VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Nguyễn Mạnh Tưởng
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
Ở HUYỆN GIA LÂM (THÀNH PHỐ HÀ NỘI)
TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2010
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số
: 62220313
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội, 2017
Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học xã hội
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Nguyễn Văn Nhật
2. TS. Nguyễn Trọng Nghĩa
Phản biện 1: PGS.TS. Trần Đức Cường
Phản biện 2:PGS.TS. Vũ Quang Hiển
Phản biện 3: TS. Trần Văn Thức
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án
cấp Học viện, tại Học viện Khoa học xã hội,vào
chung và kinh tế tư nhân (KTTN) nói riêng đã phát triển không ngừng
và ngày càng khẳng định được vai trò, vị trí đóng góp vào sự phát triển
kinh tế của đất nước, có được kết quả đó phải nói tới KTTN của Thành
phố Hà Nội trong đó có KTTN của huyện Gia Lâm. KTTN của Thành
phố Hà Nội cũng như huyện Gia Lâm đã ngày càng phát triển cả về số
lượng và quy mô, đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của địa phương.
Chính vì vậy, nghiên cứu về KTTN của đất nước nói chung và KTTN
trên địa bàn huyện Gia Lâm nói riêng, không chỉ nhằm làm rõ thêm vai
trò, vị trí của KTTN trong bản đồ kinh tế địa phương mà đây còn là một
vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt để tháo gỡ khó khăn thúc đẩy KTTN
của đất nước tiếp tục phát triển hơn nữa.
Thông qua việc nghiên cứu về KTTN của huyện Gia Lâm sẽ góp phần
cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn mang tính tham khảo để chính quyền
và nhân dân địa phương tiếp tục phát triển KTTN một cách hiệu quả để
KTTN thực sự trở thành một trong những động lực quan trọng của nền
kinh tế. Với ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn như vậy, chúng tôi quyết
định chọn đề tài: “Quá trình phát triển kinh tế tư nhân ở huyện Gia
Lâm (thành phố Hà Nội) từ năm 1986 đến năm 2010” làm đề tài luận
án tiến sỹ của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu, tái hiện và làm sáng rõ quá trình phát
triển KTTN, những thành tựu, hạn chế và một số bài học kinh nghiệm phát
triển KTTN ở huyện Gia Lâm, góp phần vào nghiên cứu lịch sử kinh tế địa
phương, cung cấp những luận cứ khoa học cho việc xác định nhiệm vụ phát
triển KTTN của Gia Lâm trong hiện tại và tương lai.
1
Gia Lâm với 22 xã, thị trấn.
2
4. Cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
4.1. Cơ sở lý thuyết
Quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả dựa trên cơ sở lý luận của Chủ
nghĩa Mác- Lênin, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng
Hồ Chí Minh về xây dựng nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử và phương pháp
logic là chủ đạo, đồng thời kết hợp phương pháp nghiên cứu liên ngành,
đa ngành như: kinh tế học, chính trị học, xã hội học, thống kê, so
sánh.v.v… Ngoài ra, tác giả luận án còn tiến hành phương pháp khảo
sát, điều tra thực tế một số doanh nghiệp và HCT làm KTTN giỏi tiêu
biểu trên địa bàn trong giai đoạn hiện tại.
4.3. Nguồn tài liệu
Các văn kiện của Đảng, Nhà nước Việt Nam về phát triển kinh tế nói
chung và KTTN nói riêng.
Chủ trương, chính sách, kế hoạch về phát triển KTTN của Đảng bộ,
chính quyền Thành phố Hà Nội và của huyện Gia Lâm.
Các sách, báo, tạp chí, luận văn, luận án liên quan đến KTTN ở Việt
Nam nói chung và Gia Lâm nói riêng.
Nguồn tài liệu điều tra, khảo sát thực tế về KTTN trên địa bàn huyện
Gia Lâm của tác giả.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Luận án góp phần luận giải quá trình phát triển KTTN ở Gia Lâm
trong nền KTTT định hướng XHCN hiện nay ở Việt Nam.
Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan
Gia Lâm từ năm 1986 đến năm 2010
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về kinh tế tư nhân
1.1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến kinh tế tư nhân
KTTN là một vấn đề vừa mang tính lịch sử vừa mang tính thời sự sâu
sắc ở Việt Nam, do đó đã có nhiều tác giả, nhiều bài viết, sách, báo, tạp
chí, luận án nghiên cứu về KTTN, đáng chú ý là: “Các thành phần kinh
tế và xu hướng vận động trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần”
4
của tác giả Đỗ Thế Tùng đăng trên Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 4 năm
1992. “Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân - lý luận và
chính sách” của tác giả Hà Huy Thành(Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2002). “Kinh tế tư nhân ở Việt Nam, thực trạng và cách tiếp cận” của
tác giả Đỗ Đức Định (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2005). “Một số vấn
đề về kinh tế - xã hội sau 20 năm đổi mới ở Việt Nam (Dự án hỗ trợ tổng
kết 20 năm đổi mới ở Việt Nam” của tác giả Đinh Văn Ân và Nguyễn
Đình Tài (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007). “Sở hữu tư nhân và
kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay, một số nhận thức về lý luận và thực
tiễn” của tác giả Lương Minh Cừ và Vũ Văn Thư (Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2011). “Quá trình phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu từ năm 1991 đến năm 2010”, Luận án tiến sĩ Lịch sử của tác
giả Nguyễn Huy Phương (Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, 2016).
“Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về kinh tế tư
nhân từ năm 1986 đến năm 2005” của tác giả Phạm Thị Lương Diệu
(Nxb đại học quốc gia Hà Nội, 2016).
phát triển KTTN trên địa bàn Hà Nội trong đó có huyện Gia Lâm, từ đó
đưa ra các giải pháp thúc đẩy KTTN trên địa bàn ngày một phát triển.
Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập cụ thể đến quá
trình phát triển KTTN ở một quận, huyện của Thành phố Hà Nội.
1.2. Kết quả đạt được của các công trình đi trước và những vấn đề
luận án cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết
1.2.1. Kết quả đạt được của các công trình đi trước
Các công trình nghiên cứu đi trước đã cung cấp cho tác giả của luận án
những căn cứ lý luận và khoa học của Đảng và Nhà nước về KTTN.
Các tác giả đi trước đã chỉ rõ bộ phận cấu thành KTTN bao gồm: Kinh
tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân, mối quan hệ giữa các bộ
phận cấu thành và sự chuyển biến của HCT và các loại hình doanh
nghiệp của tư nhân.
Các công trình nghiên cứu trên cũng cho thấy sự tồn tại và phát triển
KTTN ở Việt Nam có mối quan hệ, gắt kết chặt chẽ với đường lối của
Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước từ khi đổi mới đến nay.
Tuy nhiên, những công trình trên chưa đề cập đến một số nội dung
sau:
6
Các công trình trên chưa tập trung đi sâu nghiên cứu và làm rõ những
yếu tố tác động đến sự phát triển KTTN trên địa bàn huyện Gia Lâm từ
năm 1986 đến năm 2010.
Cũng như chưa làm rõ những thành tựu, hạn chế và rút ra một số bài
học kinh nghiệm phát triển KTTN trên địa bàn huyện Gia Lâm giai đoạn
1986 - 2010.
Các công trình trên cũng chưa thống kê, so sánh và đánh giá về sự phát
triển KTTN của Gia Lâm, cũng như chưa so sánh với các quận huyện
tư nhân
KTTN là loại hình kinh tế dựa trên sở hữu chủ yếu của tư nhân về tư
liệu sản xuất, trong đó các chủ thể của nó tự tiến hành sản xuất, kinh
doanh vì lợi ích trực tiếp của cá nhân dù có thuê hay không thuê mướn
lao động.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4-2001) và Hội
nghị Ban Chấp hành Trung ương 5 khóa IX (3-2002) thể hiện rõ hơn
khái niệm KTTN: KTTN bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư
bản tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại
hình doanh nghiệp của tư nhân.
2.1.3. Thực trạng kinh tế tư nhân Gia Lâm trước năm 1986
2.1.3.1. Kinh tế tư nhân trong nông nghiệp
Trước đổi mới, Đảng và Nhà nước chưa đồng tình trong việc cho phép
KTTN tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, ngày 13-1-1981 Ban Bí thư
Trung ương Đảng ra chỉ thị số 100-CT/TW về “Cải tiến công tác khoán,
mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong
hợp tác xã nông nghiệp”, tạo động lực cởi chói cho KTTN phát triển.
Thực hiện chỉ thị 100, người nông dân cả nước nói chung và nông dân
Gia Lâm nói riêng đã tích cực hơn trong lao động sản xuất. KTTN trong
8
lĩnh vực nông nghiệp của Gia Lâm đã từng bước hình thành theo mô
hình kinh tế hộ gia đình VAC (Vườn - Ao - Chuồng).
