Bộ giáo dục đào tạo
bộ nông nghiệp và ptnt
Trường đại học lâm nghiệp
*****
Phan ngọc đồng
Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh thái,
sinh trưởng và giá trị kinh tế của cây tre Điềm
trúc nhập nội trồng lấy măng tại Quảng Trị
Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Hà Tây, 2007
Bộ giáo dục đào tạo
bộ nông nghiệp và ptnt
Trường đại học lâm nghiệp
*****
Phan ngọc đồng
Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh thái,
sinh trưởng và giá trị kinh tế của cây tre Điềm
trúc nhập nội trồng lấy măng tại Quảng Trị
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60.62.60
Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
kinh tế - xã hội của Tỉnh và Quốc gia.
Tuy nhiên, ngoài những hướng phát triển nguyên liệu cho việc chế biến
gỗ, thì việc tìm ra những loài cây lâm nghiệp sớm thu hoạch và đa mục đích
nhằm hướng phát triển ngành lâm nghiệp ổn định bền vững là hết sức cấp
thiết. Trong những năm vừa qua Quảng Trị đã gây trồng và phát triển một số
loài cây như Bời lời đỏ, Sở, Quế, Dó trầm... nhưng chưa thấy được hiệu quả cụ
2
thể. Cây tre Điềm trúc được đưa về phát triển trên địa bàn tỉnh từ năm 2001
cho đến nay cho thấy được hiệu quả của nó tương đối rõ. Đây là loài tre trồng
chuyên để lấy măng được nhập nội từ Trung Quốc, chất lượng măng được
người dân công nhận là ngon, dễ chế biến, được thị trường ưa chuộng và dễ
tiêu thụ, năng suất tương đối cao, trồng một lần có thể thu hoạch nhiều lần,
đưa so sánh giá trị kinh tế với các loài cây nông nghiệp ngắn ngày khác trên
cùng chân đất như Ngô, Khoai, Sắn, Lạc, Đậu đỗ...thì người dân thích đưa cây
tre Điềm trúc vào thay thế.
Để thấy được giá trị thực của loài tre Điềm trúc cũng như khả năng sinh
trưởng phát triển như thế nào từ đó có hướng phát triển, tôi chọn đề tài:
Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh trưởng và
giá trị kinh tế của cây tre Điềm trúc nhập nội trồng lấy măng tại Quảng
Trị
3
Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Măng tre là một loại thực phẩm sạch, ăn ngon, có giá trị dinh dưỡng và
tre nứa ấn Độ. Năm 1899 Troup đã thâu tóm những hiểu biết về tre nứa vào
công trình Phương pháp xử lý về Lâm học đối với cây rừng ấn Độ có thể
nói công trình nghiên cứu về sinh thái tre nứa đã bắt đầu tiến hành trước thời
kỳ Gamble, Brandis và Troup. Một công trình đầu tiên cung cấp nhiều thông
tin về tre nứa phải kể đến công trình Rừng tre nứa của I.J Haig, M.A.
Huberman, U.Aung.Dis đã được FAO xuất bản năm 1959, công trình này các
tác giả đã tổng kết được các nhu cầu sinh thái, đặc tính sinh vật học của tre
nứa nói chung. Trung Quốc là nước có nguồn tài nguyên tre trúc phong phú
nhất trên thế giới. Trung Quốc, ấn Độ, Nhật Bản là những nước có nhiều công
trình nghiên cứu về đối tượng này, đặc biệt trong mấy năm gần đây Trung
Quốc đã thành lập trung tâm chuyên đề, chuyên nghiên cứu về tre trúc, đi sâu
nghiên cứu về chủng loại, lai tạo giống mới, kỹ thuật kinh doanh (gây trồng,
chăm sóc, khai thác...). Trong số những công trình nghiên cứu tại Trung Quốc,
một công trình được đánh giá cao trong năm 1994 về lai tạo thành công giữa
loài Đại lục trúc (Dendrocalamopsis daii 3)và Chưởng cao trúc (Bambusa
pervariabilis) cho giống lai, măng có năng suất cao, chất lượng tốt, làm thực
phẩm rất ngon.
