Điều tra nghiên cứu nguồn tài nguyên thực vật làm thuốc ở khu bảo tồn thiên nhiên tây yên tử, tỉnh bắc giang làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát triển bền vững - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

DƯƠNG VĂN DOÀN

ĐIỀU TRA VÀ NGHIÊN CỨU NGUỒN TÀI NGUYÊN THỰC VẬT
LÀM THUỐC Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN TÂY YÊN TỬ,
TỈNH BẮC GIANG LÀM CƠ SỞ CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

DƯƠNG VĂN ĐOÀN

ĐIỀU TRA VÀ NGHIÊN CỨU NGUỒN TÀI NGUYÊN THỰC VẬT
LÀM THUỐC Ở KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN TÂY YÊN TỬ,
TỈNH BẮC GIANG LÀM CƠ SỞ CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN VÀ
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG


Học viên

Dương Văn Đoàn


ii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn ......................................................................................................... i
Mục lục .............................................................................................................. ii
Danh mục các từ viết tắt.................................................................................... v
Danh mục các bảng .......................................................................................... vi
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
Chương 1TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÂY THUỐC ............................ 3
1.1. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở trên thế giới ....................... 3
1.2. Tình hình nghiên cứu và bảo tồn cây thuốc ở Việt Nam ......................... 10
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 17
2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ............................................................... 17
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................... 17
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 17
2.2. Mục tiêu nghiên cứu................................................................................ 17
2.2.1. Mục tiêu tổng quát ................................................................................ 17
2.2.2. Mục tiêu cụ thể ..................................................................................... 17
2.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 18
2.3.1. Điều tra, đánh giá tính đa dạng thực vật làm thuốc ở khu BTTN Tây
Yên Tử, tỉnh Bắc Giang ................................................................................... 18
2.3.2. Tình hình khai thác và sử dụng tài nguyên thực vật làm thuốc của cộng
đồng dân tộc tại khu vực nghiên cứu .............................................................. 18

đồng dân tộc tại khu vực nghiên cứu .............................................................. 47
4.2.1.Vai trò của thực vật làm thuốc với đời sống người dân địaphương.......48
4.2.2. Tình hình khai thác thực vật làm thuốc tại khu vực nghiên cứu ........... 48


iv

4.2.3. Kinh nghiệm sử dụng thực vật làm thuốc trong chữa trị bệnh của cộng
đồng dân tộc tại khu vực nghiên cứu .............................................................. 54
4.2.4. Phương pháp thu hái, sơ chế, bảo quản, sử dụng thực vật làm thuốc . 62
4.2.5. Một số bài thuốc thường được sử dụng trong nhân dân địa phương. .. 65
4.3. Mức độ đe dọa đối với các loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu ......... 68
4.4. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây làm
thuốc tại khu vực nghiên cứu .......................................................................... 71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................... 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt

