Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học nông nghiệp Hà nội
BI TH HNG HI
Luận văn
tốt nghiệp đại học
Đề tài:
Hiu qu kinh t v kh nng phỏt trin chn nuụi
bũ tht Huyn Súc Sn Thnh ph H Ni
Giáo viên hớng dẫn :ts. DƯƠNG VĂN HIểU
Chuyên ngành :Kinh tế nông nghiệp
H NI, 2008
LỜI CẢM ƠN
Trước hết cho cá nhân tôi được gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thầy cô
giáo trường Đại học Nông nghiệp I, các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và
Phát triển nông thôn đã trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản và có định
hướng đúng đắn trong học tập cũng như trong tu dưỡng đạo đức.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo TS. Dương
Văn Hiểu, bộ môn Phát triển nông thôn, khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn
đã giành nhiều thời gian trực tiếp chỉ bảo tận tình, hướng dẫn tôi hoàn thành
báo cáo tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các cô chú, anh chị
trong UBND Huyện Sóc Sơn – TP. Hà Nội nói chung và Phòng Kế hoạch
Kinh tế & Phát triển nông thôn nói riêng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp
đỡ tôi trong quá trình thực tập tại địa phương.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ tôi trong thời gian
học tập và thực tập tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2008
Sinh viên
Bùi Thị Hồng Hải
Chăn nuôi, trong thời gian tới, khả năng cung cấp thịt bò vẫn chưa đáp ứng nhu
cầu. Do vậy, cơ hội cho phát triển chăn nuôi bò thịt của nước ta để đáp ứng cho
nhu cầu tiêu thụ trong nước hiện nay và trong thời gian tới là rất lớn. Cả nước
cần đẩy nhanh tốc độ phát triển đàn bò sinh sản theo hướng chuyên thịt, có như
vây mới có thể giảm áp lực cạnh tranh trong tình hình mới.
Huyện Sóc Sơn là một huyện ngoại thành Hà Nội có vị trí địa lý, điều
kiện khí hậu và những điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho phát triển đàn gia
súc, gia cầm, đặc biệt thích hợp cho việc chăn thả các đàn gia súc lớn. Nhân
dân cần cù lao động, có tập quán chăn nuôi từ lâu đời nên chăn nuôi bò thịt ở
- 1 -
Sóc Sơn khá phát triển. Bên cạnh những thuận lợi đó chăn nuôi bò thịt ở Sóc
Sơn còn gặp phải một số khó khăn như:
Việc chăn nuôi bò thịt hiện nay ở các hộ gia đình nông thôn vẫn chủ yếu
mang tính tự phát là chính, chưa có tính quy hoạch, định hướng về lâu dài.
Hầu hết các địa phương đều chăn nuôi theo hình thức hộ gia đình. Quy
mô và phương thức chăn nuôi quảng canh nhỏ lẻ, chưa tạo được các vùng
chăn nuôi tập trung, chưa có khối lượng sản phẩm lớn.
Quá trình cải tạo đàn bò trên địa bàn huyện còn ở tốc độ chậm, chưa
phát huy hết tiềm năng lợi thế sẵn có của vùng. Công tác cải tạo giống, chăm
sóc nuôi dưỡng, quản lý, công tác thú y chưa được quan tâm đúng mức.
Việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, lai tạo, chăm sóc, nuôi
dưỡng chưa được triển khai hiệu quả dẫn đến số lượng đàn bò thịt tăng khá
nhưng năng suất, chất lượng đàn bò thịt chưa cao.
Nguồn lợi phụ phẩm công, nông nghiệp khá dồi dào nhưng chưa biết
tận dụng triệt để không những lãng phí mà còn gây ô nhiễm môi trường.
Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Hiệu
quả kinh tế và khả năng phát triển chăn nuôi bò thịt ở Huyện Sóc Sơn –
Thành phố Hà Nội”
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
- 3 -
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế
2.1.1.1. Khái niệm
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của
các hoạt động kinh tế. Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội là
đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, khi
nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng trở nên khan hiếm, nên việc nâng cao
hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội.