Tại hội thảo Quốc tế về tre trúc được tổ chức tại Hàng Châu Trung
Quốc tháng 10/1995 một lần nữa khẳng định Trung Quốc là nước có nguồn tài
nguyên tre trúc phong phú bậc nhất trên thế giới với 40 chi, khoảng 400 loài,
diện tích tre nứa có trên 7 triệu ha (trong đó 4 triệu ha là rừng trồng tre trúc
kinh tế, 3 triệu ha rừng trồng tre trúc trên núi cao). Chỉ tính riêng kim ngạch
xuất khẩu tre trúc của Trung Quốc mỗi năm đạt 240 250 triệu USD. Đến
nay, tổng giá trị sản phẩm tre trúc đạt 2,2 tỷ USD/năm. Một nghiên cứu nữa
mang tính chất nghiên cứu cơ bản về tre trúc có ý nghĩa quan trọng trong kinh
doanh đối tượng này là công trình Nghiên cứu sinh lý tre trúc của GS.TS
Koichiro Ueda Trại rừng thực nghiệm khoa học nông nghiệp Trường Đại
5
6
dụng tre nứa làm nguyên liệu bột giấy, sau đó đến Trung Quốc, Philippin,
Thái Lan, Mianma,... bột giấy được chế biến từ tre trúc ưu việt hơn hẳn so với
các nguyên liệu khác bởi vì tre trúc mọc nhanh, không có vỏ, sợi dài, giá
thành nguyên liệu hạ và sản xuất được nhiều loại giấy có chất lượng cao (Tài
liệu thống kê Liên Hợp Quốc, 2000). Tre trúc trong ngành sản xuất ván nhân
tạo được xem là nguyên liệu chính thay thế gỗ. Ngoài ra, tre trúc với các mặt
hàng thủ công mỹ nghệ hết sức phong phú, có giá trị nghệ thuật cao đang
được ưa chuộng trên thị trường thế giới.
Tóm lại, tre trúc được sử dụng phổ biến trên thế giới đặc biệt là các
nước Châu á, sử dụng trong công nghiệp xây dựng, trồng rừng sản xuất,
phòng hộ, trong công nghiệp sản xuất bột giấy, ván ép. Ngoài ra còn là nguồn
thực phẩm rất được ưa dùng, đến hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị nghệ thuật
cao mang tính văn hoá nhân văn ở nhiều nước trên thế giới. Cũng bởi lẽ đó, tre
trúc là đối tượng được các nhà khoa học của nhiều nước trên thế giới nghiên
cứu rất sớm. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu khoa học của mỗi nước có
những mức độ rất khác nhau, nhưng đều chung một mục đích phục vụ lâu dài
cho lợi ích của con người và sử dụng bền vững tài nguyên này thông qua
nghiên cứu các thuộc tính tự nhiên của tre trúc, cách gây trồng và giá trị kinh
tế của chúng,... Như vậy, có thể khẳng định rằng cho đến nay trên thế giới
nhiều công trình nghiên cứu về tre trúc đã được công bố, nhưng không thể áp
dụng một cách máy móc kết quả nghiên cứu của quốc gia này cho một quốc
gia khác, vùng này cho vùng khác,... mà cần có những nghiên cứu hoặc kiểm
chứng cụ thể cho từng khu vực và nó càng trở nên cần thiết khi đưa một loài
nhập nội vào trồng thử nghiệm ở một quốc gia nào đó.
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
ở Việt Nam từ lâu tre nứa đã thực sự gắn liền với đời sống kinh tế xã
hội. Các sản phẩm từ tre nứa có giá trị nhiều mặt. Vì lẽ đó mà các nhà khoa
kỹ thuật vào rừng luồng sau khi khép tán. Về sinh trưởng của tre nứa có công
trình Sinh trưởng của tre gai và tre lộc ngộc ở Đông Triều Quảng Ninh của
Ngô Quang Đê.
8
Năm 1998 Phân viện Lâm nghiệp phía Nam được Cục Phát triển Lâm
nghiệp cấp kinh phí để thí nghiệm trồng tre Tàu (Sinocalamus latiflorus
Munro) lấy măng. Đồng thời Phân viện Lâm nghiệp, Trung tâm Lâm sinh
Ngọc Lạc Thanh Hoá, Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện
khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, tạo giống tre bằng nuôi cấy mô nhưng chưa
thành công. Kết quả từ các hoạt động nghiên cứu trên đến nay như thế nào
chưa được công bố.
Năm 2005 tác giả Nguyễn Hoàng Nghĩa xuất bản cuốn sách Tre trúc
Việt Nam, Nhà xuất bản Nông nghiệp, chủ yếu nghiên cứu về phân loại và mô
tả các loài tre trúc Việt Nam, đã chỉ ra Việt Nam có 216 loài tre trúc thuộc 25
chi và đã mô tả 194 loài tre trúc Việt Nam, các loài tre nhập nội như Bát độ,
Điềm trúc và Tạp giao có điểm qua trong cuốn sách nhưng không có mô tả.
