BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ MAI
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG
KHÁNG SINH Ở BỆNH VIỆN
MẮT TRUNG ƯƠNG NĂM 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
MẮT TRUNG ƯƠNG NĂM 2014 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1. TS. Nguyễn Thị Liên Hương
2. ThS. Vũ Hồng Minh
Nơi thực hiện:
1. Bộ môn Dược Lâm Sàng
2. Bệnh viện mắt trung ương
HÀ NỘI - 2015
2
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới :
1.1.1. Vài nét về nhiễm khuẩn nhãn khoa 2
1.1.2. Kháng sinh sử dụng trong nhãn khoa 3
1.1.2.1. Khái niệm và phân loại kháng sinh: 3
1.1.2.2. Nguyên tắc chung về sử dụng kháng sinh trong nhãn khoa: 4
1.1.2.3. Những kháng sinh thông thường được sử dụng trong nhãn
khoa…………. 6
1.1.2.4. Các đường dùng cơ bản của kháng sinh trong nhãn khoa: 7
1.1.3. Đặc điểm sử dụng của kháng sinh ceftazidim trong nhãn khoa 8
1.1.3.1. Đặc điểm của kháng sinh ceftazidim 8
1.1.3.2. Những hướng dẫn điều trị hiện hành về sử dụng ceftazidim
trong nhãn khoa 9
1.1.3.3. Một số nghiên cứu về độ nhạy của ceftazidim trong bệnh
nhiễm khuẩn mắt 10
1.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ SỬ DỤNG KHÁNG SINH 11
1.2.1. Đánh giá định lượng: 11
1.2.2. Đánh giá định tính 13
1.2.2.1. Khái niệm: 13
1.2.2.2. Các bước thực hiện: 13
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1. QUI TRÌNH NGHIÊN CỨU 16
2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 16
2.2.1. Phân tích số liệu sử dụng kháng sinh tại bệnh viện năm 2014 16
4
2.2.2. Phân tích tình hình sử dụng kháng sinh ceftazidim (Fortum) - một
kháng sinh được dùng phổ biến tại bệnh viện. 17
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.3.1. Phân tích số liệu sử dụng kháng sinh 18
3.2.1.1. Đặc điểm về tuổi 32
3.2.1.2. Đặc điểm về giới tính 32
3.2.1.3. Tình hình làm xét nghiệm vi khuẩn của nhóm bệnh nhân 33
3.2.1.4. Thời gian nằm viện trung bình của bệnh nhân 34
3.2.1.5. Kết quả điều trị của bệnh nhân 34
3.2.1.6. Chức năng thận của bệnh nhân thông qua chỉ số ure 34
3.2.1.7. Các can thiệp ngoại khoa 35
3.2.2. Thực trạng sử dụng kháng sinh ceftazidim (Fortum) 35
3.2.2.1. Khảo sát chỉ định của kháng sinh ceftazidim (Fortum) 35
3.2.2.2. Khảo sát đường dùng của kháng sinh ceftazidim (Fortum) 36
3.2.2.3. Khảo sát liều dùng 37
3.2.2.4. Tình hình phối hợp kháng sinh Fortum với các kháng sinh
khác……… 38
3.2.2.5. Khảo sát thời gian dùng thuốc 38
3.2.2.6. Giám sát điều trị, theo dõi các phản ứng có hại 39
Chương 4: BÀN LUẬN 40
4.1. BÀN LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40
4.1.1. Phương pháp khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh 40
4.1.2. Phương pháp phân tích tình hình sử dụng kháng sinh ceftazidim
(Fortum) 41
4.2. BÀN LUẬN VỀ KẾT QUẢ 41
4.2.1. Kết quả khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh 41
4.2.2. Bàn luận về tình hình sử dụng kháng sinh ceftazidim 43
4.2.2.1. Về các vấn đề chung trên bệnh nhân 43
4.2.2.2. Về tình hình sử dụng kháng sinh ceftazidim 44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
7
DANH MỤC VIẾT TẮT CÁC TÊN VI KHUẨN
B.fragilis Bacteroides fragilis
C. diphtheria Corynebacterium diphtheriae
C.difficile Clostridium difficile
C.trachomatis
Chlamydia trachomatis
E.coli Escherichia coli
H.influenzae Haemophylus influenzae
chất
23
