Điều tra, đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc ở vườn quốc gia tam đảo và vùng đệm làm cơ sở cho công tác bảo tồn và sử dụng bền vững - Pdf 49

1

MỞ ĐẦU
Việt Nam là một trong những Trung tâm Đa dạng sinh học (ĐDSH) của
thế giới, với hệ động, thực vật rất phong phú. Theo thống kê chưa đầy đủ,
hiện nước ta có khoảng 10.000 loài thực vật có mạch đã được mô tả, trong đó
có đến 1/3 số loài cây cỏ đã và đang được sử dụng để làm thuốc chữa bệnh.
Trải qua lịch sử hơn bốn nghìn năm hình thành và phát triển, nhân dân
ta đã không ngừng tìm tòi, nghiên cứu, tích luỹ kinh nghiệm về mọi mặt trong
cuộc sống. Đặc biệt là việc sử dụng các cây cỏ quanh mình để chăm sóc, bảo
vệ sức khỏe cho bản thân, cho gia đình và cho cả cộng đồng. Do sự khác biệt
về phong tục tập quán, về hệ thực vật mà mỗi dân tộc, mỗi vùng lại có những
kinh nghiệm, kiến thức khác nhau trong việc sử dụng cây thuốc nam để chữa
các loại bệnh.
Trong những năm gần đây, dưới áp lực của phát triển kinh tế và sự
bùng nổ dân số nên nguồn tài nguyên rừng nói chung, cây thuốc nói riêng
đang bị suy thoái nghiêm trọng. Những cây thuốc có giá trị được thương mại
hoá, cung cấp cho các ông thầy thuốc, những công ty dược phẩm với giá
thành ngày càng cao. Do vậy chúng đang bị khai thác cạn kiệt. Những cây ít
giá trị hoặc chưa được nghiên cứu cũng bị tàn phá nhường chỗ cho việc sản
xuất nông nghiệp, công nghiệp. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu gây trồng cây
thuốc còn hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng của thị trường cũng là
nguy cơ rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của cây thuốc tự nhiên.
Các Vườn Quốc gia (VQG) và khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) gần
như là thành luỹ cuối cùng bảo vệ cho tương lai của các loài động, thực vật
nói chung, cây thuốc nói riêng cũng đang bị xâm hại. Trong số đó có VQG
Tam Đảo, với nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng nhưng đang phải đối mặt
với sức ép rất lớn từ nhu cầu cuộc sống của người dân vùng đệm, nơi mà cuộc


2

thổ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra nhiều bằng chứng xác
thực. Trong cuốn “Lịch sử liên đại cây cỏ” ấn hành năm 1878, Charles
Pikering đã chỉ rõ: ngay từ năm 4271 trước Công nguyên (TCN) người dân
khu vực Trung Cận Đông đã sử dụng nhiều loại cây (sung, vả, cau dừa,..v.v.)
để làm lương thực và chữa bệnh [43].
Dựa trên các bằng chứng khảo cổ, Borisova B.(1960) chỉ ra rằng, vào
khoảng 5.000 năm TCN, cây thuốc đã được sử dụng rộng rãi và vì vậy là mục
tiêu chiếm đoạt (cùng với phụ nữ, các cây lương thực, cây có hoa đẹp) trong
các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc. Như vậy, tầm quan trọng của các cây
làm thuốc được loài người nhận thức rất sớm; việc thu thập, nhập nội các
giống cây thuốc quý được thực hiện ngay từ thời cổ đại bởi các chiến binh
[15].


