BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ THỊ BẠCH NHƯ
MÃ SINH VIÊN: 1201444
KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ NỒNG ĐỘ
CYFRA 21-1 TRÊN BỆNH NHÂN
UNG THƯ PHỔI TẠI BỆNH VIỆN
K TRUNG ƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI - 2017
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
LÊ THỊ BẠCH NHƯ
MÃ SINH VIÊN: 1201444
KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ NỒNG ĐỘ
CYFRA 21-1 TRÊN BỆNH NHÂN
UNG THƯ PHỔI TẠI BỆNH VIỆN
K TRUNG ƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
PGS.TS. Nguyễn Văn Rư
Nơi thực hiện:
1. Bộ môn Hóa sinh ĐH Dược Hà Nội
2. Khoa Hóa sinh bệnh viện K TW
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
ĐẶT VẤN ĐỀ ....................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ................................................................................ 2
1.1.
Đại cương về ung thư phổi .................................................................. 2
1.1.1.
Định nghĩa ung thư phổi .....................................................................2
1.1.2.
Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ ...........................................................2
1.1.3.
Phân loại ung thư phổi ........................................................................3
1.1.4.
Triệu chứng lâm sàng của ung thư phổi .............................................5
1.1.5.
1.3.1.
Đặc điểm của Cytokeratin .................................................................10
1.3.2.
Cơ chế phóng thích Cytokeratin huyết ở bệnh nhân .........................11
1.4.
Kháng nguyên Cyfra 21-1 .................................................................11
1.4.1.
Đặc điểm của Cyfra 21-1 ..................................................................11
1.4.2.
Giá trị Cyfra 21-1 trong các bệnh lành tính .....................................13
1.4.3. Giá trị Cyfra 21-1 trong các bệnh ác tính…………………….. .13
1.5.
Vai trò Cyfra 21-1 trong ung thư phổi.............................................14
1.5.1.
Trong chẩn đoán ...............................................................................14
1.5.2.
Phương pháp nghiên cứu ..................................................................20
2.2.1.
Phương pháp chọn mẫu, cỡ mẫu .......................................................20
2.2.2.
Chỉ tiêu nghiên cứu ...........................................................................21
2.2.3.
Thiết kế nghiên cứu ...........................................................................21
2.2.4.
Phương pháp định lượng Cyfra 21-1 huyết tương. ...........................22
2.3.
Phương pháp thống kê xử lý số liệu .................................................25
2.4.
Đạo đức nghiên cứu ...........................................................................27
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .........................................................28
3.1.
Khảo sát đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: ....................28
tính……………… ...............................................................................................30
3.3.2.
3.4.
Tỉ lệ bệnh nhân theo kích thước khối u ở nhóm ung thư phổi ...........31
Kết quả nồng độ Cyfra 21-1 huyết tương ở các nhóm bệnh nhân 31
3.4.1.
Phân phối tần suất nồng độ Cyfra 21-1 huyết tương ở các nhóm ....31
3.4.2.
Nồng độ Cyfra 21-1 huyết tương trong mỗi nhóm ............................32
3.4.3.
Ngưỡng nồng độ Cyfra 21-1 huyết tương trong UTP .......................32
3.4.4.
Giá trị tiên đoán dương, âm và tỉ số khả dĩ dương, âm: ...................34
3.5.
