2oC trong 17 ± 1 giờ. Khi đủ thời gian quy định,
đĩa đựng hạt được lấy ra đặt vào bình hút ẩm từ 30 - 45 phút để hạt nguội dần và
cân lại bằng cân điện tử với độ chính xác 0,001g. Kết quả được ghi vào phụ biểu
2.3.
Công thức tính độ ẩm hạt:
W
Trong đó:
P2 P3
100 (%)
P2 P1
(3.8)
P1: Khối lượng của hộp đựng (gam)
P2: Khối lượng của hạt tươi và hộp đựng (gam)
P3: Khối lượng của hạt khô và hộp đựng (gam)
2.4.1.6. Phương pháp nghiên cứu cấu tạo giải phẫu hạt Mây
Thí nghiệm 6. Chọn 2 mẫu, mỗi mẫu bao gồm 5 hạt và các hạt được lấy ngẫu
nhiên trong lô hạt thí nghiệm. Kích thước của chúng được bằng thước kẹp panme
theo chiều dài và chiều rộng của hạt giống sau đó lấy giá trị trung bình. Phương
pháp mổ hạt xem phôi sẽ được sử dụng để quan sát cấu tạo của phôi.
Dùng dao cắt đôi hạt Mây theo phương qua tâm hạt; nhỏ một giọt nước lên
lam kính; dùng dao lam cắt một lớp mỏng theo chiều xuyên tâm; đặt lên lam kính
đã nhỏ nước sau đó đặt lamen lên và quan sát trên kính hiển vi điện tử.
2.4.1.7. Phương pháp nghiên cứu đặc trưng hút ẩm của hạt Mây
Thí nghiệm 7: Lấy 3 mẫu hạt mỗi mẫu 50 hạt từ lô hạt sau khi đã ủ chín và
t
X1 X 2
(n1 1) S (n 2 1) S
n1 n 2 2
2
1
2
2
1
1
n1 n 2
(2.10)
Trong đó: X 1 và X 2 là trung bình mẫu 1 và mẫu 2
S12 và S 22 là phương sai mẫu 1 và mẫu 2
n1 và n2 là dung lượng quan sát của 2 mẫu
Nếu /t/ tính toán ≤ t05(k=n1+n2-2) tra bảng, thì giả thuyết H0 được chấp nhận,
nghĩa là 2 mẫu thuần nhất với nhau. Ngược lại, /t/ > t05 tra bảng thì giả thuyết H0 bị
bác bỏ, 2 mẫu không thuần nhất với nhau.
Thí nghiệm 9: Thực hiện thí nghiệm với 2 lần lặp, 50 hạt/lần lặp. Hạt Mây
được xử lý nảy mầm ở những thời gian khác nhau: 1giờ, 2giờ,... 14 giờ, sau đó hạt
21
mi là tổng số hạt nảy mầm của mẫu i ở cả 3 lần lặp
ni là tổng số hạt của mẫu i ở cả 3 lần lặp (ni = 150hạt)
qm1, qm2 là tỷ lệ không nảy mầm của mẫu 1, mẫu 2
qmi = 1 – mi/ni
Nếu /U/ ≤ 1,96 –> H 0 , tức tỷ lệ nảy mầm của hai thí nghiệm là như nhau.
Nếu /U/ > 1,96 –> H 0 , tức tỷ lệ nảy mầm của hai thí nghiệm là không như
nhau. Và công thức nào cho tỷ lệ nảy mầm trung bình lớn hơn thì đó là công thức
trội hơn.
Phương pháp nghiên cứu ngủ hoá học ở hạt Mây
Để biết trong hạt Mây có chất hoá học cản trở đến sự nảy mầm của hạt hay không ta
sử dụng hạt đối chứng là hạt đậu tương, đấy là loại hạt dễ nảy mầm.
Thực hiện hai thí nghiệm cho hạt đậu tương, 3 lần lặp, 50 hạt/lần lặp.
Thí nghiệm 10: Ngâm hạt đậu tương trong dung dịch nước sệt. Sau khi hạt
trương nước tối đa thì đem ủ trong túi vải, hàng ngày kiểm tra và rửa chua 2 lần/ngày.
22
Thí nghiệm 11: Làm tương tự thí nghiệm trên nhưng ngâm hạt trong nước
thường để làm đối chứng, so sánh với thí nghiệm 10 xem chất hoá học tiết ra từ hạt
Mây có ảnh hưởng tới nảy mầm của hạt đậu tương hay không.
Sử dụng tiêu chuẩn U để so sánh hai thí nghiệm 10 và 11 về tỷ lệ nảy
mầm, tìm hiểu ảnh hưởng của các chất hoá học tan từ hạt Mây tới nảy mầm của
hạt đậu tương. Sử dụng công thức (2.11) để so sánh.
Ảnh hưởng của các chất tan từ hạt Mây đến nảy mầm của hạt chính nó
Ảnh hưởng của chất tan từ nội nhũ và phôi tới nảy mầm của hạt Mây
Thực hiện thí nghiệm với 3 lần lặp, 50 hạt/lần lặp.
Thí nghiệm 16: Ngâm phần hạt đã được tách vỏ với lượng nước sao cho
lượng nước gấp ba lần lượng hạt, thường xuyên thay nước ngày ba lần để loại bỏ
bớt nồng độ chất cản trở nảy mầm mà nội nhũ và phôi tiết ra (nếu có).
So sánh giữa thí nghiệm 15 và thí nghiệm 16 để xem chất hoá học tiết ra
từ nội nhũ và phôi của hạt có ảnh hưởng tới nảy mầm của nó hay không. Sử dụng
công thức (2.10) để so sánh.
2.4.1.9. Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ nước xử lý và ánh sáng
đến nảy mầm của hạt Mây
Phương pháp nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ nước xử lý và ánh sáng
đến nảy mầm của hạt Mây nếp
- Ảnh hưởng của nhiệt độ nước xử lý
Thí nghiệm 17: Thực hiện thí nghiệm với 3 lần lặp với số lượng 30 hạt cho
một lần. Hạt Mây được xử lý nước ở nhiệt độ 200C, 400C, 600C, 800C và 1000C
trong khoảng thời gian 12 giờ sau đó rửa sạch và đem ủ trong túi vải. Theo dõi sự
nảy mầm của hạt và tổng hợp kết quả vào phụ biểu 2.7.
So sánh ảnh hưởng của các nhiệt độ nước xử lý khác nhau tới tỷ lệ nảy
mầm và tốc độ nảy mầm của hạt: Dùng phép phân tích phương sai một nhân tố
để xem xét ảnh hưởng của nhiệt độ nước xử lý tới tỷ lệ nảy mầm của hạt.
Trước hết cần sắp xếp kết quả thí nghiệm vào bảng 2.8.
Bảng 2.8. Sắp xếp kết quả thí nghiệm ảnh hưởng
của nhiệt độ nước xử lý tới tỷ lệ nảy mầm của hạt Mây
Lần lặp
T nước ( C)
20
X23
X33
X43
X53
Si(A)
x i (A)