Điều tra, đánh giá tài nguyên cây thuốc ở vườn quốc gia vũ quang, tỉnh hà tĩnh - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

HOÀNG MINH NGUYÊN

ĐIỀU TRA, ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN CÂY
THUỐC Ở VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG,
TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội 2008


TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

HOÀNG MINH NGUYÊN

ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN CÂY
THUỐC Ở VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG,
TỈNH HÀ TĨNH

Chuyên nghành: Quản lý tài nguyên rừng
Mã số: 06 62 68

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS. Trần Minh Hợi


Hà Nội, ngày 18, tháng 8 năm 2008
Tác giả

Hoàng Minh Nguyên


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ……………………………………………………………… 1
Chương 1- TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG
SINH HỌC VÀ NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC…………..

4

1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới……………………………… 4
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam………………………………

5

Chương 2- MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU………………………………………….........................

10

2.1. Mục tiêu…………………………………………….......................

10

2.2. Nội dung ………………………………………………………….


3.1.5. Khí hậu, thủy văn ………………………………….. 17
3.1.6. Thảm thực vật……………………………………...

17

3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ……………………………………….

18

3.2.1. Dân số, dân tộc ……………………………………

18

3.2.2. Thu nhập và đời sống ……………………………..

18

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU………………………………..

21

4.1. Đa dạng về thành phần loài ……………………………………

21

4.2. Đa dạng về dạng sống ……………………………………………

21

Chương 4.

Quang…………….
4.8.1. Thực trạng quản lý tài nguyên rừng trên địa bàn………

47

4.8.2. Thực trạng và tiềm năng phát triển cây thuốc ở VQG Vũ
quang …………………………………………………………… 49
4.8.3. Các giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng…… 50
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ……………………………….

54

Kết luận………………………………………………

55

Kiến nghị …………………………………………….

56


CÁC TỪ VIẾT TẮT

ĐDSH

Đa dạng sinh học

FIPI

Viện Điều tra Quy hoạch Rừng


Nhà xuất bản

TNCT

Tài nguyên cây thuốc

UNEP

Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc

VQG

Vườn Quốc gia

WB

Ngân hàng Thế giới

WWF

Quỹ Bảo tồn thiên nhiên thế giới


DANH MỤC CÁC BẢNG

TT

Nội dung


thuốc ở VQG Vũ
29
Quang……………………………………………..
Phương pháp chế biến các loài làm thuốc ở VQG Vũ Quang……
30
Phân bố số loài theo số lượng bộ phận sử dụng…………………
31
Tần số sử dụng các loài theo bộ phận……………………………
32
Nguồn gốc các cây thuốc ở VQG Vũ Quang……………………… 36
Phân bố của các loài cây thuốc theo môi trường sống ở VQG Vũ
Quang……………………………………………………………….. 37
Các loài cây thuốc có giá trị cao về mặt bảo tồn ở VQG Vũ Quang.. 43

4.10

4.11
4.12
4.13
4.14
4.15
4.16

25

4.17 Những loài cây thuốc có giá trị kinh tế ở VQG Vũ Quang ………
45
4.18 Lựa chọn tập đoàn cây trồng để phát triển TNCT …………………. 52
DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ


xem nhẹ cách chữa bệnh truyền thống để tôn vinh những sản phẩm được bào chế
chủ yếu từ các chất hoá học - thuốc tây hiện nay, “trong hoạt động bảo tồn
ĐDSH thì những kiến thức bản địa cần phải được đánh giá ngang tầm với những
hệ thống kiến thức khác” [37]. Cả Đông y và Tây y đều có vai trò rất lớn trong
sự tiến bộ của loài người và tài nguyên thực vật không những là nguồn nguyên
liệu chủ yếu trong Đông y mà nó cũng rất quan trong trong Tây y. Theo Lancet
(1994) thì có hơn 25% đơn thuốc ở tổ chức các nước hợp tác kinh tế và phát triển
(OECD) và khoảng 60% đơn thuốc ở Đông Âu vẫn bao gồm các sản phẩm có
nguồn gốc từ thực vật bậc cao [40]. Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam như