4

Châu Úc được mệnh danh là cái nôi của nền văn minh cổ xưa nhất trên
thế giới. Người ta cho rằng, các thổ dân châu Úc đã định cư ở đây từ hơn
60.000 năm về trước và hình thành nên những kiến thức thực tiễn về các loài
cây thuốc bản xứ. Nhiều loài trong số này như cây Bạch đàn xanh
(Eucalyptus globulus) duy nhất chỉ có ở châu Úc, vốn được sử dụng rất hữu
hiệu trong việc chữa bệnh. Tuy nhiên, phần lớn kiến thức về dược thảo của
thổ dân đã bị mất đi khi người châu Âu đến định cư. Ngày nay, đa phần các
dược thảo ở châu Úc bắt nguồn từ phương Tây, Ấn Độ, Trung Quốc và các
nước vùng ven Thái Bình Dương .
Dược thảo ở châu Âu rất đa dạng và phần lớn dựa trên nền tảng của y
học truyền thống cổ điển. Người đầu tiên phải kể đến là Galen (131-200
SCN), một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hưởng
sâu sắc đến sự phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc. Ông đã viết
hàng trăm cuốn sách và đã được áp dụng trong ngành Y châu Âu hơn 1500

Beitar đã xuất bản cuốn “Các vấn đề y khoa” thống kê chủng loại cây thuốc ở
Bắc Phi [1].
Các nhà thực vật người Pháp được coi là những người đầu tiên của
châu Âu nghiên cứu về thực vật Đông Nam Á, với họ sau những cánh rừng
nhiệt đới còn tiềm ẩn rất nhiều giá trị. Vào những năm đầu thế kỷ XX, trong
chương trình nghiên cứu về thực vật Đông Dương, Perry công bố 1.000 loài
cây và dược liệu tại Đông Nam Á đã được kiểm chứng và gần đây (1985)
tổng hợp thành cuốn sách “Medicinal Plants of Eats and Southeast Asia” [48].
Nói đến dược thảo của châu Á không thể không nhắc đến hai quốc gia
có nền y học cổ truyền lâu đời là Trung Quốc và Ấn Độ. Lịch sử nền Y học
Trung Quốc đầu thế kỷ thứ II, người ta đã biết dùng thuốc là các loài cây cỏ
để chữa bệnh như: sử dụng nước cây Chè (Thea sinensis) đặc để rửa vết
thương và tắm ghẻ [37]. Trong cuốn sách “ Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản
1985 đã liệt kê một loạt các cây cỏ chữa bệnh như: Rễ gấc (Momordica


6

cochinchinensis) chữa nọc độc, viêm tuyến hạch, hạt gấc trị sưng tấy, đau
khớp, sốt rét, vết thương tụ máu; Cải soong (Nasturtium officinale) giải nhiệt,
chữa lở mồm, chảy máu chân răng, bướu cổ. Từ những kinh nghiệm dân gian,
các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loài cây thuốc, về
các sản phẩm chiết từ cây cỏ để chữa trị và đã đúc rút thành những cuốn sách
có giá trị. Từ đời nhà Hán (168 năm TCN) tại Trung Quốc trong cuốn sách
“Thủ hậu bị cấp phương” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loài cây
cỏ [37]. Vào giữa thế kỷ XVI Lý Thời Trân đã thống kê được 12000 vị thuốc
trong tập “Bản thảo cương mục” được NXB Y học trích dẫn 1963 [40]. Và
gần đây nhất cuốn sách “ Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản năm 1985 đã liệt
kê hầu hết các loài cây cỏ chữa bệnh có ở Trung Quốc được biết từ trước tới
nay [37].

Cùng với phương thức dùng cây thuốc chữa bệnh theo lối cổ truyền và
dân gian, các nhà khoa học trên thế giới còn đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu cơ
chế và các hợp chất hoá học trong cây cỏ có tác dụng chữa bệnh. Vào thế kỷ
XVIII, một bác sĩ người Anh tên là William Withering (1741-1799) lần đầu
tiên khám phá ra công dụng chữa bệnh của cây thuốc Mao địa hoàng
(Digitalis purpurea), mở ra sự phát triển trong lịch sử y dược học [1]. Trong
nhiều loài Ba gạc (Rauwfolia sp.) chiết được chất resecpin, serpentin làm
thuốc hạ huyết áp. Chất vinblastin, vincristin được chiết xuất từ cây Dừa cạn
(Catharanthus roseus) vừa có tác dụng hạ huyết áp vừa làm thuốc chống ung
thư máu. Vài chục năm gần đây, ứng dụng các thành tựu nghiên cứu cấu trúc,
hoạt tính của các hợp chất hoá học tự nhiên, bằng con đường tổng hợp hoặc
bán tổng hợp hoá học, một số loài thuốc hiện đại có hiệu quả chữa bệnh cao
lần lượt ra đời.
Nhiều loài Hoàng Liên (Coptis spp) cũng được xếp vào danh lục thực
vật nguy cấp ở nhiều nước Đông Á. Loài Ba gạc (Rauvolfia serpentine (L.)