Kết quả nồng độ Cyfra 21-1 huyết tương theo các đặc điểm của bệnh
: Likelihood ratio (Tỉ số khả dĩ)
Max
: Maximum (giá trị lớn nhất)
Median
: Trung vị
Min
: Minimum (giá trị nhỏ nhất)
ng/ml
: nanogram/mililit
NPV
: Negative predictive value (giá trị tiên đoán âm)
PPV
: Positive predictive value (giá trị tiên đoán dương)
NSE
: Neuron specific enolase
: Ung thư phổi không tế bào nhỏ
UTPTBN
: Ung thư phổi tế bào nhỏ
X
: Giá trị trung bình
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Sợi trung gian (7-11 nm): chất chỉ điểm của các dòng tế bào
Bảng 1.2. Giá trị Cyfra 21-1 trong các bệnh lành tính
Bảng 1.3. Giá trị Cyfra 21-1 trong các bệnh ác tính
Bảng 3.1. Phân bố giới tính của 2 nhóm bệnh nhân
Bảng 3.2. Phân lớp tuổi của 2 nhóm bệnh nhân
Bảng 3.3. Tỉ lệ bệnh nhân theo týp mô bệnh học của nhóm UTP
Bảng 3.4. Tỉ lệ bệnh nhân theo phân loại TNM của nhóm UTP
Bảng 3.5. Tỉ lệ bệnh nhân theo hình ảnh tổn thương trên X-quang phổi hoặc chụp
cắt lớp vi tính ngực có tiêm thuốc cản quang
Bảng 3.6. Tỉ lệ bệnh nhân theo kích thước khối u của nhóm UTP
Bảng 3.7. Nồng độ Cyfra 21-1 huyết tương ở 2 nhóm bệnh nhân nghiên cứu
Bảng 3.8. Giá trị độ nhạy và độ đặc hiệu tại các điểm cắt của nồng độ Cyfra 21-1
huyết tương
Bảng 3.9. Bảng giá trị xác định PPV, NPV, LR
Bảng 3.10. Nồng độ Cyfra 21-1 huyết tương theo tuổi ở các nhóm
Bảng 3.11. Nồng độ Cyfra 21-1 huyết tương theo giới ở các nhóm
Bảng 3.12. Nồng độ Cyfra 21-1 huyết tương theo một số hình ảnh X-quang ở các
Phương pháp chẩn đoán UTP dựa vào xét nghiệm mô bệnh học vẫn là “tiêu
chuẩn vàng” nhưng phức tạp và nguy hiểm vì bệnh phẩm phải được lấy từ khối u,
sinh thiết xuyên thành ngực, mổ cắt lấy khối u, những việc này gặp nhiều khó khăn,
phức tạp [15].
Hiện nay, các phương pháp phát tìm kiếm các dấu ấn ung thư đặc hiệu đang
được các nhà khoa học quan tâm đặc biệt [12]. Các công trình nghiên cứu về UTP đã
tìm ra được một số dấu ấn ung thư hay tumor marker (TM) như là Cyfra 21-1, CEA,
SCCA, NSE, trong đó Cyfra 21-1 từ bệnh phẩm máu đã được xét nghiệm ở các labo
hóa sinh và đã được xác định là có độ nhạy và độ đặc hiệu tương đối cao. Ở nước ta,
những công trình nghiên cứu về Cyfra 21-1 huyết tương trong UTP nhằm xác định
điểm cắt đặc trưng cho người Việt Nam là có giá trị và cần thiết.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát, đánh giá nồng độ Cyfra 21-1 trên
bệnh nhân ung thư phổi tại bệnh viện K Trung ương” nhằm 2 mục tiêu:
Khảo sát nồng độ Cyfra 21-1 trong huyết tương của bệnh nhân UTP tại bệnh viện
K và đánh giá vai trò của nó trong chẩn đoán UTP.
Khảo sát mối liên quan giữa nồng độ Cyfra 21-1 huyết tương theo một số đặc
điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân UTP.
1
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1.
Đại cương về ung thư phổi
1.1.1. Định nghĩa ung thư phổi
Ung thư phổi (UTP) nguyên phát còn được gọi là ung thư phế quản-phổi
gấp 100 lần.
Yếu tố không liên quan với nghề nghiệp:
- Tia xạ: khí moutard (trong thế chiến thứ nhất), bom nguyên tử, xạ trị cho
bệnh nhân u lympho Hodgkin.
- Do ô nhiễm không khí: ở các vùng, các khu công nghiệp.
- Nhiễm virus: nhiễm virus HPV, EBV có nguy cơ mắc UTP.
- Bệnh lý phế quản phổi: xơ phổi, sau lao phổi,…
- Yếu tố di truyền: có thể có yếu tố gia đình liên quan đến một số đột biến gen
gây UTP. Các tế bào UTP có những sai lệch nhiễm sắc thể cả về số lượng và cấu trúc.
Cùng với các bất thường nhiễm sắc thể là những bất thường về gen. Trong UTP,
những bất thường về di truyền thường gặp bao gồm: khuếch đại gen MYC [45], đột
biến gây hoạt hóa gen RAS [30], đột biến gây bất hoạt gen p53 [14], gen p16 [46] và
gen RB [19]. Những bất thường này kích thích UTP phát triển và thoát khỏi sự chết
tế bào theo chương trình (apoptosis).