2

hiện nay thì sự phân hoá giàu nghèo, mức sống giữa những cá nhân, các vùng
miền ở đồng bằng và miền ngược có sự chênh lệch rất lớn, do đó không phải ai
cũng có điều kiện để có thể tiếp cận được với những dịch vụ y tế đắt tiền, y học
dân tộc có thể đảm đương được một phần rất lớn để giải quyết vấn đề này, vì khả
năng chữa bệnh của chúng là điều không thể phủ nhận, không phải cứ nhất thiết
phải dùng hoá phân tích một cách rõ ràng rồi mới dùng, chúng ta không đợi
nghiên cứu xong rồi mới đem ra áp dụng vì “những kinh nghiệm chữa bệnh của
ông cha đã được chứng minh trên người thực, bệnh thực từ bao đời nay rồi” [20].
Mặt khác trong những năm qua, nhà nước ta cũng xác định cần phải phối hợp
Đông và Tây y mới có thể đem lại những lợi ích cho cả cộng đồng, như vậy xã
hội chúng ta đã thừa nhận và coi trọng y học cổ truyền. Việt Nam có điều kiện tự
nhiên nhiệt đới gió mùa rất thuận lợi cho các loài thực vật phân bố và nước ta
được xem là một trong những trung tâm ĐDSH của thế giới. Theo thống kê của
Viện Dược liệu - Bộ Y tế, từ năm 1961-2004, ở Việt Nam có khoảng 3.948 loài
thực vật và nấm, thuộc 307 họ có giá trị sử dụng làm thuốc, trong đó khoảng
80% là những loài cây thuốc mọc tự nhiên trong rừng, nhưng hiện nay những
khu rừng nhiệt đới đa dạng, nơi sinh sống lý tưởng cho những loài này đang bị

Chương. 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH
HỌC VÀ NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC
1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nền y học cổ truyền dùng cây cỏ để làm thuốc có mặt từ rất sớm ở hầu hết
các nơi trên thế giới. Ở miền Địa Trung hải, miền trung châu Âu đã được biết từ
thời Galien, Điốtcôride và Hipôcrat, các thầy thuốc thời trung cổ đã dùng những
cỏ cây, vỏ, rễ… để chữa bệnh, họ đã xây dựng được một nền lý thuyết khá cơ
bản, từ đó làm nền tảng cho nền y học hiện đại, một số cây thuốc đó dưới dạng
này hay dạng khác được dùng làm nguyên liệu chế các chế phẩm của Tây y.
Nhưng nền y học phương Đông đã sử dụng một số lượng loài làm thuốc lớn hơn
nhiều. Sau khi thực dân Pháp chiếm đóng Việt Nam, trong giai đoạn này đã xuất
hiện những nhà khoa học châu Âu để tâm nghiên cứu về nền y học Việt nam,
trong đó phần nhiều họ quan tâm nghiên cứu về thực vật chí và nghiên cứu về
cây thuốc.
Đầu tiên là những bút kí về y học của Tarell và cộng sự sau cuộc viễn du
miền Đông Dương, nhưng đây chỉ mới là những tài liệu rời rạc chưa được công
bố một cách cụ thể. Regnault (1902) đã nghiên cứu một cách cụ thể hơn, ông đã
cho xuất bản cuốn sách về nền y học cổ truyền Trung Quốc và Việt Nam, tác
phẩm này đã sưu tầm được 494 loài cây làm thuốc, và có tên gọi Latinh. Công
trình về dược liệu Việt Nam được E.M.Petrot và Paul Hunrier nghiên cứu và cho
xuất bản vào năm 1907. Tiếp đó là công trình của nhà thực học người Pháp
Pétélot và Crévost, được xuất bản gồm 2 tập (1952-1953) về “Cây thuốc của
Campuchia, Lào và Việt Nam”[20]. Ở Nga, cũng có nhiều nhà thực vật quan tâm
nghiên cứu về cây thuốc như I. I. Brekhman, A. F. Hammerman, I. V.
Gruxvitxki và A. A. Iaxenko, và đã xuất hiện Dược điển, những công trình này