Ngày nay, việc sử dụng có hiệu quả cao các nguồn tài nguyên của sản
xuất để đảm bảo cho việc phát triển một nền nông nghiệp bền vững là xu thế
tất yếu đối với các nước trên thế giới.
Khái niệm về HQKT đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu bàn đến.
Tuy nhiên hầu hết đều thống nhất cần phải phân biệt rõ 3 khái niệm cơ bản về
hiệu quả: hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency), hiệu quả phân bổ các
nguồn lực (Allocative Efficiency) và hiệu quả kinh tế (Economic Efficiency).
Hiệu quả kỹ thuật: là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một đơn
vị chi phí đầu vào hay nguồn lực sử dụng và sản xuất trong điều kiện cụ thể
về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp. Hiệu quả này thường
được phản ánh trong quan hệ các hàm sản xuất. Hiệu quả kỹ thuật phụ thuộc
vào bản chất kỹ thuật và công nghệ áp dụng vào sản xuất nông nghiệp, kỹ
năng người sản xuất cũng như môi trường kinh tế xã hội khác mà trong đó kỹ
thuật được áp dụng.
Hiệu quả phân bổ: là chỉ tiêu hiệu quả trong đó các yếu tố giá sản
phẩm và giá đầu vào được tính đến để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên
một đơn vị chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực. Việc xác định hiệu quả
này giống như xác định các điều kiện về lý thuyết biên để tối đa hóa lợi
- 4 -
Như vậy, các quan điểm về HQKT đều thống nhất bản chất của nó là
muốn thu được kết quả phải bỏ ra chi phí nhất định về vật tư, vốn, lao động.
So sánh kết quả sản xuất với chi phí đầu tư để có được kết quả đó sẽ có được
HQKT. Chênh lệch này càng cao thì HQKT đạt được càng lớn. Trong điều
kiện tài nguyên khan hiếm thì tiêu chuẩn của hiệu quả là cực đại lợi nhuận và
cực tiểu chi phí. Tuy nhiên kết quả thu được là rất phong phú và đa dạng có
thể đạt được mục tiêu kinh tế, có thể đạt được mục tiêu xã hội. Vì vậy có thể
khái quát chung: HQKT là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt
được với chi phí bỏ ra, biểu hiện thuần túy bằng những chỉ tiêu kinh tế như
giá trị tổng sản phẩm, thu nhập, lợi nhuận, tính trên lượng chi phí đầu tư.
Có nhiều ý kiến cho rằng khi đánh giá HQKT cần phải xem xét tới
HQKT trong mối tương quan với hiệu quả xã hội (HQXH) của tổng thể nền
kinh tế ở giai đoạn trước mắt và lâu dài vì HQKT và HQXH có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau. Cụ thể là khi đánh giá HQKT không thể loại bỏ những mục
tiêu về lợi ích của xã hội như nâng cao trình độ văn hóa - xã hội và đáp ứng
các nhu cầu xã hội ngày càng tốt hơn. Đó là quan điểm đúng và đủ trong mối
quan hệ giữa kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô, phù hợp với xu hướng phát triển
kinh tế hiện nay trên thế giới.
Ở nước ta, thực hiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần hoạt động
theo cơ chế thị trường, có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, do đó hoạt động
kinh tế của mỗi doanh nghiệp không chỉ nhằm vào tăng hiệu quả và các lợi
ích kinh tế của mình mà còn phải phù hợp với yêu cầu của xã hội và đảm bảo
các lợi ích chung, những định hướng, chuẩn mực được Nhà nước điều chỉnh.
Trong ngành nông nghiệp nước ta hiện nay, sản xuất của hộ nông dân
chủ yếu tập trung vào việc giải quyết các nhu cầu cơ bản cho cuộc sống hàng
ngày, ý nghĩa lợi nhuận để có tích lũy đối với hộ là quan trọng. Các doanh
nghiệp, các xí nghiệp quốc doanh tổ chức sản xuất với vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế nhiều thành phần rất chú trọng đến việc hạch toán nâng cao
HQKT để tăng tích lũy phục vụ cho tái sản xuất mở rộng.