8

Benth. ex Kurz) đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do bị khai thác lâu đời
ở Ấn Độ, Bănglađét, Srilanka, Thái Lan [46].
Chữa bệnh bằng cây cỏ đang dần trở thành xu hướng của thế giới.
Trong khoảng 30 năm gần đây, Viện Ung thư Hoa Kỳ (CNI) đã điều tra
nghiên cứu sàng lọc hơn 40.000 mẫu cây thuốc, phát hiện hàng trăm cây
thuốc có khả năng chữa trị bệnh ung thư, 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế
phẩm có dược tính mạnh được điều chế từ một loài Hoa hồng (Cantharanthus
roseus). Đặc biệt ở Madagasca, người ta dùng cây này để chữa bệnh máu
trắng cho trẻ em và rất hiệu quả, đã làm tăng tỷ lệ sống của trẻ em từ 10 lên
đến 90% [32], [34].
Nhận thức rõ giá trị chữa bệnh của các cây thuốc chính là hợp chất tự

Harmann (1988), trong vòng hơn 100 năm trở lại đây, có khoảng 1.000 loài
thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới 60.000 loài gặp rủi ro hay sự tồn tại của
chúng bị đe doạ vào thế kỷ tới. Trong số những loài thực vật đã mất đi hoặc
đang bị đe doạ gay gắt, có một tỷ lệ không nhỏ là thực vật làm thuốc [7].
Trong đó có khoảng 120 loài ở Ấn Độ, 77 loài ở Trung Quốc, 75 loài ở
Macoro, 61 loài ở Thái Lan, 35 loài ở Bangladet [7].
Song song với các nghiên cứu về sử dụng cây thuốc, một vấn đề cấp
bách khác được đặt ra đó là việc bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc, cùng
với những kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc trên thế giới. Tại
Hội nghị Quốc tế về Bảo tồn cây thuốc, tổ chức ở Chiềng Mai (Thái Lan) năm
1993, một lần nữa các nhà khoa học đã khẳng định tầm quan trọng và vai trò
to lớn của cây thuốc trong sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Đồng
thời, đưa ra tài liệu “ Hướng dẫn bảo tồn cây thuốc”- “Guidelines on the
Conservation of Medicinal Plants”, kêu gọi các quốc gia có những giải pháp
và chương trình hành động thiết thực để bảo tồn cây thuốc [49].
Để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khoẻ con người, cho sự
phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết phải kết


10

hợp giữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền của các dân
tộc là một vấn đề cấp thiết. Chính từ những kinh nghiệm của y học cổ truyền
đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loại thuốc có ích trong tương lai.
Cho nên, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức
quan trọng. Các nước trên thế giới đang hướng về thực hiện chương trình
Quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc [37].
1.2. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam
Việt Nam có nền Y học cổ truyền giàu truyền thống, phong phú về các
cây thuốc, bài thuốc và vị thuốc. Cùng với 4000 năm dựng nước và giữ nước,