5


soạn cuốn “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ Thực vật Hạt kín ở Việt Nam”
giới thiệu 265 họ, khoảng 2300 chi thuộc ngành Hạt kín ở Việt Nam[2]. Nguyễn
Nghĩa Thìn (1997) đã tổng hợp và chỉnh lí dựa trên bảng phân loại của Brummitt
và thống kê được hiện nay Việt Nam có khoảng 11.178 loài thuộc 395 họ và
2.582 chi. Tiếp đó, Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã xuất bản cuốn “Cẩm nang
Nghiên cứu đa dạng sinh vật”[28], đây là công trình có ý nghĩa rất lớn cho
những người điều tra và nghiên cứu về thực vật, nó giúp người đọc có thể bước
đầu tiếp cận được với phương pháp nghiên cứu và nhận biết các họ thực vật ngay
tại hiện trường.
Trên đây là những công trình nghiên cứu mang tính cơ bản, được thực hiện
cho toàn bộ khu hệ thực vật Việt Nam, để phục vụ cho công tác bảo tồn một cách
có hiệu quả cho một khu vực nhất định như VQG hay khu BTTN thì cần phải
xác định một cách cụ thể các yếu tố như thành phần, phân bố, điều kiện tự nhiên,
kinh tế- xã hội… từ đó mới có những đề xuất sát thực với các điều kiện của các
khu bảo tồn.
Nền y học cổ truyền của Việt Nam đã xuất hiện từ rất sớm, ngay từ thế kỉ
XIV đời Trần điển hình có danh y Tuệ Tĩnh, ông là tác giả của hai cuốn sách
“Nam dược thần hiệu”, trong đó đã ghi chép 496 cây thuốc và vị thuốc, tập sách
thứ hai là “Hồng nghĩa giác tư y thư” có 600 vị thuốc và cây thuốc nam, sách
của ông đã tổng kết được nhiều bài thuốc và phương pháp chữa bệnh rất có ý
nghĩa đối với nền y học nước nhà[20]. Tiếp đó là một danh y nổi tiếng Hải
Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, đây là người có ảnh rất lớn đến nền y học cổ
truyền của nước nhà thông qua tác phẩm “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” được
viết vào năm 1770 và được in ra vào năm 1885, bộ sách gồm 28 tập và chia
thành 66 cuốn, trong đó giới thiệu hơn 700 vị thuốc và phương thuốc nam “ Hải
Thượng Lãn Ông đã tiếp thu có phê phán, chọn lọc rồi vận dụng những kiến thức


7


hơn 2010 loài cây thuốc khác nhau, trong đó đi sâu vào việc mô tả hình thái, chỉ
mới nêu ra mặt công dụng. Khu BTTN Pù Huống (2006) đã tiến hành đề tài
“Điều tra khảo sát đánh giá tài nguyên cây thuốc ở khu BTTN Pù Huống” [16],
đề tài đã đưa ra 374 loài thực vật làm thuốc thuộc 5 ngành, 124 họ và 286 chi.
Mới đây nhất vào năm 2007, nhà xuất bản Hà Nội cho xuất bản cuốn “Cây
thuốc, Vị thuốc, Bài thuốc Việt Nam”[6] của hai dược sỹ Tào Duy Cần và Trần
Sỹ Viên, trong đó đã thống kê được 380 loài cây thuốc và 161 bài thuốc chữa
được nhiều nhóm bệnh khác nhau.
Trên đây là những nghiên cứu điển hình đi trước có ý nghĩa lớn về y học,
bao gồm những thông tin như thành phần, mô tả hình thái, công dụng.
Nghiên cứu ở VQG Vũ Quang
VQG Vũ Quang đã được quan tâm nghiên cứu từ năm 1992 với các công
trình điển hình như:
Vào tháng 5/1992, đoàn nghiên cứu gồm Bộ NN&PTNT, Viện Điều tra quy
hoạch rừng, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Đại học Vinh và WWF đã
khảo sát các loài chim, thú, bò sát, lưỡng cư, bướm và các loài thực vật.
Tháng 2-3/1993, Danh mục đầu tiên về các loài thú, chim, bò sát, lưỡng
cư, cá, bướm và thực vật đã được Viện điều tra quy hoạch rừng và WWF tiến
hành.
Tháng 1/1999, WWF đã tiến hành khảo sát hệ thực vật Vũ Quang và lưu
dữ tiêu bản ở phòng thực vật.
Nghiên cứu điển hình về thực vât được A. Kuznetsov và Vũ Văn Dũng
tổng hợp và công bố trong cuốn “Quy hoạch không gian để bảo tồn thiên nhiên,
Khu Bảo tồn thiên nhiên Vũ Quang”[11] với tổng số 423 loài thực vật. Năm
2005, “dự án đầu tư xây dựng và phát triển VQG Vũ Quang”[24], do Phân viện
Điều tra Quy hoạch rừng Bắc Trung bộ đã công bố 523 loài thực vật khác nhau.