Bảng 3.5
Số lượng sử dụng kháng sinh đường tiêm theo khoa
phòng
24
Bảng 3.6 Số lượng sử dụng kháng sinh đường uống theo nhóm 24
Bảng 3.7
Số lượng sử dụng của các kháng sinh nhóm beta –
lactam
25
Bảng 3.8
Số lượng sử dụng kháng sinh đường uống theo khoa
phòng
26
Bảng 3.9 Số lượng sử dụng kháng sinh đường tra mắt theo nhóm 26
Bảng 3.10
Số lượng sử dụng của các kháng sinh tra mắt nhóm
aminoglycosid
27
Bảng 3.11
Số lượng sử dụng của các kháng sinh tra mắt nhóm
Quinolon
28
Bảng 3.12
Số lượng sử dụng kháng sinh đường tra mắt theo khoa
phòng
28
Bảng 3.13
Chi phí cho kháng sinh trong tương quan với tất cả các
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Tên hình Nội dung Trang
Hình 2.1 Sơ đồ thiết kế nghiên cứu 16
Hình 3.1 Số lượng ceftazidim (Fortum) sử dụng theo tháng 31
Hình 3.2 Đặc điểm về tuổi của bệnh nhân 32
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Kháng sinh là một nhóm thuốc đặc biệt vì việc sử dụng chúng không chỉ ảnh
hưởng đến người bệnh mà còn ảnh hưởng đến cộng đồng. Với những nước đang
phát triển như Việt Nam, đây là một nhóm thuốc quan trọng vì bệnh lý nhiễm khuẩn
nằm trong số những bệnh đứng hàng đầu cả về tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong [2].
Tỷ lệ kháng thuốc ở Việt Nam đã ở mức độ rất cao. Đã có các dữ liệu đầy đủ để có
thể kết luận về mức độ đáng báo động của tình hình sử dụng kháng sinh và thực
trạng kháng kháng sinh [5]. Mức độ kháng thuốc ngày càng trầm trọng làm ảnh
hưởng đến hiệu quả điều trị, tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao, thời gian điều trị
kéo dài, chi phí điều trị tăng cao, ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh và cộng đồng
[2]. Vì vậy các cơ sở điều trị cần có chiến lược sử dụng kháng sinh hợp lý để giảm
tỷ lệ kháng thuốc, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.
khuẩn nhãn khoa là do tụ cầu. Liên cầu (Streptococci) là một nhóm vi khuẩn Gram
dương khác gây nhiễm khuẩn nhãn khoa, gồm S.pneumoniae - tác nhân gây loét
giác mạc và viêm kết mạc ở trẻ em [30].
Với vi khuẩn Gram âm, trong nhãn khoa gặp nhiều nhất là trực khuẩn mủ
xanh (P.aeruginosa), sau đó là lậu cầu (N.gonorrhea), H.influenzae [4].
N.gonorrhoeae ban đầu gây viêm kết mạc có mủ, nhưng có thể nhanh chóng lan vào
giác mạc và phần còn lại của mắt. H.influenzae gây nhiễm khuẩn sớm ở trẻ nhỏ, với
viêm tai giữa và viêm kết mạc thường xảy ra đồng thời. Trực khuẩn Gram âm
đường ruột gồm E.coli, S.marcescens, Proteus, và P.aeruginosa. Những vi khuẩn
này có thể gây loét giác mạc [30].
Ngoài ra, một số vi khuẩn có hình thái và chuyển hóa độc đáo cũng gây
bệnh tại mắt. Chlamydia không có khả năng sản sinh ra năng lượng để phát triển
độc lập nên buộc phải sống bên trong một tế bào khác. C.trachomatis lây nhiễm qua
bàn tay đến mắt hoặc do vật trung gian, gây bệnh đau mắt hột hoặc tự lây nhiễm từ
nhiễm khuẩn đường sinh dục gây viêm kết mạc. Các xoắn khuẩn, có cấu trúc dạng
3
xoắn linh hoạt, gồm T.pallidum - gây bệnh giang mai. Những phát hiện tại mắt có
thể do xoắn khuẩn giang mai như: loét giác mạc, viêm màng bồ đào, viêm dịch
kính, viêm gai thị [30]. Một điều đặc biệt là ngoài vi khuẩn còn có một số tác nhân
gây bệnh mắt khác cũng có thể được điều trị bằng kháng sinh như: Acanthamoeba
hay Toxoplasmosis do có những đặc điểm giống vi khuẩn [4].