giải phóng năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong
việc sưu tầm, nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc. Đỗ Tất Lợi- người đã
dày công nghiên cứu trong nhiều năm và đã xuất bản được nhiều tài liệu về
việc sử dụng cây, con làm thuốc của đồng bào dân tộc. Đáng chú ý nhất là
năm 1957, ông đã biên soạn bộ “ Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam”
gồm 3 tập. Năm 1961 tái bản in thành 2 tập, trong đó tác giả mô tả và nêu
công dụng của hơn 100 cây thuốc nam. Từ năm 1962 - 1965, Đỗ Tất Lợi lại
cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập. Đến
năm 1969 tái bản thành 2 tập, trong đó giới thiệu hơn 500 vị thuốc có nguồn
gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật. Ông đã kiên trì nghiên cứu, bổ sung
liên tục các loài cây thuốc trong các công trình được tái bản nhiều lần vào các
năm 1970, 1977, 1981, 1986, 1995, 1999, 2001, 2003. Lần tái bản thứ 7
(1995) số cây thuốc của ông nghiên cứu đã lên tới 792 loài và gần đây nhất là
lần tái bản lần thứ 10 (2005); trong đó, ông đã mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân
bố, công dụng, thành phần hoá học, chia tất cả các cây thuốc đó theo các
nhóm bệnh khác nhau [26]. Đây là một bộ sách có giá trị lớn về khoa học và
thực tiễn, kết hợp giữa khoa học dân gian và khoa học hiện đại.


12

Năm 1960, Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dương cho xuất bản bộ
“Cây cỏ Việt Nam”. Tuy chưa giới thiệu được hết hệ thực vật Việt Nam,
nhưng phần nào cũng đưa ra được công dụng làm thuốc của nhiều loài thực
vật [23], [24], [25]. Đỗ Tất Lợi (1965) đã xuất bản bộ sách “Những cây thuốc
và vị thuốc Việt Nam” và được tái bản vào năm 2000. Công trình liệt kê gần
800 loài cây, con và vị thuốc, trong đó phần lớn mô tả về thực vật, phân bố,
thu hái và chế biến, thành phần hoá học, công dụng và liều dùng.
Năm 1966, để phục vụ cho công tác giảng dạy và nghiên cứu cây thuốc
dược sĩ Vũ Văn Chuyên đã cho ra đời cuốn “Tóm tắt đặc điểm các họ cây

“Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” với hơn 1.000 loài, trong đó
920 cây thuốc và 80 loài động vật được sử dụng làm thuốc.
Các nhà nghiên cứu của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã thu
thập, nghiên cứu và công bố một số tài liệu liên quan tới cây thuốc: Đáng chú
ý là hai tập sách “Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam” của tác giả Lã
Đình Mỡi và cộng sự (2001; 2002) các tác giả đã đề cập đến giá trị sử dụng
làm thuốc của nhiều loài thực vật có tinh dầu ở Việt Nam [28]
Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003, 2005) đã công bố bộ sách “Danh
lục các loài thực vật Việt Nam” đây là bộ sách có ý nghĩa quan trọng trong tra
cứu hệ thực vật nói chung và tra cứu thành phần cây thuốc nói riêng. Tập sách
đã đề cập tới các tên khoa học, tên thường gọi, nhận dạng, phân bố, dạng
sống- sinh thái và công dụng, rất tiện lợi cho các nhà nghiên cứu về thực vật
làm thuốc [2], [3].
Các dân tộc thiểu số trên thế giới nói chung, và ở Việt Nam nói riêng,
do cuộc sống còn gắn liền với việc khai thác và sử dụng thực vật nên có nhiều
kinh nghiệm và tri thức quý trong lĩnh vực chế biến, sử dụng thực vật: đặc
biệt là các kinh nghiệm sử dụng cây thuốc. Tuy nhiên, các tri thức và kinh
nghiệm dân tộc thường chỉ được sử dụng và lưu truyền trong một phạm vi hẹp