- 6 -
Nông nghiệp, Công nghiệp trong lĩnh vực sản xuất vật chất. Trong Nông
nghiệp có các ngành như trồng trọt, ngành chăn nuôi và các ngành cụ thể như
cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp
- HQKT theo vùng, lãnh thổ được xem xét đối với từng vùng kinh tế -
tự nhiên và phạm vi lãnh thổ hành chính như vùng đồng bằng sông Hồng, hay
phạm vi tỉnh hoặc huyện.
- HQKT theo đơn vị sản xuất được tính toán cho các doanh nghiệp,
công ty, trang trại, hộ nông dân thuộc các thành phần kinh tế.
Mặt khác, trong sản xuất nông nghiệp có liên quan đến nhiều các yếu tố
như nguồn lao động, đất đai, vốn, công nghệ do đó nếu căn cứ vào các yếu
tố cơ bản của quá trình sản xuất và chiếu hướng tác động và sản xuất thì
HQKT còn có thể được tính và phân tích theo từng nguồn lực:
- Hiệu quả sử dụng đất.
- Hiệu quả sử dụng lao động.
- Hiệu quả sử dụng vốn.
- Hiệu quả sử dụng các yếu tố tài nguyên khác như: nguyên liệu,
- Hiệu quả của các biện pháp khoa học kỹ thuật và quản lý như hiệu
quả của các phương pháp canh tác, bón phân, phòng trừ dịch bệnh
Ngoài ra, tùy theo mục đích phân tích và đặc điểm của từng quá trình
sản xuất mà HQKT có thể được xem trong khoảng thời gian ngắn, dài khác
nhau như: theo vụ sản xuất, theo chu kỳ sản xuất, theo quý, theo năm
2.1.1.3. Bản chất của hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh mặt chất
lượng của các hoạt động kinh tế. Thực chất của HQKT là vấn đề nâng cao
hiệu quả sử dụng các nguồn lực sản xuất kinh doanh và tiết kiệm chi phí các
nguồn lực. Nói cách khác, bản chất của HQKT là nâng cao năng suất lao động
xã hội và tiết kiệm lao động xã hội.
Việc làm rõ bản chất của phạm trù HQKT cần phải phân định rõ sự khác
nhau nhưng lại có mối quan hệ khăng khít với nhau giữa kết quả và hiệu quả.
- 8 -
Q
C
H
=
Khi so sánh hiệu quả thì việc sử dụng số tương đối là cần thiết bởi nó
nói lên mặt chất lượng của hiện tượng. Cách tính này có ưu điểm là phản ánh
được mức độ sử dụng các nguồn lực, xem xét được một đơn vị nguồn lực
- 9 -
mang lại kết quả là bao nhiêu. Vì vậy nó giúp cho việc đánh giá HQKT của
các đơn vị sản xuất một cách rõ nét. Tuy nhiên, cách tính này cũng có nhược
điểm đó là chưa thể hiện được quy mô hiệu quả kinh tế vì trên thực tế những
quy mô khác nhau nhưng lại có hiệu suất sử dụng vốn là như nhau.
Trong thực tế khi đánh giá hiệu quả kinh tế người ta thường kết hợp
giữa công thức 1 và công thức 2 để chúng bổ sung cho nhau, qua đó sẽ đánh
giá được hiệu quả kinh tế một cách chính xác và toàn diện.
Công thức 3: H = ∆Q - ∆C
Trong đó: H: Hiệu quả kinh tế tăng thêm
∆Q: Kết quả tăng thêm
∆C: Chi phí tăng thêm
Chỉ tiêu này càng lớn thì hiệu quả càng cao. Công thức này thể hiện rõ
mức độ hiệu quả của đầu tư thêm và nó được dùng kết hợp với công thức 4 để
phản ánh toàn diện hiệu quả kinh tế hơn.