2.1.3.2. Kinh tế tư nhân trong công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (1979) cho
phép sản xuất “bung ra” và ngày 21-1-1981 Chính phủ ban hành Nghị
định số 25/CP, 26/CP. Huyện Gia Lâm đã thành lập liên xã thủ công
ngành gốm sứ Gia Lâm có trụ sở tại xã Bát Tràng để tổ chức, hướng dẫn,
bò thịt, lợn nạc, gà, thủy sản đã ra đời. Chăn nuôi bò sữa tại xã Phù
Đổng, Dương Hà, Trung Màu; lợn nạc ở Văn Đức, Yên Thường,
Thượng Thanh, Việt Hưng, Giang Biên, Ngọc Thụy; chăn nuôi bò thịt
ởLệ Chi, chăn nuôi gà ở Phú Thụy; chăn nuôi thủy sản ở các xã ven sông
Hồng, sông Đuống… đã đem lại hiệu quả kinh tế cao cho các hộ gia
đình. Đến năm 2002, đàn trâu, bò có 7.582 con, trong đó đàn bò sữa
1.720 con, sản lượng sữa cả năm 2.517 tấn tăng 222 tấn so với cùng kỳ
năm 2001, sản lượng thịt trâu bò giết mổ đạt 430 tấn. Cuối năm 2003, số
hộ chăn nuôi bò sữa là 687 hộ tăng 51 hộ so với năm 2002. Đàn lợn có
90.750 con tăng 16%, trong đó lợn nạc có 32.520, lợn nái có 1.270 con,
sản lượng thịt hơi giết mổ đạt 9.702 tấn, tổng số hộ chăn nuôi 30.245 hộ.
- Kinh tế tư nhân trong dịch vụ khuyến nông
Thời kỳ này, ngoài HTX còn có các tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ
vật tư, kỹ thuật cho các hộ gia đình như thú y, làm đất, cắt lúa bằng máy,
phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây… Ngoài ra, một số doanh nghiệp sản
xuất thức ăn chăn nuôi đã cung cấp thức ăn đến tận cửa chuồng, trại và
tập huấn kỹ thuật chăn nuôi cho các hộ gia đình và các trang trại chăn
nuôi nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển chăn nuôi trên địa bàn
huyện. Tính đến cuối năm 2003 số HCT làm dịch vụ nông nghiệp là
4.134 hộ, số doanh nghiệp là 110 doanh nghiệp.
2.2.2. Kinh tế tư nhân trong công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
KTTN phát triển tại các làng nghề Bát Tràng, Ninh Hiệp, Kiêu Kỵ đã
được phục hồi và phát triển với nhiều sản phẩm nổi tiếng như: Gốm sứ,
làm quỳ vàng bạc, may da, thuốc Nam, thuốc Bắc.v.v…
Ngoài ra, trên địa bàn huyện phát triển phong phú, đa dạng, nhiều
chủng loại sản phẩm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp như: Đúc
gang, lốp xe đạp, sứ dân dụng, thêu, dệt vải, may da, thảm len… Một số
mặt hàng mới đã được sản xuất như sứ cách điện, bếp điện, máy tuốt lúa,
quạt trần, kali clorat phục vụ tiêu dùng trong nước.
số hạn chế như quy mô còn nhỏ lẻ, hàm lượng chất xám thấp, năng lực
cạnh tranh chưa cao, luôn bị động về thị trường.v.v..
11
Chương 3
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
Ở HUYỆN GIA LÂM TỪ NĂM 2004 ĐẾN NĂM 2010
3.1. Bối cảnh lịch sử
Thực hiện Nghị định số 132/2003/NĐ-CP về điều chỉnh địa giới hành
chính, chia huyện Gia Lâm thành 2 đơn vị hành chính đó là quận Long
Biên và huyện Gia Lâm.
Sau khi chia tách địa giới hành chính, huyện Gia Lâm phải đối mặt với
nhiều khó khăn thử thách lớn, các doanh nghiệp của tư nhân và HCT lớn
đều nằm trên địa bàn quận Long Biên, để lại cho Gia Lâm chủ yếu là
nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp là chính.