14

(dân tộc, dòng họ, gia đình) vì vậy không được phát huy để phục vụ cho xã
hội và có nguy cơ thất thoát rất cao. Nhận thức được tầm quan trọng này,
trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây nghiên cứu cây thuốc dân tộc
(Ethnomedical plants) được đặc biệt quan tâm tại một số cơ quan của nước ta
và đã thu được nhiều kết quả khả quan [31].
Với phương châm xây dựng nền Y học hiện đại - dân tộc và đại chúng,
Nhà nước đã có nhiều nỗ lực để đầu tư cho công tác điều tra, nghiên cứu về
cây thuốc và kế thừa nền y học cổ truyền, phục vụ cho yêu cầu chữa bệnh và

dược liệu ở Việt Nam từ năm 1961 đến nay, Viện Dược liệu đã phát hiện
nhiều vùng rừng có cây thuốc phong phú, nay đã bị phá huỷ làm nương rẫy,
trồng cà phê, cao su (ở miền Nam) hoặc thay vào đó là các công trình dân sự,
Bên cạnh các hoạt động có chủ ý của con người, nạn cháy rừng, lũ lụt và lở
đất cũng làm mất đi nhiều vùng rừng có nhiều cây thuốc quý hiếm mọc tập
trung.
Hơn nữa, do sức ép của thị trường tài nguyên cây thuốc bị khai thác
quá mức, nên ngày càng cạn kiệt và đứng trước nguy cơ bị đe doạ. Chính phủ
và ngành y tế đã có những nỗ lực để bảo tồn tài nguyên sinh vật nói chung và
tài nguyên cây thuốc nói riêng. Nhiều công trình Nhà nước về bảo tồn cây
thuốc (Bảo tồn nguồn gen cây thuốc - Viện Dược liệu, Bộ Y tế) hoặc các mô
hình bảo tồn nguồn gen cây thuốc ở các dự án đầu tư của Nhà nước, cũng như
các dự án của tổ chức phi chính phủ (Bảo tồn cây thuốc của đồng bào Dao tại
Ba Vì, Hà Tây - CREDEP; Bảo tồn nguồn gen cây thuốc- Bộ Y tế; Mô hình
Bảo tồn và phát triển cây thuốc ở Sa Pa; Mô hình Bảo tồn cây thuốc ở Nà Ớt,
Sơn La,.. của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật) đã được hình thành nhằm
duy trì bảo tồn nguồn gen cây thuốc quý hiếm.
Trong Vườn Quốc gia (VQG) Tam Đảo và vùng đệm có từ 300 - 500
loài cây thuốc được người dân địa phương sử dụng như cây thuốc nam (Trần
Văn Ơn, VNPPAA, 2001). Những loài cây này được sử dụng ở địa phương


16

với những kinh nghiệm và kiến thức khác nhau: Theo gia đình, theo thầy
thuốc nam, và các trạm y tế xã, cũng như chúng được thu mua qua những
người trung gian và công ty dược trong vùng. Phần lớn các loài cây thuốc này
được khai thác trực tiếp từ rừng tự nhiên của VQG Tam Đảo, đây là nguyên
nhân dẫn đến việc giảm thiểu về số lượng và mức độ phong phú của các loài
cây thuốc. Theo số liệu hiện có thì có ít nhất 30 loài cây thuốc trở nên hiếm

sử dụng và bảo tồn các loài cây thuốc.
2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Các loài cây có giá trị làm thuốc tại VQG Tam Đảo và vùng đệm
Tập quán sử dụng cây thuốc của người dân vùng đệm
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Điều tra, đánh giá tính đa dạng về các taxon cây thuốc ở VQG Tam
Đảo
- Đa dạng về ngành, họ, chi, loài thực vật
- Đa dạng về dạng sống
2.3.2. Tình hình khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của cộng đồng
dân tộc tại khu vực nghiên cứu
- Tình hình khai thác cây thuốc trong khu vực nghiên cứu
- Đa dạng về bộ phận sử dụng
- Tìm hiểu kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc vùng đệm
VQG
- Tìm hiểu phương pháp thu hái, sơ chế, bảo quản cây thuốc


18

2.3.3. Đánh giá mức độ đe doạ đối với loài cây thuốc tại khu vực nghiên
cứu
- Những cây thuốc quý hiếm và nguy cấp cần được bảo vệ
- Cách gọi tên một số loài cây thuốc theo tiếng Dao và Sán Dìu
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp kế thừa tài liệu
Kế thừa có chọn lọc các số liệu, tài liệu, kết quả nghiên cứu có liên
quan tới vấn đề nghiên cứu: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên
rừng của khu vực nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu đã có, các báo cáo khoa
học,...