Công thức 4:
C
Q
H
∆
∆
=
hoặc ngược lại
lạnh, quá nóng, bệnh dịch và thiếu nước. Có những năm trâu bò đổ ngã lên tới
trên 20% tổng đàn tại một số tỉnh vùng núi phía Bắc hay Ninh Thuận ở miền
Trung. Trong cuộc sống tự nhiên khắc nghiệt như vậy chỉ những con bò có
khối lượng nhỏ mới có cơ hội tồn tại vì chúng cần ít dinh dưỡng hơn cho duy
trì sự sống. Quá trình thích nghi và chọn lọc tự nhiên này đã hình thành nên
giống trâu bò địa phương của ta nhỏ con, dễ nuôi, sinh ra để “cày ruộng”.
Sau ngày miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, chính sách ưu tiên phát
triển nông nghiệp của nhà nước đã coi trâu bò là tư liệu sản xuất (như là máy
cày). Nhiều chính sách đã ban hành nhằm duy trì và phát triển đàn trâu bò để
tạo nguồn sức kéo cho nông nghiệp. Việc giết mổ trâu bò là phạm pháp,
những con trâu bò già không còn khả năng cày kéo khi đổ ngã muốn giết thịt
cũng phải xin phép chính quyền địa phương. Sự kiện giết mổ chia thịt trâu bò
già thời đó là ngày vui hiếm hoi ở những vùng quê nghèo.
Từ năm 1995, đất nước bước vào giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại
hóa, trâu bò cũng đang được chuyển dần từ mục đích cày kéo sang mục đích
sản xuất thịt và sữa. Mặc dầu vậy, một nước chủ yếu là nông nghiệp như nước
- 11 -
ta, với người nông dân, con trâu, con bò vẫn giữ một vị trí quan trọng trong hệ
thống sản xuất nông nghiệp với những lợi ích như sau:
Thứ nhât, tăng sản phẩm thịt, sữa cho xã hội, do vậy mà giảm nhập
khẩu sữa bột, thịt đỏ (thịt trâu và bò). Khi nền kinh tế ngày càng phát triển,
mức sống của con người ngày càng được nâng lên. Trong điều kiện lao động
của nền kinh tế và trình độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá cao đòi hỏi cường
độ lao động và lao động trí óc ngày càng cao thì nhu cầu thực phẩm từ sản
phẩm động vật mà đặc biệt là thịt bò sẽ ngày càng chiếm tỷ lệ cao trong bữa
ăn hàng ngày của người dân. Chăn nuôi bò thịt sẽ đáp ứng được yêu cầu đó.
Nó cung cấp cho con người nguồn thực phẩm có dinh dưỡng cao từ đạm và
bảo đảm sự cân đối trong khẩu phần ăn.
Thứ hai, phát triển chăn nuôi bò thịt sẽ giúp tăng thu nhập từ bán bê
giống, bò thịt cho người chăn nuôi. Một con bê nuôi thịt sau 10 - 12 tháng cho
chưa phát triển bò được sử dụng làm sức kéo còn phổ biến, con bò được coi
như là một tài sản cố định và là đầu cơ nghiệp của nhà nông. Ngày nay, ở
nhiều nơi máy móc đã thay thế dần vai trò của con bò trong khâu làm đất, còn
bò đã trở thành một loại tài sản đặc biệt, một loại hàng hóa có giá trị của nông
dân và chăn nuôi bò thịt đã trở thành một ngành kinh tế sản xuất hàng hóa.
Sản xuất hàng hóa là một thuộc tính phổ biến, một tất yếu khách quan
của sự phát triển sản xuất nói chung và chăn nuôi bò thịt nói riêng. Các sản
phẩm của chăn nuôi bò thịt được tiêu thụ rộng khắp mọi nơi. Đã là một ngành
kinh tế sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước
như hiện nay thì tất yếu thị trường và giá cả sẽ có tác động trực tiếp và quyết
định đến ngành sản xuất này. Do đó, để phát triển chăn nuôi bò thịt cần phải
có thị trường tiêu thụ và giá cả ổn định.