Năm 1996 Xí nghiệp Nấm xuất khẩu Hà Nội nay là Công ty Đầu tư
xuất nhập khẩu chế biến Nông Lâm sản đã nhập nội giống tre Lục trúc
(Bambusa oldhamii) Đài Loan trồng để kinh doanh măng ở Bắc Giang, Hà
Tây, Hoà Bình. Đến năm 1999 2000 Công ty tiếp tục nhập giống tre Điềm
trúc (Dendrocalamus latiflorus Munro), tre Tạp giao từ Trung Quốc về trồng
thử nghiệm tại Ba Vì - Hà Tây. Năm 2001 đến nay Trung tâm Khuyến nông Khuyến lâm Quảng Trị nhập giống tre Điềm trúc về trồng thử nghiệm trên địa
bàn đã có sự thành công nhất định được bà con nông dân hưởng ứng, và hiện
nay loài tre này đang được người nông dân nhân rộng kết quả, tuy nhiên về
nghiên cứu sinh trưởng và hiệu quả kinh tế loài Điềm trúc lấy măng trên địa
bàn Quảng Trị thì chưa có một nghiên cứu nào thực hiện. Loài Điềm trúc này
cũng đã được trồng thành công một số nơi như ở vùng ngập lũ Thanh Trì - Hà
10
Chương 2. mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1. Mục tiêu
Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh trưởng và giá trị
kinh tế, xã hội của cây tre Điềm trúc nhập nội trồng tại Quảng Trị, từ đó đánh
giá khả năng phát triển loài cây này ở địa phương.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Loài tre Điềm trúc (Dendrocalamus latiflorus Munro, tên khác: Ma
trúc, Bát độ) nhập nội từ Trung Quốc trồng lấy măng tại Quảng Trị.
2.3. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh thái, sinh trưởng và giá trị
kinh tế của cây tre Điềm trúc nhập nội trồng lấy măng tại Quảng Trị.
Đề tài được thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Trị và lấy mẩu tại các
điểm sau: Địa bàn huyện Cam Lộ, huyện Vĩnh Linh, huyện Triệu Phong.
2.4. Nội dung nghiên cứu
2.4.1. Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh thái và sinh trưởng
của cây tre Điềm trúc nhập nội tại Quảng Trị
* Vật hậu học của cây tre Điềm trúc
- Thời kỳ ra măng.
- Thời kỳ măng rộ.
- Kết thúc mùa măng.
- Ra lá và rụng lá.
* Đặc điểm hình thái của cây tre Điềm trúc
- Hình thái thân.
- Hình thái cành và phân cành.
- Hình thái lá.
- Hình thái măng và mo nang.
* Nghiên cứu Sinh trưởng của cây tre Điềm trúc
tre Điềm trúc.
12
2.5. Phương pháp nghiên cứu
2.5.1. Phương pháp thu thập số liệu
Để thu thập thông tin cho mỗi nội dung nghiên cứu sử dụng một hoặc
kết hợp các phương pháp sau đây: nghiên cứu tài liệu, đánh giá nhanh nông
thôn RRA và PRA, phát phiếu theo dỏi, quan sát, đo đếm ngoài hiện trường,
điều tra thực địa bằng cách chọn cây tiêu chuẩn, khóm tiêu chuẩn. Cụ thể các
chỉ tiêu được thực hiện như sau:
* Đặc điểm khí hậu, điều kiện tự nhiện và dân sinh kinh tế
Kế thừa số liệu tại cuốn Chiến lược phát triển lâm nghiệp tỉnh Quảng
Trị giai đoạn 2005 - 2010 và định hướng phát triển đến năm 2020, thu thập
số liệu của Trạm Khí tượng Đông Hà - Quảng Trị. Căn cứ vào số liệu khí
tượng này so sánh với điều kiện thích nghi của loài tre Điềm trúc để xác định
mức độ thích nghi, khả năng phát triển và sự cần thiết của loài cây này trên địa
bàn tỉnh.
Điều tra đất: áp dụng phương pháp điều tra nhanh tại hiện trường để sơ
bộ xác định tính chất lý học và các chỉ tiêu cần thiết. Đào và mô tả 3 phẩu
diện đất tại 3 điểm chính thu thập số liệu (mẩu đặc trưng điểm nghiên cứu,
nằm ngoài điểm trồng cây), đưa đi phân tích thành phần hoá học tại Chi cục
đo lường chất lượng thuộc Sở KHCN Quảng Trị. Các đặc điểm của phẩu diện
đất được mô tả theo mẩu phiếu 2.1 tại Phụ lục 1.