Về mặt kháng thuốc, trên lâm sàng kháng kháng sinh có ý nghĩa khác đối với
bác sĩ nhãn khoa so với những người không phải là bác sĩ nhãn khoa. Trong điều trị
nhiễm khuẩn bề mặt hay nhiễm khuẩn cận bề mặt, ví dụ như loét giác mạc do vi
khuẩn, đáp ứng lâm sàng khá tốt được ghi nhận, mặc dù trong phòng thí nghiệm
được báo cáo là đã kháng thuốc. Sự khác biệt rõ ràng này phản ánh một thực tế rằng
mức độ nhạy cảm đối với vi khuẩn của kháng sinh đường toàn thân không giống với
o Các fluoroquinolon : thế hệ 2, 3, 4: ciprofloxacin, ofloxacin,
- Các nhóm kháng sinh khác:.
o Sulfamid
o Oxazolidinon
o 5-nitroimidazol
[2],[3].
1.1.2.2. Nguyên tắc chung về sử dụng kháng sinh trong nhãn khoa:
Nhìn chung, mọi khuyến cáo áp dụng cho kháng sinh toàn thân cũng áp dụng
cho kháng sinh dùng trong nhãn khoa [2].
Hầu hết các trường hợp nhiễm khuẩn mắt có thể áp dụng những liệu trình
điều trị đơn giản. Tuy nhiên, những trường hợp nhiễm khuẩn nặng và hiếm hoặc các
trường hợp thất bại với liệu pháp điều trị chuẩn phải được quản lý chặt chẽ hơn bởi
các bác sĩ nhãn khoa, cần đến sự hỗ trợ trong chẩn đoán, bao gồm xét nghiệm vi
khuẩn học [14].
Quá trình lựa chọn kháng sinh phù hợp để điều trị cần xem xét nhiều yếu tố:
Trước hết, thiết lập chẩn đoán lâm sàng và xét nghiệm chính xác: tiền sử
bệnh, triệu chứng, dấu hiệu nhiễm khuẩn cần được đánh giá để thiết lập một chẩn
5
đoán nhiễm khuẩn tạm thời, sau đó, thực hiện các xét nghiệm tìm nguyên nhân. Xét
nghiệm nuôi cấy và định danh vi khuẩn từ mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân giúp bác
sĩ khẳng định lại chẩn đoán độ nhạy cảm của vi khuẩn phân lập được với kháng sinh
được đánh giá.
Lựa chọn kháng sinh nhạy cảm với vi khuẩn: quá trình xét nghiệm định danh
vi khuẩn và kiểm tra độ nhạy có thể mất vài ngày, vì vậy bác sĩ có thể lựa chọn phác
đồ theo kinh nghiệm trước khi có kết quả.
Chọn thuốc có độc tính thấp nhất.
Lựa chọn đường dùng tối ưu: sau khi lựa chọn thuốc, bác sĩ cần xác định
chủ động tới mắt bởi hệ thống vận chuyển acid hữu cơ của thể mi. Tuy nhiên, tính
thấm tăng lên khi bị viêm hoặc khi dùng cùng với probenecid [2],[7].
Nhóm Quinolon: Các kháng sinh được sử dụng nhiều nhất là: ofloxacin,
levofloxacin, ciprofloxacin, moxifloxacin, gatifloxacin. Những thuốc này có hiệu
quả cao, phổ rộng, hoạt tính trên cả vi khuẩn Gram âm và vi khuẩn Gram dương
trong nhãn khoa, ít gây độc trên biểu mô giác mạc hơn so với nhóm aminoglycosid
[2],[7]. Nhóm này có khả năng thấm qua giác mạc tốt khi dùng đường tra mắt [2].