- Yếu tố dinh dưỡng: một số nghiên cứu chỉ ra rằng bữa ăn ít rau và hoa quả,
bữa ăn nhiều thực phẩm nướng, chiên có nguy cơ mắc UTP cao hơn, đặc biệt nếu
bệnh nhân có phơi nhiễm với khói thuốc lá kèm theo.
- Yếu tố nhân khẩu học: về giới, ở Pháp UTP gây tử vong đứng hàng đầu trong
các loại ung thư ở nam giới (12.000 người mỗi năm) tỷ lệ nam/nữ là 6,1/1. Nghiên
cứu tại khoa hô hấp - bệnh viện Bạch Mai thấy 85-90% số người bị UTP là nam giới.
Về tuổi, UTP thường gặp nhiều ở tuổi 40-60 tuổi, dưới 40 tuổi ít gặp và trên 70 tuổi
tỷ lệ cũng thấp. Tuy nhiên, trên thực tế, UTP có thể gặp ở bất kỳ tuổi nào [11].
1.1.3. Phân loại ung thư phổi
1.1.3.1.
Theo týp mô bệnh học
3
U-carcinoid
-
Ung thư biểu mô dạng tuyến nước bọt
-
Ung thư biểu mô không xếp loại
Trong lâm sàng, với mục đích để phân chia giai đoạn, điều trị và tiên lượng thì
UTP được chia làm 2 loại chính: ung thư phổi tế bào nhỏ (UTPTBN - small cell lung
cancer) và ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN - non small cell lung cancer):
-
UTPKTBN: chiếm khoảng từ 80-85% trong số bệnh UTP, thường phát triển
và lan chậm hơn UTPTBN. Gồm 3 loại:
Ung thư biểu mô tuyến (Adenocarcinoma, AC), chiếm 30-35% UTP và xuất
phát từ phế quản và phế nang, thường ở ngoại vi.
Ung thư biểu mô tế bào vảy (Squamous cell carcinoma, SCC), chiếm 30% và
xuất phát từ phế quản trung tâm, thường xâm lấn vào vùng rốn phổi và trung thất,
thường tiến triển chậm và di căn muộn [48], [52].
Ung thư biểu mô tế bào lớn (Large cell, LC), chiếm 10-20%, hình thành gần
bề mặt phổi, thường gặp ở ngoại vi [47].
-
UTPTBN: chiếm 15-20% và xuất phát từ phế quản gốc, rất ác tính và thường
xâm lấn vào rốn phổi và trung thất.
Giai đoạn ung thư tiềm tàng:
UTP đôi khi không có dấu hiệu gì về lâm sàng trong một thời gian dài, thường
gặp đối với thể ung thư týp biểu mô vảy.
Những dấu hiệu chứng tỏ ung thư đã lan tỏa:
- Đau ngực: không có vị trí đau rõ rệt, thường đau bên tổn thương, đau kiểu
thần kinh liên sườn, có khi đau quanh bả vai, mặt trong cánh tay (hội chứng Pancoast-
5
Tobias) đó là trường hợp ung thư ở đỉnh phổi. Đôi khi, triệu chứng đau ngực có thể
làm cho bác sĩ nhầm là đau thần kinh liên sườn.
- Khó thở: khó thở ít gặp, thường do tắc lòng phế quản và xẹp phổi hoàn toàn,
nếu khó thở kiểu thanh quản và có tiếng thở rít có thể do khối u chèn ép ở ngã ba khí
phế quản, cũng có khi khó thở do liệt cơ hoành.
- Khó nói: giọng khàn, giọng đôi do thần kinh quặt ngược bị chèn ép.
- Khó nuốt: do thực quản bị chèn ép.
- Hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên: phù áo khoác, tuần hoàn bàng hệ ở
ngực, mặt, môi tím.
- Hội chứng tràn dịch màng phổi: ung thư di căn vào màng phổi, phải chọc hút
dịch màng phổi xét nghiệm tế bào, sinh thiết màng phổi, nội soi màng phổi để chẩn
đoán.
- Hội chứng Claude-Bernard-Horner: do chèn ép thần kinh giao cảm cổ. Bệnh
nhân có biểu hiện nửa mặt đỏ, khe mí mắt hẹp, đồng tử nhỏ, nhãn cầu tụt về phía sau.