Dựa vào danh lục thực vật, tiến hành tra cứu công dụng theo các tài
liệu: “Từ điển cây thuốc” của Võ Văn Chi và qua điều tra trong nhân dân.
2.4.3. Phương pháp điều tra phỏng vấn người dân về những kinh nghiệm
sử dụng các loài cây làm thuốc
Đối tượng phỏng vấn được lựa chọn là những người có hiểu biết về cây
thuốc cũng như khả năng chữa bệnh cho gia đình và cộng đồng. Khi tiến hành
phỏng vấn, cần phải có thái độ tốt để hoà mình vào cuộc sống của họ, tạo
niềm tin để họ thấy rõ việc làm này mang lại lợi ích cho chính bản thân họ và
cộng đồng.
Trong quá trình điều tra cộng đồng, chúng tôi sử dụng hai phương pháp
tiếp cận là RRA và PRA [29], [30].
RRA (Đánh giá nhanh nông thôn): là quá trình nghiên cứu được coi
như là điểm bắt đầu cho sự hiểu biết tình hình địa phương (theo Jame Beebe,
1985) [29].
PRA (Đánh giá nông thôn có sự tham gia): là một loạt các cách và
phương pháp cho phép người dân nông thôn cùng chia sẻ, nâng cao và phân
tích kiến thức của họ về đời sống và điều kiện nông thôn để lập kế hoạch và


20

hành động (theo Robert Chambert, 1994) [29]. Một số kỹ thuật thường được
sử dụng trong PRA:
- Phỏng vấn mở: Là dạng phỏng vấn tự do, chúng ta có thể hỏi bất kỳ
câu hỏi nào với những câu hỏi tuỳ ý dựa trên hoàn cảnh khi đó, thứ tự các nội
dung cần hỏi có thể thay đổi tuỳ ý dựa trên câu trả lời của câu hỏi trước của
người cung cấp thông tin.
- Phỏng vấn bán cấu trúc: Một số câu hỏi được chuẩn bị trước và một số
câu hỏi có thể thêm vào tuỳ theo các tình huống cụ thể.
2.4.4. Đánh giá mức độ đe doạ

thành thế vững chãi như “Đỡ lấy trời” ở đây có Thác Bạc trắng xoá giữa thảm
rừng xanh biếc, có hệ thống đền, chùa cổ được xây dựng từ thế kỷ XX để thờ
cúng những người có công dựng nước và giữ nước [38].
Vì vậy, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập rừng cấm Tam
Đảo (Quyết định số 41/TTg ngày 24/01/1977) thuộc địa giới 3 tỉnh Vĩnh
Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang và giao trách nhiệm cho Bộ Lâm nghiệp
(cũ) và UBND các tỉnh và thành phố có rừng cần phải sớm điều tra quy
hoạch, xây dựng luận chứng kinh tế- kỹ thuật cho các khu rừng cấm [38]


22

Thực hiện quyết định trên, Bộ Lâm nghiệp (cũ) và UBND 3 tỉnh Vĩnh
Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang đã xây dựng dự án trình Chính phủ phê
duyệt và nâng cấp khu rừng cấm Tam Đảo thành VQG Tam Đảo [38].
Ngày 06/03/1996 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 139/TTg về
việc phê duyệt “Dự án khả thi đầu tư xây dựng VQG Tam Đảo” với tổng diện
tích tự nhiên là 36.883 ha nằm trên địa giới 3 tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và
Tuyên Quang và giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là chủ
quản dự án.
Ngày 15/05/1996 Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn có quyết
định số 601NN.TCCB/QĐ thành lập VQG Tam Đảo trực thuộc Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn [38].
Hiện nay, VQG Tam Đảo có tổng diện tích đất là 34.995 ha (do có
1.888 ha đã được giao lại cho huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang quản lý
theo quyết định số 155/2002/QĐ - TTg ngày 12/11/2002 của Thủ tướng Chính
phủ) [38].
VQG Tam Đảo có những chức năng, nhiệm vụ chủ yếu sau:
+ Bảo vệ nguyên vẹn các hệ sinh thái rừng trên núi Tam Đảo.
+ Bảo vệ nguồn gen các loài động, thực vật quý hiếm, đặc biệt là các