Nhóm sulfamid: Là kháng sinh kìm khuẩn, phổ tác dụng rộng trên cả vi
khuẩn Gram âm và vi khuẩn Gram dương, hiệu quả tăng khi phối hợp với
trimethoprim [2],[7]. Dung dịch tra mắt sulfacetamid (10 – 30%) và mỡ tra mắt
(10%) thấm qua giác mạc tốt nhưng có thể có phản ứng với bệnh nhân nhạy cảm
với các thuốc sulfamid [7].
Nhóm tetracyclin: phổ tác dụng rộng, ưu thế trên vi khuẩn Gram âm. Hiện
nay hiệu quả điều trị của nhóm này giảm do kháng thuốc. Nhóm này thấm tốt qua
giác mạc khi tra mắt [2].
7
Nhóm cloramphenicol: phổ tác dụng rộng, thấm tốt qua biểu mô giác mạc
khi tra mắt và qua được hàng rào máu mắt khi dùng toàn thân, tuy nhiên hiện nay đã
hạn chế sử dụng nhóm này do có thể gây suy tủy [7].
Nhóm aminoglycosid: phổ tác dụng rộng, nhưng tác dụng mạnh hơn trên vi
khuẩn Gram âm, hấp thu kém qua đường tiêu hóa nhưng được dùng toàn thân với
tiêm tĩnh mạch và tiêm bắp. Các aminoglycosid không dễ dàng thấm qua hàng rào
máu mắt nhưng vẫn có thể dùng tra mắt dạng nước, mỡ, hoặc tiêm cạnh nhãn cầu.
Các kháng sinh dùng phổ biến: neomycin, gentamicin, tobramycin,
amikacin,…[2],[7].
Nhóm macrolid: erythromycin có phổ tác dụng rộng nhưng chiếm ưu thế trên
vi khuẩn Gram dương, có thể đưa thuốc theo đường uống hoặc đường tra mắt song
Ceftazidim là kháng sinh cephalosporin thế hệ 3, phổ rộng, hoạt tính cao
kháng P.aeruginosa, hoạt tính yếu hơn trên tụ cầu và liên cầu. Ceftazidim có hoạt
tính in vitro kháng lại các vi khuẩn Gram âm gồm: P.aeruginosa; P.pseudomallei;
họ Enterobacteriaceae gồm Citrobacter, và Enterobacter spp.; E.coli; Klebsiella
spp.; cả Proteus sinh indol và không sinh indol; Prividencia; Salmonella; Serratia;
Shigella spp và Yersinia enterocolitica [1],[13]. Với các vi khuẩn Gram dương,
ceftazidim có hoạt tính kháng một số tụ cầu và liên cầu, nhưng tụ cầu kháng
Methicilin, Enterococci và L.monocytogenes thường bị kháng. Ceftazidim có hoạt
tính kháng vi khuẩn kị khí, mặc dù hầu hết các dòng B.fragilis và C.difficile đã
kháng [13]. Tuy nhiên, tình trạng kháng ceftazidim cũng diễn ra phức tạp. Kháng
ceftazidim được quan sát thấy ở 51,6% K.pneumoniae trong một nghiên cứu trên
những bệnh nhân giảm bạch cầu có sốt, và hầu hết đều do sự sản sinh ESBL, số liệu
năm 2000 [23]. Các vi khuẩn kháng Ceftazidim với tỷ lệ cao là: E.coli kháng
ceftazidim 18,7%, Enterobacter kháng ceftazidim 37,3%, S.aureus kháng
ceftazidim 46,2%, P.aeruginosa kháng Ceftazidim 47,6% [1].
Ceftazidim thải trừ ở dạng chưa chuyển hóa qua thận. Do đó, ở bệnh nhân có
chức năng thận suy giảm, liều nên được giảm. Sau liều tải ban đầu là 1g, liều duy trì
được chỉnh dựa vào độ thanh thải creatinin [8],[10],[13].
9
Giống như các kháng sinh beta - lactam, phản ứng quá mẫn gây tử vong
nghiêm trọng đã được báo cáo với ceftazidim. Trường hợp phản ứng quá mẫn
nghiêm trọng, điều trị với ceftazidim phải dừng ngay lập tức và thực hiện các
phương pháp cấp cứu ngay. Ceftazidim cũng nằm trong các kháng sinh được báo
cáo về viêm ruột kết màng và viêm ruột kết màng giả, nghiêm trọng nhất có thể dẫn
đến tử vong. Do đó việc xem xét, theo dõi các triệu trứng ở bệnh nhân tiêu chảy nên
được thực hiện trong hay sau khi dùng ceftazidim. Dừng liệu pháp với ceftazidim
và áp dụng điều trị đặc biệt với C. difficile nên được xem xét [8],[10]. Điều trị
gây bệnh xâm nhập qua vết thương xuyên nhãn cầu hở gây nên tình trạng VMNN.