9


- Các loài thuốc có giá trị hàng hoá cao
- Các giải pháp bảo tồn và phát triển cây thuốc
2.3. Phương pháp nghiên cứu
*. Khảo sát thực địa: về cơ bản cũng giống như phương pháp điều tra thực
vật chung, nhưng nó có một số đặc điểm khác như điều tra cây thuốc cần phải có
thêm những thông tin như: Công dụng, cách khai thác, chế biến….Chúng tôi sử
dụng phương pháp điều tra cây thuốc của Viện Dược liệu (Bộ Y tế). Đặc điểm
chung của những phương pháp này là thống kê tất cả các cây thuốc hiện có trên
các tuyến điều tra, đi từ thấp lên cao qua các kiểu rừng, khe suối.


11

*. Phương pháp PRA: cần phải kết hợp cả phương pháp này để phát huy tối
đa năng lực của cộng đồng thông qua sự tham gia tích cực của họ vào hoạt động
điều tra trên thực địa, đồng thời phân tích những áp lực lên tài nguyên rừng và
tìm các giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc.
*. Phương pháp RRA (phương pháp điều tra nhanh nông thôn): Đây là
phương pháp để khai thác những thông tin thông qua phỏng vấn những cá nhân
và gia đình bằng nhiều câu hỏi như: Cây thuốc nào mà bác biết cách sử dụng? nó
có ở đâu?, khai thác nó như thế nào? nó có bán đắt không?...
* Công tác ngoại nghiệp
- Thu hái và xử lý mẫu
Phải xác định rõ ràng mục tiêu chính của công tác điều tra là: Điều tra
thành phần loài, phân bố, trữ lượng, công dụng, cách chế biến và sử dụng thuốc
trong nhân dân, đây là cơ sở để phân bổ nhân lực, xác định tuyến và tìm hiểu
những thông tin cần thiết.
- Lựa chọn địa bàn nghiên cứu và lập tuyến điều tra
Để tiếp cận được những thông tin có giá trị cần phải lựa chọn những địa
điểm và vị trí tuân theo những nguyên tắc như: chọn những khu vực của người

Thống kê loài, chi và họ theo từng ngành từ thấp lên cao, trên cơ sở dựa vào
bảng danh lục đã xây dựng, tính tỉ lệ % của các taxon để từ đó thấy được mức độ
đa dạng của nó.
- Đánh giá đa dạng loài của các họ.
Xác định họ có nhiều loài, tính tỉ lệ % số loài các chi so với toàn bộ số loài
của hệ thực vật làm thuốc.
- Đánh giá đa dạng loài của các chi
Xác định chi nhiều loài, tính tỉ lệ % số loài các chi đó so với toàn bộ số loài
của cả hệ thực vật cây thuốc.


13

- Đánh giá mức độ giá trị và mức độ đe dọa
Dựa vào các tài liệu: Sách Đỏ Việt Nam, Phần II – Thực vật (2007)[5];
Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam, 2006[27] và Nghị định 32/2006/NĐCP [10]để
phân tích thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá này.
- Đánh giá mức độ các nhóm công dụng cây thuốc.
Dựa vào thông tin thu thập được về công dụng và phương pháp chế biến
của người dân bản địa, kết hợp với các tài liệu về cây thuốc đã được xuất bản,
thống kê các loài theo các nhóm công dụng như: Các loài chữa bệnh ngoài da,
chữa bệnh dạ dày, cao huyết áp…. để từ đó thấy được sự đa dạng về công dụng
của cây thuốc.
- Đánh giá sự phân bố tài nguyên cây thuốc
Đánh giá theo các tuyến khảo sát trên thực địa khi đi qua các dạng sinh
cảnh khác nhau, vì khả năng về thời gian và tài chính có hạn nên chỉ có thể tiến
hành đánh giá mức độ nhiều hay ít theo mức độ xuất hiện của nó. Để từ đó thấy
được sinh cảnh thích hợp cho loài.
- Đánh giá giá trị kinh tế của tài nguyên cây thuốc
Dựa vào điều tra giá bán các loại cây thuốc ở địa bàn nghiên cứu và các tài