Dấu hiệu ngoài phổi:
- Bệnh nhân thường gầy, sút cân, có thể có sốt nhẹ, tốc độ máu lắng tăng, bạch
cầu tăng.
- Hội chứng Pierre-Marie (hội chứng sưng đau khớp phì đại do u phổi): ngón
tay dùi trống, sưng đau các khớp nhỏ và nhỡ, đau dọc các xương dài. Căn nguyên
chưa được biết rõ, mặc dù có vài giả thiết cho rằng khối u tiết estrogen, hormon tăng
khí-phế quản. Từ đó đến nay, soi phế quản trở thành một kỹ thuật xâm nhập rất phổ
biến [13]. Lợi ích chính của nội soi phế quản ống mềm là có thể nhìn rõ trong lòng
khí phế quản, phát hiện sớm tổn thương giúp chẩn đoán và phân giai đoạn UTP [6],
[22].
- Kỹ thuật thăm dò khác:
Thăm dò chức năng hô hấp: đánh giá khả năng phẫu thuật cắt bỏ thùy phổi
hoặc cả bên phổi. Siêu âm ổ bụng, chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ sọ não xạ
hình xương toàn thân: đánh giá di căn của khối u.
Định lượng các dấu ấn ung thư (TM): CEA, Cyfra 21-1, NSE là 3 TM rất đáng
quan tâm vì có độ nhạy (Se) và độ đặc hiệu (Sp) cao hơn các TM khác [1].
7
Phương pháp lấy bệnh phẩm chẩn đoán xác định:
Hiện nay, xác định UTP dựa trên các dữ kiện lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh,
TM và chẩn đoán mô bệnh tế bào. Trong đó chẩn đoán mô bệnh có vai trò quyết định
nhất, bởi vì nó là chẩn đoán cuối cùng và là cơ sở để lựa chọn phương thức điều trị.
Lấy bệnh phẩm trong nội soi phế quản là mục tiêu cơ bản để xác định chẩn đoán mô
bệnh-tế bào học, mức độ xâm nhập của UTP [6]. Các kỹ thuật lấy bệnh phẩm chẩn
đoán trong nội soi gồm: sinh thiết phế quản, sinh thiết xuyên thành phế quản [59].
Chẩn đoán sớm:
Nam giới trên 45 tuổi, nghiện thuốc lá và có các triệu chứng hô hấp: ho khan
hoặc khạc đờm kéo dài, cần chụp X-quang phổi và xét nghiệm đờm hoặc dịch phế
quản 4 tháng một lần để phát hiện sớm UTP. Tỷ lệ phát hiện sớm UTP bằng phương
pháp sàng lọc này đạt từ 4-8 trường hợp trong 1.000 người [11].
1.2.
Dấu ấn ung thư (Tumor marker - TM)
Có 2 loại TM: TM tế bào và TM thể dịch [2].
TM tế bào: là các kháng nguyên tập trung trên bề mặt của màng tế bào, các
nội tiết tố và cơ quan thụ cảm nội tiết. TM tế bào xuất phát từ tế bào (gen ung thư) và
gen kìm hãm ung thư.
TM thể dịch: là những chất xuất hiện tập trung trong huyết thanh, nước tiểu
hoặc các dịch khác của cơ thể. Các chất này tổng hợp và bài tiết từ các mô của khối
u, được giải phóng nhờ sự phân hủy tế bào khối u hoặc được tạo thành như là sự phản
ứng của cơ thể với khối u [4]. Cyfra 21-1 là 1 TM thuộc loại này.
Thực tế cho thấy nếu xét về vai trò chẩn đoán thì TM thể dịch thể hiện nhiều
ưu điểm hơn so với chỉ thị tế bào, đặc biệt là việc thu mẫu bệnh phẩm và tiến hành
xét nghiệm. Do đó, người ta thường dùng các TM thể dịch trong chẩn đoán ung thư.
1.2.4. Tiêu chuẩn và ý nghĩa lâm sàng của tumor marker [12]
Có một số TM đặc hiệu đối với từng loại ung thư nhất định song cũng có
những TM lại thấy ở một số loại ung thư. Nhiều TM được biểu hiện ở cả những mô
không phải ung thư và mô ung thư. Tuy nhiên, thường nồng độ các TM này trong
máu cao phản ánh mức độ hoạt động của khối u cũng như thể tích khối u.