Điều trị VMNN sau vết thương xuyên nhãn cầu là sự phối hợp của 3 khâu:
kháng sinh, corticoid, và cắt dịch kính. Lựa chọn kháng sinh theo kháng sinh đồ là
tốt nhất nhưng kháng sinh đồ chỉ có sau vài ngày (nếu có thể) dẫn tới việc điều trị
muộn. Vì vậy thường bắt đầu với kháng sinh phổ rộng hay phối hợp kháng sinh. Để
đạt được hiệu quả điều trị, kháng sinh phải có khả năng thấm tốt vào buồng dịch
kính với nồng độ tiêu diệt được vi khuẩn mà không gây độc cho các mô nội nhãn.
Đường dùng: toàn thân (tiêm, uống), tiêm nội nhãn, tiêm cạnh nhãn cầu, tiêm dưới
kết mạc, tra tại chỗ. Trong đó tiêm kháng sinh nội nhãn là cách dùng hiệu quả nhất.
Điều trị với ceftazidim: là kháng sinh đầu tay để tiêm nội nhãn trên các vi
khuẩn Gram âm. Đối với người lớn: tiêm nội nhãn: 2,25 mg/0,1 ml; liều toàn thân:
truyền TMC 500mg, 1g hay 2g cứ mỗi 12h. Đối với trẻ em: liều tiêm nội nhãn:
giống liều người lớn, liều toàn thân: cho trẻ em trên 2 tháng tuổi là 30-
100mg/kg/ngày chia 2-3 lần [2].
1.1.3.3. Một số nghiên cứu về độ nhạy của ceftazidim trong bệnh nhiễm khuẩn
mắt
Ceftazidim là một trong những kháng sinh vẫn còn khá nhạy cảm với các vi
khuẩn Gram âm gây bệnh tại mắt. Trong một nghiên cứu tại Tây Ban Nha về phổ
kháng khuẩn và sự nhạy cảm của kháng sinh từ bệnh nhân viêm mủ nội nhãn từ
năm 1996 đến năm 2008, ceftazidim cùng với vancomycin và amikacin là những
11
kháng sinh còn nhạy cảm 100% với các chủng vi khuẩn phân lập được [9]. Tại Mỹ,
tỷ lệ nhạy cảm của ceftazidim khá cao với những vi khuẩn phân lập từ bệnh phẩm
nội nhãn trên những bệnh nhân viêm mủ nội nhãn: một nghiên cứu của hiệp hội
nhãn khoa Mỹ trong vòng 25 năm, ceftazidim được thử với 94 vi khuẩn Gram âm
phân lập được, cho thấy độ nhạy cảm 91.5% với 86 trường hợp nhạy cảm, 2 trường
hợp trung gian, 6 trường hợp kháng [17]; nghiên cứu khác trong vòng 10 năm 2002
dùng hàng ngày khác nhau, sẽ có vấn đề xảy ra. Phương pháp tính toán dựa trên liều
sử dụng hàng ngày (DDD) sẽ giải quyết vấn đề này.
Tính toán dựa trên liều DDD: phương pháp tính toán dưa trên liều DDD
được dùng để đo lường và so sánh việc sử dụng kháng sinh trong một quần thể bệnh
nhân. Nó được sử dụng chính để đánh giá sự sử dụng kháng sinh tại một cơ sở,
nhưng cũng dùng để đánh giá việc sử dụng kháng sinh ở ngoài bệnh viện ở những
nước và vùng có đặc điểm địa lý đặc biệt. Bằng việc tính toán liều DDD, tổng số
gram được chia cho liều DDD, thể hiện liều hàng ngày của người lớn điển hình.
Cách tính này thường được báo cáo dưới liều DDD trên 1000 bệnh nhân hoặc trên
1000 ngày nằm viện.