3.2. Quá trình phát triển kinh tế tư nhân trong nông nghiệp
3.2.1. Kinh tế tư nhân trong trồng trọt
Đối với trồng lúa chất lượng cao: Giai đoạn 2004 - 2010, cây lúa vẫn
được coi là cây trồng chủ lực của địa phương của hầu hết các hộ gia
đình. Chính vì vậy, Gia Lâm đã tiến hành quy hoạch 3 vùng trồng lúa
chất lượng cao như: Vùng 1 (Bắc Đuống) Yên Thường, Phù Đổng,
Trung Mầu, Ninh Hiệp, Đình Xuyên, Dương Hà, Yên Viên; vùng 2
(Trung Tâm) Đa Tốn, Kiêu Kỵ, Dương Xá, thị trấn Trâu Quỳ; vùng 3
(các xã Nam Đuống) Cổ Bi, Đặng Xá, Dương Quang, Kim Sơn, Lệ Chi.
Năm 2004 có 35.017 HCT đến năm 2010 giảm còn 27.908 HCT trồng
lúa kết hợp với trồng các loại cây hoa màu khác.
Trồng rau: Sản xuất rau an toàn ngày càng được nhân dân trong huyện
chú trọng phát triển. Chủng loại sản xuất rau trên địa bàn huyện rất đa
năm 2010.
Chăn nuôi gia cầm: Chăn nuôi gia cầm là lĩnh vực cũng được người
dân Gia Lâm đặc biệt quan tâm, các HCT thường sử dụng các giống gia
cầm có chất lượng cao như gà siêu thịt, siêu trứng, giống ngan Pháp, gà
Tam Hoàng, gà Nương Phượng Hoa (Trung Quốc), vịt siêu thịt… Tính
đến năm 2010, tổng đàn gia cầm, thủy cầm đạt 291.986 con, số hộ chăn
nuôi 6.531 hộ, trong đó gà 172.683 con, vịt ngan 119.303 con.
3.2.3. Kinh tế tư nhân trong dịch vụ
Khuyến nông: Giai đoạn 2004 - 2010, KTTN phát triển với nhiều hình
thức như: Làm đất, bán vật tư nông nghiệp (thuốc sâu, thuốc trừ cỏ, phân
bón, giống…).
13
Về tiêu thụ sản phẩm sữa: Trên địa bàn huyện có 15 trạm thu gom tư
nhân tiêu thụ sữa cho nông dân tại các vùng chăn nuôi bò sữa (Dương
Hà là 03, Phù Đổng là 08, Trung Mầu là 02, Phú Thị là 01, Đặng Xá là
01), bình quân một ngày thu gom từ 13 - 15 tấn sữa trên toàn địa bàn
huyện.
Tiêu thụ rau: Tại xã Văn Đức có công ty TNHH Hương Canh, công ty
TNHH Phương Đông, công ty Hoàng Phương 1 và một số cửa hàng trên
địa bàn tiêu thụ 500 - 700 tấn/năm.
3.3. Quá trình phát triển kinh tế tư nhân trong công nghiệp và tiểu
thủ công nghiệp
3.3.1. Kinh tế tư nhân trong công nghiệp
Đối với cụm công nghiệp Phú Thị: Thu hút 14 doanh nghiệp đã đi vào
sản xuất kinh doanh bước đầu có kết quả và ổn định.
Cụm công nghiệp Ninh Hiệp: Hiện có 28 doanh nghiệp đầu tư vào cụm
công nghiệp trong đó 12 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động sản xuất.
Nhiều siêu thị của tư nhân xây dựng hệ thống siêu thị ở những khu dân
cư đông đúc, nhằm thúc đẩy thương mại huyện phát triển, tiêu biểu có
siêu thị Ladoda tại ngã tư phố Cậy xã Kiêu Kỵ, đơn vị đầu tư công ty cổ
phần Ladoda. Trung tâm thương mại xã Ninh Hiệp chuyên doanh vải,
may mặc của công ty TNHH Sơn Long và Phú Điền. Đặc biệt, siêu thị
chợ Sủi 4 tầng khang trang, hiện đại đã từng bước đặt nền móng cho
hoạt động của siêu thị tư nhân trên địa bàn huyện.
3.4.2. Kinh tế tư nhân trong dịch vụ
3.4.2.1. Du lịch sinh thái và du lịch làng nghề
Du lịch sinh thái và du lịch làng nghề được lựa chọn là ngành dịch vụ
quan trọng và có triển vọng phát triển của địa phương, phát triển mạnh ở
Bát Tràng, Kiêu Kỵ và Ninh Hiệp.