Các TM có thể được sử dụng phục vụ chẩn đoán, tiên lượng và theo dõi hiệu
quả điều trị cũng như phục vụ cho liệu pháp điều trị đích. Một TM lý tưởng trên lâm
9
sàng phải là dấu ấn đặc hiệu với một loại ung thư nhất định, đồng thời dấu ấn này
phải có độ nhạy đủ để có thể phát hiện những khối u nhỏ giúp cho việc chẩn đoán
sớm hoặc sàng lọc. Các TM mà có mặt ở cả mô lành, mô phì đại lành tính và mô ung
thư, không có đủ độ đặc hiệu thì sẽ không được sử dụng trong sàng lọc ung thư.
1.2.5. Hướng dẫn sử dụng tumor marker trong ung thư phổi
Nhiều tổ chức quốc tế đã ban hành những hướng dẫn đối với việc sử dụng TM
trên lâm sàng như: Viện Hàn lâm khoa học quốc gia về Hóa sinh lâm sàng (NACB),
Hiệp hội Châu Âu về dấu ấn ung thư (EGTM), Hội Ung thư Hoa Kỳ (ACS), Hội Ung
10
Bảng 1.1. Sợi trung gian (7-11 nm): chất chỉ điểm của các dòng tế bào.
Tế bào
Sợi trung gian
Kích thước (kD)
Biểu mô
Cytokeratin
40-70
Nơron
Sợi thần kinh
68, 145, 200
Thần kinh đệm
Sợi thần kinh đệm
53
Cơ
Kháng nguyên Cyfra 21-1
1.4.1. Đặc điểm của Cyfra 21-1
Cũng như các phân tử Cytokeratin khác, Cytokeratin 19 có cấu trúc vùng trung
tâm với 4 domain xoắn là 1A, 1B, 2A và 2B, kích thước 40 kDa, gồm 400 acid amin
[25], [38]. Gen mã hóa cho Cytokeratin 19 nằm trên nhiễm sắc thể số 17, có kích
thước 4667 bp với 6 exon mã hóa cho phân tử mRNA kích thước 1382 bp [49].
11
Hình 1.1. Sơ đồ mã hóa cho Cytokeratin 19 [49]
Cyfra 21-1 là TM mới được tìm ra vào đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX. Bằng phương
pháp miễn dịch phóng xạ hoặc miễn dịch enzym, một mảnh Cytokeratin 19 được
nhận biết bằng các kháng thể đơn dòng và gắn vào các vị trí quyết định kháng nguyên
21 và 1. Bởi vậy, TM mang tên Cyfra 21-1 (Cy: Cytokeratin, fra: fragment) [54].
Vùng quyết định kháng nguyên Cyfra 21-1 nằm trong khoảng acid amin từ 311 đến
368 trên phân tử Cytokeratin 19 [49]. Kết quả này cũng được khẳng định trong một
phép thử sử dụng hai kháng thể đơn dòng: Ks 19-1 (kháng thể nhận biết các amino
acid từ vị trí 311 đến 335 trên Cytokeratin 19) và BM 19-21 (kháng thể nhận biết các
amino acid từ vị trí 346 đến 367 trên Cytokeratin 19 [21].