Đánh giá về dược động học của kháng sinh sử dụng: Những phương pháp đo
lường việc sử dụng kháng sinh đã đề cập không giải quyết được sự khác nhau về sử
dụng thuốc của nhiều bệnh nhân do sự đa dạng trong mỗi bệnh nhân và giữa các
bệnh nhân với nhau. Những cách tính toán này cũng mặc định với một liều kháng
sinh giống nhau sẽ gây ra cùng một tác dụng trên những bệnh nhân khác nhau.
Phương pháp đánh giá trên đặc tính dược động học của thuốc sẽ ước tính thuốc
được sử dụng thay thế cho sự sử dụng thuốc của bệnh nhân, bằng cách đo lường
trực tiếp nồng độ thuốc trong mỗi bệnh nhân hoặc bằng cách đánh giá dược động
học quần thể. Cách đánh giá này không chắc chắn có thể được thực hiện trên quần
thể lớn vì những xét nghiệm nồng độ thuốc đủ để đánh giá được việc sử dụng thuốc
thường xâm lấn và tốn kém [11].
13
1.2.2. Đánh giá định tính
1.2.2.1. Khái niệm:
Khái niệm đánh giá sử dụng thuốc (DUE) được hiểu là chương trình đánh giá
sử dụng thuốc liên tục, hệ thống, dựa trên các tiêu chuẩn để đảm bảo sử dụng thuốc
phù hợp. Nếu phác đồ điều trị được xác định là không phù hợp, can thiệp với nhà
giá sử dụng thuốc nên được thiết lập bởi DTC bằng cách sử dụng nguồn tài liệu dựa
trên bằng chứng và tham khảo các chuyên gia địa phương và quốc tế.
Sau khi thành lập các tiêu chuẩn, DTC phải định xác định những giới hạn
hay tiêu chuẩn để đánh giá các tiêu chuẩn đó. Những giới hạn này thường là phần
trăm mà các tiêu chuẩn có thể đạt tới hoặc vượt quá. Trên lý tưởng, sẽ thường là
100%, tuy nhiên thực tế, giá trị thấp hơn sẽ phù hợp hơn để lý giải cho những
trường hợp kê đơn ngoại lệ. Do đó, giới hạn 90 - 95% được sử dụng điển hình cho
các tiêu chuẩn, tuy nhiên mỗi trường hợp cá biệt phải được phân tích một cách cẩn
thận trước khi đưa đến kết luận.
Bước 5: Thu thập số liệu và tính toán kết quả
DUEs có thể được tiến hành hồi cứu hay tiến cứu. Phân tích tiến cứu được
tiến hành khi thuốc chuẩn bị được phát cho bệnh nhân, còn hồi cứu được thực hiện
bằng cách sử dụng những bảng tổng hợp hay nguồn dữ liệu khác để khái quát việc
sử dụng thuốc theo những tiêu chuẩn đã xây dựng. Đánh giá tiến cứu thu thập số
liệu trên đơn thuốc, gồm các tiêu chuẩn: chỉ định, liều, độ dài đợt điều trị, dạng bào
chế và đường dùng, tương tác có thể, lựa chọn thuốc và liệu pháp phù hợp, lặp lại
liệu pháp, số lượng thuốc được cấp phát. Phân tích hồi cứu tiến hành thu thập số
liệu trên đơn thuốc, hồ sơ bệnh án, hay kết quả xét nghiệm, gồm các tiêu chí: theo
dõi điều trị, theo dõi việc sử dụng của các thuốc có nguy cơ cao, tác dụng không
mong muốn, sử dụng đúng các thuốc “generic” hay các thuốc tương đương điều trị,
kết quả trên bệnh nhân từ liệu pháp dùng thuốc.
Bước 6: Phân tích dữ liệu
15
Dữ liệu được thu thập, làm sạch, phân tích để xác định tiêu chuẩn hay giới
hạn có đạt hay không, phân tích dữ liệu gồm các bước quan trọng cần thức hiện:
Lập bảng kết quả cho từng tiêu chí, phân tích kết quả để xác định xem có đạt tiêu
chuẩn và các giới hạn có bị vượt quá không? Xác định lý do vì sao giới hạn không