Bò là loài gia súc ăn cỏ, trong cơ cấu khẩu phần ăn hàng ngày cỏ và
thức ăn thô xanh chiếm tới 90%, đó là những loại rẻ tiền, thậm chí không cần
phải mua nhưng lại có khẳ năng tăng trọng khá cao, sản xuất ra thịt bò – một
thứ hàng hóa đắt tiền.
- 13 -
Trong chăn nuôi bò thịt, có thể chọn nuôi những giống ngoại chuyên
dụng. Ưu diểm của các giống này là tốc độ sinh trưởng và tăng trọng lớn, tỷ lệ
thịt xẻ cao (trên 60%) và phẩm chất thịt ngon. Tuy nhiên, muốn nuôi được các
giống này phải đầu tư lớn, phải nắm bắt được các kỹ thuật chuẩn xác. Cũng
có thể dùng các giống bò lai (sử dụng bò đực giống hoặc tinh bò đực giống
thịt cho lai với bò cái địa phương đã qua chọn lọc), hoặc thậm chí bò địa
phương để nuôi thịt (nhất là trong điều điện chăn nuôi hộ). Điều quan trọng
là, phải có đầu tư, áp dụng các biện pháp kỹ thụât chăm sóc, nuôi dưỡng tiên
tiến, hợp lý; cần chia quá trình nuôi dưỡng theo từng giai đoạn: giai đoạn bú
sữa, giai đoạn nuôi lớn và giai đoạn vỗ béo. Mục tiêu cần đạt được là, làm sao
trong một thời gian nhất định, đạt khối lượng cao, bò có độ béo khá mà tiêu
tốn thức ăn cho một kilôgam tăng trọng ở mức thấp nhất.
* Giai đoạn nuôi lớn - từ 7 đến 21 tháng tuổi
lượng để giúp cho cơ thể tích luỹ mỡ nhanh và bò chóng béo. Tuỳ theo điều
kiện cụ thể của từng gia đình, mỗi ngày có thể cung cấp cho mỗi con bò vỗ
béo 1 - 2kg thức ăn tinh. Trong giai đoạn này cần hạn chế bê non vận động
bằng cách chăn thả gần chuồng để tập trung chất dinh dưỡng vào việc tích luỹ
mỡ và nâng cao độ béo.
Điểm mấu chốt trong kỹ thuật nuôi bò thịt là nuôi bê sơ sinh đến 15 -
18 tháng tuổi đạt khối lượng giết thịt với tỷ lệ thịt xẻ cao.
Ở các nước có ngành chăn nuôi bò thịt truyền thống với những bò
chuyên dụng thịt nổi tiếng trên thế giới như bò Charolais, Limousin,
Hereford, Shorthorn, bê thịt nuôi đến 15 - 16 tháng tuổi đạt 450 - 500 kg, tỷ
lệ thịt xẻ 60 - 70%, thớ thịt mềm có dắt mỡ. Hiện nay ở ta chưa có kỹ thuật
nuôi bò thịt này. Nuôi bê đực giống bò vàng Việt Nam đến 21 - 24 tháng tuổi
chỉ đạt 190 - 230 kg là có thể giết thịt và có hiệu quả kinh tế. Nuôi bê lai
hướng thịt có thể đạt trên 300kg ở 21 - 24 tháng tuổi.
Trong kỹ thuật nuôi bò thịt có hai phần:
- Kỹ thuật nuôi bò cái sinh sản
- 15 -
- Kỹ thuật nuôi bê đến 21 - 24 tháng tuổi.