Nội dung

BTTN

Bảo tồn thiên nhiên

ĐDSH


Trang

4.1

Thành phần các taxon thực vật làm thuốc tại khu BTTN

38

4.2

Mười họ giàu loài nhất tại khu BTTN Tây Yên Tử, tỉnh
Bắc Giang

40

4.3

Mười chi giàu loài nhất tại khu BTTN Tây Yên Tử, tỉnh
Bắc Giang

41

4.4

Các dạng sống chính của thực vật làm thuốc tại khu vực

42

4.5

4.10 Danh sách các loài cây nằm trong Sách Đỏ VN 2007

70


1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một trong những Trung tâm Đa dạng sinh học (ĐDSH) cao
của thế giới, với hệ động, thực vật rất phong phú. Theo thống kê chưa đầy đủ,
hiện nước ta có khoảng 10.000 loài thực vật có mạch đã được mô tả, trong đó
có gần 4000 loài cây cỏ đã và đang được sử dụng để làm thuốc chữa bệnh.
Trải qua lịch sử hơn bốn nghìn năm hình thành và phát triển, nhân dân
ta đã không ngừng tìm tòi, nghiên cứu, tích luỹ kinh nghiệm về mọi mặt trong
cuộc sống. Đặc biệt là việc sử dụng các cây cỏ quanh mình để chăm sóc, bảo
vệ sức khỏe cho bản thân, cho gia đình và cho cả cộng đồng. Do sự khác biệt
về phong tục tập quán, về hệ thực vật mà mỗi dân tộc, mỗi vùng lại có những
kinh nghiệm, kiến thức khác nhau trong việc sử dụng cây thuốc để chữa các
loại bệnh.
Trong những năm gần đây, dưới áp lực của phát triển kinh tế và sự
bùng nổ dân số nên nguồn tài nguyên rừng nói chung, cây thuốc nói riêng
đang bị suy giảm nghiêm trọng. Những cây thuốc có giá trị được thương mại
hoá, cung cấp cho các thầy thuốc, những công ty dược phẩm với giá thành
ngày càng cao. Do vậy, chúng đang bị khai thác cạn kiệt. Những cây ít giá trị
hoặc chưa được nghiên cứu cũng bị tàn phá, nhường chỗ cho việc sản xuất
nông nghiệp, công nghiệp. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu gây trồng cây thuốc
còn hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng của thị trường cũng là nguy
cơ rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của cây thuốc tự nhiên.
Các Vườn Quốc gia (VQG) và khu Bảo tồn thiên nhiên (BTTN) gần
như là thành luỹ cuối cùng bảo vệ cho tương lai của các loài động, thực vật
nói chung, cây thuốc nói riêng cũng đang bị xâm hại. Trong số đó có khu

thuốc và công dụng của chúng trở nên có ý nghĩa. Các kinh nghiệm dân gian
về sử dụng cây thuốc chữa bệnh được nghiên cứu ở các mức độ khác nhau tuỳ
thuộc vào sự phát triển của từng quốc gia. Và cũng từ đó, mỗi châu lục, mỗi
dân tộc hình thành nên một nền Y học cổ truyền mang nét đặc trưng riêng.
Nghiên cứu lịch sử dùng các cây làm thuốc của các dân tộc, vùng lãnh
thổ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra nhiều bằng chứng xác
thực. Trong cuốn “Lịch sử liên đại cây cỏ” ấn hành năm 1878, Charles
Pikering đã chỉ rõ: ngay từ năm 4271 trước Công nguyên (TCN) người dân
khu vực Trung Cận Đông đã sử dụng nhiều loại cây (Sung, Vả, Cau
dừa,..v.v.) để làm lương thực và chữa bệnh (Anon, 1996, Recording and using
indigenous knowledge: A manual. IIRR, Silang, Cravite, Philipines).
Dựa trên các bằng chứng khảo cổ, Borisova B. (1960) chỉ ra rằng, vào
khoảng 5.000 năm TCN, cây thuốc đã được sử dụng rộng rãi và vì vậy là mục
tiêu chiếm đoạt (cùng với phụ nữ, các cây lương thực, cây có hoa đẹp) trong
các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc. Như vậy, tầm quan trọng của các cây
làm thuốc được loài người nhận thức rất sớm; việc thu thập, nhập nội các
giống cây thuốc quý được thực hiện ngay từ thời cổ đại bởi các chiến binh
(Lưu Đàm Cư (2002), Thực vật dân tộc học- Tài liệu giảng dạy Cao học, Viện
Sinh thái & Tài nguyên Sinh vật).


4
Châu Úc được mệnh danh là cái nôi của nền văn minh cổ xưa nhất trên
thế giới. Người ta cho rằng, các thổ dân châu Úc đã định cư ở đây từ hơn
60.000 năm về trước và hình thành nên những kiến thức thực tiễn về các loài
cây thuốc bản xứ. Nhiều loài trong số này như cây Bạch đàn xanh (Eucalyptus
globulus) duy nhất chỉ có ở châu Úc, vốn được sử dụng rất hữu hiệu trong
việc chữa bệnh. Tuy nhiên, phần lớn kiến thức về dược thảo của thổ dân đã bị
mất đi khi người châu Âu đến định cư. Ngày nay, đa phần các dược thảo ở
châu Úc bắt nguồn từ phương Tây, Ấn Độ, Trung Quốc và các nước vùng ven