Hình 1.2. Vị trí của Cyfra 21-1 trên Cytokeratin 19 [21]
12
1.4.2. Giá trị Cyfra 21-1 trong các bệnh lành tính
rBảng 1.2. Giá trị Cyfra 21-1 trong các bệnh lành tính [1], [14], [31]
u buồng trứng lành tính, nhiễm khuẩn tiết niệu,
nang thận, u bàng quang lành tính
Bệnh đường tiêu hóa lành tính: bệnh viêm gan
4
cấp, mạn tính, viêm tụy, viêm đường mật, viêm
< 3,0
dạ dày, viêm hồi tràng, viêm ruột kết, polyp đại
tràng
5
Suy thận
< 3,0
1.4.3. Giá trị Cyfra 21-1 trong các bệnh ác tính
Bảng 1.3. Giá trị Cyfra 21-1 trong các bệnh ác tính
STT
Tên bệnh
Điểm cắt
Độ nhạy
Độ đặc
50,8
90,3
Ngoài ra, trong ung thư vú, Cyfra 21-1 được xem như một dấu ấn có khả năng
đánh giá sự tái phát và hiệu quả điều trị [43]. Với ung thư tụy, độ chính xác của xét
nghiệm Cyfra 21-1 (diện tích dưới đường cong) là 86,3%, xét nghiệm này cũng có
giá trị trong theo dõi hiệu quả của hóa trị liệu [21]. Đối với ung thư cổ tử cung, nồng
độ Cyfra 21-1 ở nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng (các bệnh nhân bị khối u tử cung
13
lành tính) một cách có ý nghĩa thống kê ( p < 0,05) [25]. Trong ung thư bàng quang,
một nghiên cứu gộp chỉ ra Cyfra 21-1 huyết tương có độ nhạy là 42% (với độ tin cậy
là 95% nằm trong khoảng: 33% - 51%) và độ đặc hiệu là 94% (với độ tin cậy là 95%
nằm trong khoảng: 70% - 90%) [32].
1.5.
Vai trò Cyfra 21-1 trong ung thư phổi
1.5.1. Trong chẩn đoán
Trong chẩn đoán UTP nguyên phát nói chung: nồng độ Cyfra 21-1 có giá trị
cắt (cut – off) là 3,5 ng/ml với độ nhạy là 43% và độ đặc hiệu 89% [39].
Trong chẩn đoán UTPKTBN: Cyfra 21-1 có độ nhạy từ 59% [57] đến 79%
[12] và độ đặc hiệu là 94% [57]. Mức độ tăng Cyfra 21-1 huyết tương tỷ lệ với mức
độ xâm lấn của khối u (T1: 15%, T2: 49%, T3: 68%, T4: 55%) và giai đoạn ung thư
(I: 29%, II: 56%, III: 63%, IV: 63%).
Trong UTPTBN: độ nhạy của Cyfra 21-1 là 19% và độ đặc hiệu là 94% [57].
Cyfra 21-1 > 3,3 ng/ml chỉ là < 10%. Như vậy, mức độ cao của Cyfra 21-1 huyết
tương là một chỉ số tiên lượng có giá trị của UTPKTBN [60].
1.5.3. Trong theo dõi diễn biến của bệnh
Vì mức độ Cyfra 21-1 huyết tương của những người khỏe mạnh thường thấp
và thời gian bán hủy ngắn nên việc đánh giá hiệu quả điều trị có thể được thực hiện
sớm 48 giờ sau phẫu thuật lần đầu. Sự giảm nồng độ Cyfra 21-1 huyết tương > 27%
sau một đợt hóa trị liệu cho phép đánh giá đáp ứng sớm của điều trị. Nồng độ Cyfra
21-1 có thể tăng trở lại khi bệnh tái phát. Như vậy, Cyfra 21-1 là một dấu ấn có giá
trị trong theo dõi tiến trình của ung thư phổi trước và sau phẫu thuật [61] cũng như
hóa trị liệu [55].
1.6.
Một số nghiên cứu về Cyfra 21-1 liên quan đến ung thư phổi trong và
ngoài nước:
Nghiên cứu nước ngoài:
- Nghiên cứu của Okamura và cộng sự (2013) trên 892 bệnh nhân trên 2 TM
là Cyfra 21-1 và CEA. Tác giả xác định ngưỡng chẩn đoán của Cyfra 21-1 là 3,5
ng/ml với độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt là 43% và 89%, Tác giả cũng chỉ ra cả
Cyfra 21-1 và CEA là 2 TM đáng tin cậy trong chẩn đoán UTP [39].
- Nghiên cứu của Sugama Y và cộng sự (1993) trên 815 bệnh nhân với giá trị
cut-off của Cyfra 21-1 là 3,5 ng/ml với độ nhạy là 57,5%, Cyfra 21-1 có độ nhạy cao
15
hơn ở nhóm bệnh nhân UTP biểu mô tế bào vảy (73,1%) và ung thư biểu mô tế bào
tuyến (61,0%) [50].
- Nghiên cứu của Takada và cộng sự (1995) trên 282 bệnh nhân xác định giá
trị ngưỡng của Cyfra 21-1 với UTP nói chung là 3,5 ng/ml với độ nhạy là 64,5%, độ