Trong kỹ thuật nuôi bò thịt, nuôi bò cái sinh sản và nuôi bê lấy thịt có
mối quan hệ mật thiết và hỗ trợ lẫn nhau. Bò cái sinh sản là nguồn cung cấp
bê nuôi thịt. Nuôi bê đực giống bò Vàng đến 24 tháng tuổi có thể đạt 190 -
230 kg. Tăng trọng qua từng thời kỳ (Bảng 2.1)
Bảng 2.1: Tăng trọng bê thịt
Chỉ tiêu ĐVT
Tháng tuổi
Sơ sinh 6 12 18 21 24
1. Bò Vàng Việt Nam
Khối lượng cuối kỳ kg/con 14 76 125 176 202 230
Tăng trọng g/ngày - 289 272 284 289 310
Tăng trọng kg/tháng - 8,7 8,2 8,5 8,6 9,3
có cải tiến. Phương thức chăn nuôi bò thịt phổ biến trong các nông hộ hiện
nay chủ yếu vẫn là tận dụng tự nhiên theo phương thức chăn thả truyền thống
và sử dụng các phụ thẩm nông nghiệp như rơm, cây ngô, thân lá đỗ lạc v.v
Rất ít hoặc hầu như chưa có thức ăn tinh được bổ sung cho bò. Tuy nhiên,
hiện nay có nhiều hộ đã cải tiến phương thức chăn nuôi truyền thống bằng
việc dành đất trồng cỏ cho bò thịt và đầu tư một lượng nhỏ thức ăn tinh để vỗ
béo khoảng 69 - 90 ngày trước khi xuất bán thịt.
Đối với phương thức này, công thức lai tạo bò thịt phổ biến là dùng các
giống bò nhóm Zebu như Red Sindhi, Sahiwal, Brahman sẵn có ở nước ta để
lai với bò nền Việt Nam. Tuy nhiên, trong 3 giống trên thì bò Brahman có tốc
độ tăng trọng cao hơn, tỷ lệ thịt xẻ cao hơn, khả năng chuyển hoá thức ăn tốt
hơn. Vì vậy, giống bò Brahman nên được khuyến khích dùng nhiều hơn trong
việc lai tạo bò thịt ở mức độ đầu tư thấp. Tùy theo thị hiếu của nhân dân từng
vùng có thể dùng Brahman trắng hoặc đỏ. Đối với bò nền đã lai Zebu có thể
cho lai tiếp với bò Zebu để tăng tỷ lệ máu Zebu lên 3/4, 7/8 hoặc cao hơn. Bò
lai Zebu F1, F2 nếu được vỗ béo 60 - 90 ngày trước khi xuất có thể đạt khối
lượng hơi lúc 24 tháng tuổi khoảng 230 - 250 kg, tăng trong giai đoạn vỗ béo
500 - 550 gram/ngày, tỷ lệ thịt xẻ bình quân 47 - 49%.
(2) Kỹ thuật lai bò thịt có năng suất và chất lượng thịt cao. Để đáp ứng
một số yêu cầu cao hơn của thị trường trong nước về thịt bò chất lượng cao
hoặc thay thế thịt bò nhập khẩu, có thể lai bòn thịt theo một số công thức sau:
- 17 -
- Những nơi có nhiều nguồn thức ăn phong phú, có khả năng đầu tư
thức ăn chất lượng cao để nuôi bò thịt thâm canh, và đặc biệt là có thể tiếp
cận được với thị trường có nhu cầu thịt bò chất lượng cao, có thể dùng các
giống bò thịt ôn đới cao sản như Charolais, Simmental, Limousin, Hereford
cho lai với bò cái nền lai Zebu hoặc lai với những bò cái sữa thấp sản để sản
xuất bò thịt có tỷ lệ thịt xẻ và chất lượng thịt cao. Tuy nhiên, để lai với các
giống bò thịt chuyên dụng cao sản thì cần có đàn bò nền đủ lớn, có khối lượng
hơi từ 220 kg trở lên và phải đầu tư chăn nuôi theo phương thức thâm canh,
yếu tố tác động chủ yếu đến chăn nuôi bò là:
* Điều kiện tự nhiên
Cũng giống như các đối tượng vật nuôi khác của sản xuất nông nghiệp,
chăn nuôi bò thịt phụ thuộc rất lớn và điều kiện tự nhiên vì chúng đều là
những động vật sống.