công thức, 700 loài dược thảo và các chứng bệnh, từ bệnh phổi cho đến các
vết thương do cá Sấu cắn. Việc buôn bán dược thảo giữa các vùng Trung
Đông, Ấn Độ và Đông Bắc châu Phi đã có ít nhất từ 3000 năm trước. Từ thế
kỷ V đến thế kỷ XIII SCN, các thầy thuốc Ả Rập là những người có công đầu
trong sự tiến bộ của ngành y. Vào giữa thế kỷ XIII, nhà thực vật học Ibn El
Beitar đã xuất bản cuốn “Các vấn đề y khoa” thống kê chủng loại cây thuốc ở
Bắc Phi [1].
Các nhà thực vật người Pháp được coi là những người đầu tiên của
châu Âu nghiên cứu về thực vật Đông Nam Á, với họ sau những cánh rừng
nhiệt đới còn tiềm ẩn rất nhiều giá trị. Vào những năm đầu thế kỷ XX, trong
chương trình nghiên cứu về thực vật Đông Dương, Perry công bố 1.000 loài
cây và dược liệu tại Đông Nam Á đã được kiểm chứng và gần đây (1985)
tổng hợp thành cuốn sách “Medicinal Plants of Eats and Southeast Asia”
(PROSEA (1999), Plant Resources of South- East Asia 12: Medicinal and
Poisonous plants 1, Bogor Indonesia [40].
Nói đến dược thảo của châu Á không thể không nhắc đến hai quốc gia
có nền y học cổ truyền lâu đời là Trung Quốc và Ấn Độ. Lịch sử nền Y học
Trung Quốc đầu thế kỷ thứ II, người ta đã biết dùng thuốc là các loài cây cỏ


6
để chữa bệnh như: sử dụng nước cây Chè (Thea sinensis) đặc để rửa vết
thương và tắm ghẻ [33]. Trong cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản
1985 đã liệt kê một loạt các cây cỏ chữa bệnh như: Rễ gấc (Momordica
cochinchinensis) chữa nọc độc, viêm tuyến hạch, hạt gấc trị sưng tấy, đau
khớp, sốt rét, vết thương tụ máu; Cải soong (Nasturtium officinale) giải nhiệt,
chữa lở mồm, chảy máu chân răng, bướu cổ. Từ những kinh nghiệm dân gian,
các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loài cây thuốc, về
các sản phẩm chiết từ cây cỏ để chữa trị và đã đúc rút thành những cuốn sách
có giá trị. Từ đời nhà Hán (168 năm TCN) tại Trung Quốc trong cuốn sách

ngành công nghiệp chế biến Thuỷ tùng thành thuốc chữa ung thư đã mang lại
lợi nhuận là 500 triệu USD/năm, những cây thuốc này đang được sử dụng
rộng rãi ở Châu Âu và Châu Á (Lưu Đàm Cư, (2004), Thực vật dân tộc học,
Tài liệu giảng dạy cao học, Viện Sinh thái & Tài nguyên Sinh vật). Hãng
dược phẩm danh tiếng Biotech của Bỉ mỗi năm điều tra nghiên cứu sàng lọc
1.500 đến 2.000 loài cây thuốc từ các quốc gia trên thế giới [19].
Cùng với phương thức dùng cây thuốc chữa bệnh theo lối cổ truyền và
dân gian, các nhà khoa học trên thế giới còn đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu cơ
chế và các hợp chất hoá học trong cây cỏ có tác dụng chữa bệnh. Vào thế kỷ
XVIII, một bác sĩ người Anh tên là William Withering (1741-1799) lần đầu
tiên khám phá ra công dụng chữa bệnh của cây thuốc Mao địa hoàng
(Digitalis purpurea), mở ra sự phát triển trong lịch sử y dược học [1]. Trong
nhiều loài Ba gạc (Rauvolfia spp.) chiết được chất resecpin, serpentin làm
thuốc hạ huyết áp. Chất vinblastin, vincristin được chiết xuất từ cây Dừa cạn
(Catharanthus roseus) vừa có tác dụng hạ huyết áp, vừa làm thuốc chống ung
thư máu. Vài chục năm gần đây, ứng dụng các thành tựu nghiên cứu cấu trúc,
hoạt tính của các hợp chất hoá học tự nhiên, bằng con đường tổng hợp hoặc