Ngoài ra, trên địa bàn huyện Gia Lâm có nhiều di tích lịch sử, văn hóa
như chùa Bà Tấm, đền thờ Thánh Gióng, đền thờ Chủ Đồng Tử… đã
góp phần thu hút nhiều du khách thập phương đến tham quan vãn cảnh
và du lịch tâm linh, với tiềm năng như vậy nhưng chưa được các doanh
nghiệp tư nhân khai thác, phát triển mạnh.
3.4.2.2. Dịch vụ vận tải
KTTN trong lĩnh vực dịch vụ vận tải của Gia Lâm tập trung ở HCT
chiếm tỷ lệ lớn (1.546 cơ sở), công ty TNHH (57 cơ sở) và công ty cổ
phần (40 cơ sở), phát triển mạnh ở các xã, thị trấn có đường giao thông
15
thuận lợi và các xã có làng nghề đã góp phần thúc đẩy giao thương và đi
lại của nhân dân.
3.4.2.3. Dịch vụ kinh doanh tư nhân khác
Ngoài những lĩnh vực trên, KTTN của Gia Lâm còn phát triển nhiều
ngành nghề khác như sửa chữa, giáo dục, tư vấn, làm đẹp, khám chữa
hộ chăn nuôi lợn 3.456 hộ, số hộ trồng rau sạch 2.631 hộ, có 512 trang
trại tổng hợp.
Trong công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Thực hiện chủ trương đổi
mới của Đảng, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ.
Năm 1995, có 30 công ty TNHH, 8 công ty tư nhân, 12 HTX cổ phần.
Trong 3 năm 2001- 2003, có 800 doanh nghiệp, trong đó có 90 công ty
cổ phần, 558 công ty TNHH, 122 doanh nghiệp tư nhân được thành lập.
Đến năm 2010, số cơ sở công nghiệp tư nhân đạt 2.455 cơ sở (công ty
TNHH 176, công ty cổ phần 65, DNTN 7, HCT 2.207), giá trị đem lại
111.950.487 tỷ đồng và 3.017 hộ thủ công nghiệp.
Trong thương mại và dịch vụ: Năm 1996 có 7.177 hộ với 8.325 lao
động, năm 2003 có 5.700 hộ với 6.700 lao động. Tính đến năm 2010,
Gia Lâm có 11.345 hộ làm thương mại và dịch vụ, 1.459 công ty tư
nhân, 20 chợ dân sinh, 13 siêu thị và trung tâm thương mại trên địa bàn.
4.1.2. Kinh tế tư nhân góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa
bàn huyện
KTTN đã đóng góp tích cực vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa
bàn. Năm 1990 giá trị sản xuất nông nghiệp chiếm 72,5%, công nghiệp
17
và tiểu thủ công nghiệp 27,5% trong cơ cấu kinh tế huyện. Năm 1995,
nông nghiệp 37,64%, công nghiệp 38,84%, thương mại dịch vụ 23,52%.
Năm 2000, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh, nông nghiệp 27,75%, công
nghiệp 41,8%, thương mại dịch vụ 30,45%). Năm 2010, cơ cấu kinh tế
của Gia Lâm tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công
nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp (công nghiệp chiếm 54,30%, dịch vụ
chiếm 29,00%, nông nghiệp chiếm 16,70%).
4.1.3. Kinh tế tư nhân ngày càng chiếm vị trí, vai trò quan trọng
cao thu nhập cho người lao động
KTTN của Gia Lâm đã góp phần rất lớn vào giải quyết việc làm cho
người lao động trên địa bàn. Năm 1995, KTTN đã giải quyết việc làm
cho trên 5.000 lao động trong độ tuổi. Trong 5 năm (1996 - 2000),
KTTN đã giải quyết được 22.000 lao động có việc làm ổn định. Trong 3
năm (2001 - 2003), KTTN đã giải quyết việc làm cho hơn 28.000 lao
động, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn, đưa số hộ giàu tăng lên
40%. Năm 2005, KTTN đã giải quyết việc làm mới cho 37.960 việc làm,
trong đó số lao động có việc làm ổn định chiếm 37%. Trong 4 năm
(2006 - 2010), KTTN đã giải quyết được việc làm cho 31.948 lượt
người.
KTTN đã góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động. Năm 2003
thu nhập bình quân của khu vực KTTN đạt 1,75 triệu đồng, năm 2010
đạt 4,1 triệu đồng. Thu nhập bình quân của người dân trên địa bàn năm
1991 đạt 890 nghìn đồng, năm 2010 đạt 32,7 triệu đồng/năm.