* đặc điểm hình thái, sinh thái và sinh trưởng
- Vật hậu học
Theo dõi và quan sát tại một điểm nghiên cứu để quan sát các đặc điểm
về vật hậu học, quan sát cố định 5 búi tre, theo dõi 5 cây cố định (1cây/búi).
Chỉ tiêu này được mô tả tại mẩu phiếu 2.2 Phụ lục 1.
tiêu này. Số liệu được đo đếm giữa vụ măng (giai đoạn năng suất ổn định),
tiến hành đo 1 lần mối quan hệ giữa Doo tre và Doo măng theo biểu tương
quan 2.5 Phụ lục 1.
- Đặc điểm sinh thái tre Điểm trúc: căn cứ vào điều kiện gây trồng của
cây tre Điềm trúc, căn cứ vào điều kiện khí hậu tỉnh Quảng trị và căn cứ vào
đặc điểm vật hậu học, khả năng sinh trưởng của cây tre Điềm trúc từ đó xem
14
khả năng thích nghi của của cây tre Điềm trúc trên điều kiện vùng sinh thái
Quảng Trị.
* Các biện pháp kỹ thuật áp dụng trong kinh doanh trồng tre lấy măng
Điều tra phỏng vấn các hộ kinh doanh trồng tre lấy măng về các biện
pháp kỹ thuật áp dụng trong trồng và chăm sóc măng tre của gia đình, phát sổ
theo dõi xem xét về năng suất của các hộ khi áp dụng các biện pháp kỹ thuật
khác nhau. ảnh hưởng của việc áp dụng sai kỹ thuật chăm sóc và khai thác
làm búi tre bị nâng gốc ảnh hưởng đến năng suất như thế nào.
* Giá trị kinh tế và giá trị xã hội của cây tre Điềm trúc
Trên cơ sở sản lượng măng thu hoạch của các hộ kinh doanh, ta lấy một
con số khả thi nhất để tính hiệu quả kinh tế của măng tre Điềm trúc khi áp
dụng đúng theo qui trình kỹ thuật.
Theo các số liệu của Trung tâm Khuyến nông - Khuyến lâm, kết hợp
cùng số liệu thực tế của người dân đầu tư vào công việc của họ, tính ra định
suất đầu tư cho 1 ha từ khi trồng đến khi thu hoạch, công đầu tư chăm sóc và
thu hái măng, giá cả bán măng thực tế, từ đó tính hiệu quả kinh tế của việc
trồng tre lấy măng như thế nào. Tìm hiểu thêm về thị trường của loài măng
Điềm trúc này tại Quảng Trị để có hướng đề xuất sản xuất nâng cao giá trị.
Về hiệu quả xã hội: tìm hiểu việc giải quyết lao động việc làm nâng cao
đời sống cho người dân.
Hàm Parabon bậc 3(CUR):
Y= a + b1X + b2X2 + b3X3 (2.5)
Hàm Power (POW):
Y= B0XB1
(2.6)
Hàm Compound (COM):
Y= B0 * B1X
(2.7)
Hàm chữ S (S):
Y= exp(B0 + B1/X)
(2.8)
Ký hiệu:
(2.4)
Y là giá trị Doo măng (biến phụ thuộc)
X là giá trị Doo tre (biến độc lập)
Diện tích tự nhiên của Quảng Trị tuy không lớn so với các tỉnh vùng
Bắc Trung Bộ nhưng Quảng Trị có nhiều lợi thế về vị trí địa lý - kinh tế, thể
hiện qua những yếu tố sau:
. Trên địa bàn tỉnh có các tuyến giao thông huyết mạch chạy qua như:
Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường xuyên á (Quốc lộ 9) được coi là
hành lang kinh tế Đông Tây nối Việt Nam - Lào - Thái Lan - Mianma và các
nước khác trong khu vực, tuyến đường sắt Bắc - Nam, đường vận tải biển. Đây
là những yếu tố thuận lợi để Quảng Trị mở rộng giao lưu phát triển kinh tế văn hoá với các vùng kinh tế trong nước và khu vực các nước ASEAN.