LSNG
LSNG

Đơn vị tính

Giá trị hiện tại

đ/ha/năm
đ/ha/năm

1.249.760
542.000

Giá trị tiềm
năng
5.185.129
1.716.500

Đó chỉ mới là giá trị dược liệu còn những giá trị khác nữa như lương thực,
thực phẩm, nguyên liệu thủ công nghiệp, mỹ nghệ… nếu tính tổng giá trị thì sẽ
rất lớn. Theo thống kê của Bộ Thương mại trong một vài năm về tình hình xuất
nhập khẩu dược liệu của nước ta như sau:
Bảng 2.2. Giá trị xuất nhập khẩu nguồn dược liệu trong những năm
trước đây.
Năm
2001
2002
2003
2004


hay một lĩnh vực nào đó, vì hoạt động này cần phải huy động nhiều lĩnh vực kiến
thức khác nhau. “Người chủ rừng phải biết huy động kiến thức sâu rộng và phải
biết kết hợp kiến thức về sinh vật học, sinh thái học, thổ nhưỡng học và đặc biệt
là kiến thức lâm học. Đồng thời phải biết đặt đối tượng tác động trong bối cảnh
vận động của yếu tố kinh tế - xã hội” [14]. Do đó, khi đề xuất các giải pháp bảo
tồn tài nguyên cây thuốc phải kết hợp giữa giải pháp kỹ thuật và giải pháp kinh
tế - xã hội.
Luận điểm khoa học
Sau khi tiến hành tra cứu các tài liệu nghiên cứu về thực vật, những vấn đề
trong hoạt động bảo tồn và phát triển TNCT ở khu vực VQG Vũ Quang, chúng
tôi có thể đưa ra những luận điểm như sau:
- Hệ thực vật cây thuốc tại VQG Vũ Quang đa dạng về số lượng các taxon
so với toàn khu vực Việt Nam.
- Người dân địa phương ở VQG Vũ Quang có nhiều kinh nghiệm quý trong
khai thác, chế biến và sử dụng cây thuốc.
- Còn có những vấn đề (mâu thuẫn) trong hoạt động bảo tồn ĐDSH và Phát
triển kinh tế - xã hội ở khu vực.


16

Chương 3.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1. Điều kiện tự nhiên
KBTTN Vũ Quang thuộc tỉnh Hà Tĩnh, nằm ở miền trung Việt Nam, được
thành lập vào năm 1986, tổng diện tích 16.000 ha. Năm 2002, VQG Vũ quang
được chính phủ có quyết định công nhận với diện tích 55.035 ha. Vũ Quang
thuộc vùng địa lý sinh học Bắc Trung Bộ, là một mắt xích quan trọng trong
chuỗi các khu bảo tồn thuộc dãy Trường Sơn. Đây là khu vực vẫn còn giữ được
những đặc điểm của rừng nguyên sinh, ít bị tác động bởi hoạt động đốt nương

hậu chung của miền trung Việt Nam. Ở khu vực miền núi, có độ cao lớn, là sự
kết hợp của chế độ khí hậu Lào và Miền trung Việt Nam. Khí hậu trong năm
được hình thành 3 mùa rõ rệt: mùa đông từ tháng 12 đến tháng 3, thời tiết lạnh,
độ ẩm cao; mùa hè từ tháng 4 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 11,
lượng mưa rất lớn nên có thể gây lũ lụt.
- Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình cao nhất vào tháng 7, nhiệt độ trung bình tháng là 290C
và nhiệt độ trung bình cực đại là 34,70C. VQG Vũ Quang có sự biến đổi độ cao
rất lớn nên nhiệt độ thay đổi theo độ cao- độ cao tăng thêm 100 m thì nhiệt độ
giảm 0,60C.
- Lượng mưa
Tổng lượng mưa trung bình năm Hương Khê là 2418 mm và ở Hương Sơn
là 23900 mm. Lượng mưa chủ yếu tập trung vào tháng 9 và tháng 10. Số ngày
mưa trong tháng phân bố khá đều trong năm. Mùa đông lượng mưa không lớn
(45 – 64 mm), chủ yếu là mưa phùn.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status