4.1.6. Kinh tế tư nhân góp phần tích cực vào các hoạt động xã hội
của địa phương
Đóng góp vào các hoạt động xã hội là trách nhiệm của mỗi người dân,
doanh nghiệp trên địa bàn, trong đó có KTTN. Các doanh nghiệp của tư
nhân đã quan tâm chăm lo, thường xuyên thăm hỏi, tặng quà cho các gia
đình thương binh liệt sĩ nhân ngày lễ tết, ngày 27-7, vận động quỹ đền
ơn đáp nghĩa, ngày “Vì người nghèo”… trong giai đoạn 1995 - 2010 các
cơ sở KTTN đã đóng góp tổng số tiền 104 tỷ đồng.
Ngoài ra, KTTN trên địa bàn đã kết hợp chặt chẽ với UBND huyện
làm tốt công tác xóa đói, giảm nghèo đóng góp trên 2 tỷ đồng, hỗ trợ xây
108 nhà “Đại đoàn kết”, trị giá mỗi căn nhà 13 triệu đồng, tặng 13 số tiết
kiệm, mỗi sổ 500.000 đồng cho các hộ nghèo.
19
đơn. Nhiều doanh nghiệp, công ty tư nhân không thực hiện thường
xuyên chế độ báo cáo tài chính, kê khai nộp thuế… Theo kết quả khảo
sát có đến 81% các chủ cơ sở không chấp hành đúng chính sách của
20
pháp luật, chỉ có 19% các chủ cơ sở chấp hành đúng chính sách của pháp
luật.
4.2.5. Chưa quan tâm đến việc bảo vệ môi trường
Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề gốm sứ Bát Tràng, Giang Cao,
chế biến hành tỏi Thuận Quang (Dương Xá), may da, dát vàng Kiêu Kỵ,
chế biến thuốc Nam Ninh Giang (Ninh Hiệp), trong chăn nuôi bò sữa, bò
thịt ở Phù Đổng, Lệ Chi, chăn nuôi lợn nạc ở Văn Đức, Dương Quang,
Kim Sơn… ngày càng trở nên nghiêm trọng và rất khó giải quyết triệt
để. Vì thực tế các cơ sở này chưa áp dụng triệt để các biện pháp bảo vệ
môi trường, đồng thời sự quản lý của các cơ quan chuyên môn còn lỏng
lẻo.
4.2.6. Năng lực quản lý và tay nghề người lao động chưa cao
KTTN của cả nước nói chung và Gia Lâm nói riêng trình độ và kỹ
năng quản lý còn yếu, không thu hút được lao động có tay nghề cao
được đào tạo bài bản. Nhiều doanh nghiệp kinh doanh không có chiến
lược, mang nặng tính “chụp giật” kinh doanh không ổn định nên rất khó
thu hút lao động có tay nghề cao vào làm việc lâu dài. Có đến 107/198
chủ cơ sở tốt nghiệp trung học phổ thông và 16/198 chủ cơ sở tốt nghiệp
trung học cơ sở, còn lại 75/198 cơ sở tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp
trở lên
4.3. Một số bài học kinh nghiệm chủ yếu
4.3.1. Đảng bộ và chính quyền huyện Gia Lâm cần tiếp tục tạo điều
kiện để kinh tế tư nhân phát triển phù hợp với đặc thù địa phương
4.3.4. Giải quyết tốt vấn đề vốn, mặt bằng và khoa học công nghệ
UBND huyện Gia Lâm cần kết hợp với ngân hàng Nông nghiệp và
phát triển nông thôn Việt Nam, ngân hàng chính sách xã hội, quỹ tín
dụng và các ngân hàng thương mại hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn một
cách uyển chuyển, kịp thời.
UBND huyện cần đẩy mạnh triển triển khai xây dựng các cụm, khu
công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn cũng như quy hoạch các trung tâm
thương mại để khuyến khích KTTN đầu tư phát triển, khắc phục tình
trạng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn còn mang tính
manh mún, nhỏ lẻ.
Thành phố Hà Nội và UBND huyện Gia Lâm cần hỗ trợ kinh phí hoặc
trợ giá một phần cho việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ cho
KTTN hoặc là miễn, giảm thuế cho các doanh nghiệp ứng dụng khoa
học công nghệ tiên tiến vào sản xuất kinh doanh.
22