. Quảng Trị có cửa khẩu quốc tế Lao Bảo, cửa khẩu quốc tế La Lay,
cảng biển Cửa Việt, ga đường sắt Đông Hà, Quảng Trị là một trong những đầu
mối lưu thông kinh tế - đời sống trong nước và Quốc tế.
. Quảng Trị có địa hình đa dạng (cả vùng đồi núi, đồng bằng và ven
biển), tài nguyên xã hội - nhân văn (cả vật thể và phi vật thể) khá phong phú
(do đây là vùng đất giao thoa, hội tụ của nhiều luồng văn hoá, chứng nhân của
nhiều sự kiện lịch sử dựng nước và giữ nước).
17
Có thể nói những lợi thế về vị trí địa lý của Quảng Trị sẽ là động lực thúc
đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, và gắn với an ninh quốc phòng.
3.2. Khí hậu
Khí hậu Quảng Trị mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Tuy nhiên, do vị trí địa lý và các đặc điểm về địa hình, khí hậu Quảng Trị có diễn
biến khá phức tạp, ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông lâm nghiệp.
Biểu 3.1. Tổng hợp tình hình khí tượng thủy văn từ 1995 - 2006
Tháng
Nhiệt độ
Tổng lượng
88,7
Tháng 4
26,2
60,1
174,6
85,1
Tháng 5
28,2
141,4
213,7
79,8
Tháng 6
30,0
62,3
226,0
85,5
Tháng 10
25,5
574,0
128,7
88,8
Tháng 11
23,1
491,4
101,0
87,8
Tháng 12
20,3
261,8
54,9
lượng mưa ít nhất, tổng lượng mưa trong thời kỳ này chỉ chiếm dưới 30% lượng
mưa năm. Tổng lượng mưa bình quân năm từ 2.300 - 2.700 mm ở vùng núi và
1.800-2.000 mm ở vùng đồng bằng. Tháng 10 có lượng mưa cao nhất thường đạt
trên 600 mm/tháng. Mưa tiểu mãn thường xảy ra từ ngày 15 đến ngày 30 tháng
5, lũ sớm xảy ra cuối tháng 8 đầu tháng 9.
* Chế độ gió
Quảng Trị là một trong những vùng chịu ảnh hưởng của 2 loại gió mùa
chính: Gió mùa Tây Nam (gió Lào) thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 8 với
tần suất xuất hiện từ 50 đến 60% và gió mùa Đông Bắc xuất hiện từ tháng 9 đến
tháng 2 năm sau, với tần suất xuất hiện từ 40 - 50%.
* Bão
Hàng năm mùa bão thường bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào cuối tháng
11. Do vị trí địa lý tiếp giáp với biển, bão thường xuất hiện với cường độ lớn,
kèm theo triều cường nên khả năng gây thiệt hại do bão đối với sự phát triển
nông lâm nghiệp và đời sống nhân dân thường rất lớn.
3.3. Tài nguyên đất đai
* Hiện trạng sử dụng đất
Theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường, hiện trạng sử
dụng đất phân theo mục đích sử dụng được thể hiện ở biểu 3.2.
19
Biểu 3.2. Hiện trạng sử dụng đất năm 2003
Các loại đất
Diện tích (ha)
Tổng diện tích tự nhiên
1. Đất nông nghiệp
(Nguồn: Chiến lược phát triển lâm nghiệp Q.Trị 2005 - 2010)
. Đất nông nghiệp: Toàn tỉnh có 73.848,6 ha đất sử dụng vào nông
nghiệp, chiếm 15,56% diện tích đất tự nhiên, bình quân hơn 1.200m2/người,
xấp xỉ bằng bình quân chung của cả nước cao hơn mức bình quân của vùng
Bắc Trung Bộ (360m2/người).
. Đất lâm nghiệp: Đất lâm nghiệp có rừng của tỉnh là 178.876 ha chiếm
37,69% diện tích tự nhiên của tỉnh, trong đó diện tích rừng tự nhiên là 110.365
ha và rừng trồng là 68.511 ha.
. Đất chuyên dùng: Diện tích 18.348,3 ha chiếm 3,87% tổng diện tích
đất tự nhiên.
. Đất ở: Đất ở của Quảng Trị có khoảng 3.591,76 ha bình quân mỗi hộ
là 280m2. Trong đất ở, đất đô thị chiếm 35,98% còn lại là đất ở nông thôn.
. Đất chưa sử dụng: Theo thống kê đất chưa sử dụng, sông suối núi đá
toàn tỉnh có hơn 199.909 ha, chiếm 42,12% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong
tổng số đất chưa sử dụng thì quỹ đất vùng cát ven biển và đồi núi chưa sử
dụng còn khoảng 170.000 ha.