8
bán tổng hợp hoá học, một số loài thuốc hiện đại có hiệu quả chữa bệnh cao
lần lượt ra đời.
Nhiều loài Hoàng liên (Coptis spp.) cũng được xếp vào danh sách thực
vật nguy cấp ở nhiều nước Đông Á. Loài Ba gạc (Rauvolfia serpentine (L.)
Benth. ex Kurz) đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng do bị khai thác lâu đời
ở Ấn Độ, Bănglađét, Srilanka, Thái Lan (Luu Dam Cu (2003), Introduction of
rare endangered medicinal plants into forest- garden of ethnic minorities in
Northern Vietnam, Conference of ASEAN Regional center for biodiversity
conservation, Bangkok, Thailand, 1-5 dec.)
Chữa bệnh bằng cây cỏ đang dần trở thành xu hướng của thế giới.

truyền cũng phát triển mạnh. Cây thuốc là loại cây kinh tế, nó cung cấp nhiều
loại thuốc dân tộc và thuốc hiện đại trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ con
người (Theo Tuyên ngôn Chiang Mai, 1988).
Tuy nhiên, ngày nay do các hoạt động mưu cầu của cuộc sống con
người đã và đang gây sức ép lên sự sinh tồn của các loài cây thuốc trên thế
giới. Nhiều loài cây thuốc quý hiếm bị khai thác bừa bãi nên đang đứng trước
nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc đã bị tuyệt chủng. Theo P. Raven (1987) và Ole
Harmann (1988), trong vòng hơn 100 năm trở lại đây, có khoảng 1.000 loài
thực vật đã bị tuyệt chủng, có tới 60.000 loài gặp rủi ro hay sự tồn tại của
chúng bị đe doạ vào thế kỷ tới. Trong số những loài thực vật đã mất đi hoặc
đang bị đe doạ gay gắt, có một tỷ lệ không nhỏ là thực vật làm thuốc [8].
Trong đó có khoảng 120 loài ở Ấn Độ, 77 loài ở Trung Quốc, 75 loài ở
Marôc, 61 loài ở Thái Lan, 35 loài ở Bangladet [8]..
Song song với các nghiên cứu về sử dụng cây thuốc, một vấn đề cấp
bách khác được đặt ra, đó là việc bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc, cùng
với những kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc trên thế giới. Tại
Hội nghị Quốc tế về Bảo tồn cây thuốc, tổ chức ở Chiềng Mai (Thái Lan) năm


10
1993, một lần nữa các nhà khoa học đã khẳng định tầm quan trọng và vai trò
to lớn của cây thuốc trong sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Đồng
thời, đưa ra tài liệu “Hướng dẫn bảo tồn cây thuốc”- “Guidelines on the
Conservation of Medicinal Plants”, kêu gọi các quốc gia có những giải pháp
và chương trình hành động thiết thực để bảo tồn cây thuốc [44].
Để phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khoẻ con người, cho sự
phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y thì sự cần thiết phải kết
hợp giữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền của các dân
tộc là một vấn đề cấp thiết. Chính từ những kinh nghiệm của y học cổ truyền
đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loại thuốc có ích trong tương lai.

thuốc và vị thuốc là các loài thực vật có hoa [39]. Đến năm 1952, Pétélot bổ
sung và xây dựng thành bộ “Les plantes médicinales du Cambodge, du Laos
et du Vietnam”, gồm 4 tập đã thống kê 1482 vị thuốc thảo mộc trên ba nước
Đông Dương [39].
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là sau khi miền Bắc được
giải phóng năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong
việc sưu tầm, nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc. Đỗ Tất Lợi - người đã
dày công nghiên cứu trong nhiều năm và đã xuất bản được nhiều tài liệu về
việc sử dụng cây, con làm thuốc của đồng bào dân tộc. Đáng chú ý nhất là
năm 1957, ông đã biên soạn bộ “ Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam”
gồm 3 tập. Năm 1961 tái bản in thành 2 tập, trong đó tác giả mô tả và nêu
công dụng của hơn 100 cây thuốc nam. Từ năm 1962 - 1965, Đỗ Tất Lợi lại
cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập. Đến
năm 1969 tái bản thành 2 tập, trong đó giới thiệu hơn 500 vị thuốc có nguồn
gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật. Ông đã kiên trì nghiên cứu, bổ sung
liên tục các loài cây thuốc trong các công trình được tái bản nhiều lần vào các