và cách Thành phố Vĩnh Yên 13 km về phía Bắc [38].
3.1.2. Địa hình, địa chất thổ nhưỡng
3.1.2.1. Địa hình
Địa hình Tam Đảo có đặc điểm là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt
sâu, dày bởi nhiều dông phụ gần như vuông góc với dông chính. Phía Đông
Bắc các suối chính đều chảy về sông Công tạo nên vùng bồn địa Đại Từ. Phía
Tây Nam, các lưu vực sông đều đổ về sông Phó Đáy.


24

Núi Tam Đảo chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, gồm trên 20
đỉnh núi được nối với nhau bằng đường dông sắc, nhọn. Nó như một bức bình
phong chắn gió mùa Đông Bắc cho vùng đồng bằng. Các đỉnh có độ cao trên
dưới 1000 m. Đỉnh cao nhất là Tam Đảo Bắc (ranh giới giữa 3 tỉnh) cao 1.592
m. Ba đỉnh núi nổi tiếng của Tam Đảo là Thiên Thị (1.375 m), Thạch Bàn
(1.388 m) và Phù Nghĩa (1.300 m). Chiều ngang của khối núi rộng 10 – 15
km, sườn rất dốc và chia cắt mạnh. Độ dốc bình quân từ 16o-35o, nhiều nơi độ
dốc trên 35o. Độ cao của núi giảm nhanh về phía Đông Bắc xuống lòng chảo
Đại Từ tạo nên những mái dông đứng. Hướng Đông Nam có xu hướng giảm
dần đến giáp địa phận Hà Nội [38].
3.1.2.2. Địa chất và thổ nhưỡng
Trong quá trình điều tra lập địa 4 loại đất chính ở Tam Đảo đã được
phát hiện là:
Đất Feralit mùn vàng nhạt phân bố ở độ cao trên 700 m.
Đất Feralit mùn vàng đỏ phân bố ở các sườn núi độ cao từ 400 – 700 m.
Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên nhiều loại đá khác nhau như: Shale,
Mica, Phillite và đá cát. Phân bố ở độ cao từ 100 – 400 m.
Đất phù sa dốc tụ phân bố dưới chân núi và các thung lũng hẹp ven
sông suối lớn. Loại đất này có thành phần cơ giới trung bình, tầng dày, độ ẩm


22,9
41,4
4,0
1.641,4

22,9
41,3
3,0
1.906,2

23,7
41,5
3,2
1.603,5

18,0
33,1
- 0,2
2.630,3

(mm)
Số ngày mưa/ năm
Lượng mưa cực đại trong ngày

143,5
150,0

193,4
352,9

3.1.3.2. Thuỷ văn
Trong khu vực có hai hệ thống sông chính là sông Phó Đáy ở phía Tây
và sông Công ở phía Đông. Đường phân thuỷ của hai hệ thống sông trên
chính là dông núi Tam Đảo chạy theo Đèo Khế (Sơn Dương) đến Mỹ Khê
(Bình Xuyên).
Mạng lưới sông suối hai sườn Tam Đảo dồn xuống chân núi, lưu lượng
nước lớn. Khi xuống tới các chân núi, suối thường chảy dọc theo các chân
thung lũng dài và hẹp trước khi đổ ra vùng đồi và vùng đồng bằng.
Sông suối trong vùng không có khả năng vận chuyển thuỷ, chỉ có khả
năng làm thuỷ điện nhỏ. Việc đắp đập tạo hồ có thể thực hiện được ở nhiều
nơi quanh chân núi để phục vụ sản xuất [38].
3.1.4. Tài nguyên thiên nhiên



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status