3.4. Dân số, dân tộc và sự phân bố theo địa bàn
Dân số toàn Tỉnh năm 2003: 612.948 người; Trong đó dân cư sống ở
vùng nông thôn: 467.027 người (chiếm tỷ lệ 76,19% ), dân cư sống ở vùng thị
tứ 145.921 người (chiếm tỷ lệ 23,81%). Cơ cấu dân số nông thôn/ thành thị
thay đổi nhanh theo hướng giảm dân số sống tại vùng nông thôn. Năm 1990:
20
Dân số nông thôn chiếm 84,47%, thành thị: 15,53%: Năm 1995: Dân số nông
thôn chiếm 79,28%, thành thị: 20,72%; Năm 2000: Dân số nông thôn chiếm
76,49%, thành thị: 23,51%).
Cơ cấu dân số: Nữ: 309.798 người (chiếm tỷ lệ 50,54%), Nam: 303.150
3.6. Tình hình thu nhập của dân cư
. Căn cứ vào số liệu thống kê và kết quả điều tra mẫu từ các Huyện, Thị
trong Tỉnh cho thấy, thu nhập bình quân đầu người khu vực thành thị đạt
khoảng 405.000 đồng/tháng, khu vực nông thôn khoảng 241.000 đồng/tháng.
Năm 2003 so với năm 1998 thu nhập bình quân đầu người khu vực thành thị
tăng 34,6%, khu vực nông thôn tăng 40,9%. Trong cơ cấu thu nhập của khu
vực nông thôn: thu từ các hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp - thuỷ sản
chiếm 75,9%, từ ngành nghề và xây dựng 8,6% và thu từ các ngành dịch vụ
15,5%.
. Mức thu nhập của dân cư nông thôn giữa các vùng trong tỉnh còn có sự
chênh lệch: Bình quân thu nhập đầu người của vùng đồng bằng đạt khoảng
257.000 đồng/tháng, vùng ven biển đạt khoảng 224.000 đồng/tháng, vùng núi
mới chỉ ở mức 140.000 đồng/tháng, đặc biệt những khu vực vùng sâu, vùng xa
chỉ đạt từ 54.000 - 77.000 đồng/tháng.
. Hiện nay tỷ lệ hộ nghèo bình quân toàn Tỉnh còn khoảng 15,7% (theo
tiêu chí mới), riêng đối với các huyện miền núi tỷ lệ này còn tới 29,3% (trong
đó số hộ đói chiếm gần 2%).
Nhìn chung thu nhập - đời sống của dân cư trong Tỉnh đã có những cải
thiện đáng kể, tỷ lệ hộ đói nghèo có xu hướng giảm dần. Tuy nhiên ở những
vùng sâu, vùng xa (các xã đặc biệt khó khăn) thì cuộc sống của nhiều người
dân còn rất khó khăn.
3.7. Tập quán sản xuất, canh tác
. Vùng núi và gò đồi: Sản xuất nông nghiệp phần lớn còn theo phương
thức quảng canh, trình độ canh tác lạc hậu, chủ yếu dựa vào tự nhiên nên hiện
đang ở trong tình trạng không an toàn về lương thực, số hộ nghèo đói chiếm tỷ lệ
lớn.
22
4 ha, cây tre là 1 trong các loài cây con bố trí trong trang trại chiếm diện tích
2.000 m2.
- Kết quả đào phẩu diện và phân tích đất được thể hiện tại biểu 3.3:
Mẫu phẩu diện này chúng tôi lấy tại điểm bố trí mô hình, nhưng nằm ngoài
mô hình trồng tre.
Biểu 3.3. Mô tả phẩu diện và kết quả phân tích đất
Tên
phẩu
diện
Cam
Độ
sâu
tầng
đất
(cm)
1-5
Màu
sắc
Tỷ lệ
đá lẫn
(%)
Thành
phần
cơ
giới
0,14
3,62
4,20
0,58
2,02
0,00
2,41
4,90
0,93
1,95
9,78
4,22
4,30
0,56
2,18
1-5
Vàng
Thịt
nhẹ
0
nâu
Vĩnh
Thịt
Thịt
nhẹ
0
Thịt tb
4,30
0,64
2,27
0,33
cần cải tạo độ chua đất bằng kỹ thuật bón vôi, khi trồng cây bón thêm các loại
phân chuồng và phân NPK cho cây hấp thu.