(1) Khí hậu, thời tiết:
Khí hậu và thời tiết có ảnh hưởng lớn đến chăn nuôi bò thịt, nó góp
phần vào sự hình thành và phát triển một số loại bệnh, nhiều bệnh truyền
nhiễm đã phát sinh và phát triển trong mùa ẩm như dịch tả, tụ huyết trùng trâu
bò,
Yếu tố đầu tiên tác động đến cơ thể gia súc là nhiệt độ. Gia súc luôn
luôn giữ được nhiệt độ cơ thể tương đối ổn định là do chức năng điều tiết
nhiệt độ cơ thể của chúng. Các giống bò cao sản có quá trình trao đổi chất
mạnh, nhiệt lượng tỏa ra lớn nên chỉ thích hợp với điều kiện thời tiết, khí hậu
mát mẻ.
Khí hậu thời tiết không những ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể gia súc
mà còn tác động đến sự phát triển của cây cỏ trên đồng cỏ và các nguồn thức
ăn thô xanh khác, nghĩa là tác động gián tiếp đến chăn nuôi bò thịt thông qua
nguồn thức ăn của chúng.
Sự phân bó của lượng mưa cũng ảnh hưởng đến chăn nuôi bò thịt. Mùa
mưa, cỏ dồi dào, bò phát triển tốt, ngược lại, vào mùa khô, nắng nóng kéo dài,
- 19 -
cây cỏ không phát triển được, bò bị thiếu thức ăn nên tăng trọng kém. Như
vậy, khả năng tăng trọng của bò thịt nhiệt đới mang tính chu kỳ theo mùa của
thời tiết. Do vậy cần có các biện pháp nhằm dự trữ, bổ sung thức ăn cho bò để
chống lại tình trạng thiếu thức ăn vào mùa khô.
(2) Đất đai và nguồn nước
Diện tích đất là yếu tố quyết định đến phương thức chăn nuôi gia súc
ăn cỏ. Việt Nam là nước có mật độ dân số cao, bình quân đất đai tính trên đầu
người kể cả đất tự nhiên và đất nông nghiệp vào loại thấp nhất thế giới nên
chưa phát triển. Sản xuất chăn nuôi của ta còn mang tính truyền thống, phân
tán, quy mô nhỏ. Người chăn nuôi chưa có khái niệm chăn nuôi bò thịt hàng
hóa có chất lượng, chăn nuôi mới chỉ chủ yếu dựa vào chăn thả tự nhiên và
lao động nhàn rỗi. Chính vì vậy nên sản phẩm của chúng ta chất lượng thấp
chưa cạnh tranh được với các nước khác. Cũng vì chất lượng thịt bò thấp, nên
các nhà hàng, khách sạn lớn không tiêu thụ thịt bò trong nước mà phải sử
dụng thịt bò nhập khẩu từ Mỹ, Australia, New Zealand với giá cao. Tại siêu
thị, giá thịt bò nhập khẩu lên đến 250.000 đồng/kg.
Với tổng đàn bò khoảng 5,9 triệu con cho 83 triệu dan, có thể thấy rằng
thị trường thịt bò ở Việt Nam còn khá lớn. Tuy nhiên, do nông dân còn nghèo
nên sức mua còn hạn chế, cùng với cơ sở hạ tầng thấp kém, giao thông đi lại
khó khăn, nông dân phải bán bò qua nhiều khâu trung gian nên lợi tức thực sự
của họ không cao.
* Điều kiện về kỹ thuật
(1) Giống
Giống là yếu tố tiền đề trong việc nâng cao năng suất, chất lượng sản
phẩm cũng như hiệu quả sản xuất. Giống bò Vàng (bò nội) của ta tuy có
những ưu điểm như có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu nóng ẩm,
khả năng sinh sản cao, chịu đựng kham khổ tốt và khả năng chống chịu bệnh
tật cao nhưng tầm vóc lại nhỏ bé, năng suất thấp nên hiệu quả kinh tế từ chăn
nuôi không cao.
- 21 -