12
năm 1970, 1977, 1981, 1986, 1995, 1999, 2001, 2003. Lần tái bản thứ 7
(1995) số cây thuốc của ông nghiên cứu đã lên tới 792 loài và gần đây nhất là
lần tái bản lần thứ 10 (2005); trong đó, ông đã mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân
bố, công dụng, thành phần hoá học, chia tất cả các cây thuốc đó theo các
nhóm bệnh khác nhau [22]. Đây là một bộ sách có giá trị lớn về khoa học và
thực tiễn, kết hợp giữa khoa học dân gian và khoa học hiện đại.
Năm 1960, Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dương cho xuất bản bộ
“Cây cỏ Việt Nam”. Tuy chưa giới thiệu được hết hệ thực vật Việt Nam,
nhưng phần nào cũng đưa ra được công dụng làm thuốc của nhiều loài thực
vật [20]. Đỗ Tất Lợi (1965) đã xuất bản bộ sách “Những cây thuốc và vị
thuốc Việt Nam” và được tái bản vào năm 2000 [21]. Công trình liệt kê gần

sách “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam” với hơn 1.000 loài, trong
đó 920 cây thuốc và 80 loài động vật được sử dụng làm thuốc [7].
Các nhà nghiên cứu của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã thu
thập, nghiên cứu và công bố một số tài liệu liên quan tới cây thuốc. Đáng chú
ý là hai tập sách “Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam” của Lã Đình
Mỡi và cộng sự (2001, 2002) các tác giả đã đề cập đến giá trị sử dụng làm
thuốc của nhiều loài thực vật có tinh dầu ở Việt Nam [24]. Nguyễn Tiến Bân
và cộng sự (2003, 2005) đã công bố bộ sách “Danh lục các loài thực vật Việt
Nam” đây là bộ sách có ý nghĩa quan trọng trong tra cứu hệ thực vật nói
chung và tra cứu thành phần cây thuốc nói riêng. Tập sách đã đề cập tới các
tên khoa học, tên thường gọi, nhận dạng, phân bố, dạng sống - sinh thái và
công dụng, rất tiện lợi cho các nhà nghiên cứu về thực vật làm thuốc [2], [3].
Các dân tộc thiểu số trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng,
do cuộc sống còn gắn liền với việc khai thác và sử dụng thực vật nên có nhiều
kinh nghiệm và tri thức quý trong lĩnh vực chế biến, sử dụng thực vật, đặc


14
biệt là các kinh nghiệm sử dụng cây thuốc. Tuy nhiên, các tri thức và kinh
nghiệm dân tộc thường chỉ được sử dụng và lưu truyền trong một phạm vi hẹp
(dân tộc, dòng họ, gia đình) vì vậy không được phát huy để phục vụ cho xã
hội và có nguy cơ thất thoát rất cao. Nhận thức được tầm quan trọng này,
trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây nghiên cứu cây thuốc dân tộc
(Ethnomedical plants) được đặc biệt quan tâm tại một số cơ quan của nước ta
và đã thu được nhiều kết quả khả quan [27].
Với phương châm xây dựng nền Y học hiện đại - dân tộc và đại chúng,
Nhà nước đã có nhiều nỗ lực để đầu tư cho công tác điều tra, nghiên cứu về
cây thuốc và kế thừa nền y học cổ truyền, phục vụ cho yêu cầu chữa bệnh và
chăm sóc sức khoẻ toàn dân. Tuy nhiên, phần lớn số loài được ghi nhận đều
xuất phát từ kinh nghiệm sử dụng của các cộng đồng các dân tộc ở các địa

và ngành y tế đã có những nỗ lực để bảo tồn tài nguyên sinh vật nói chung và
tài nguyên cây thuốc nói riêng. Nhiều công trình Nhà nước về bảo tồn cây
thuốc (Bảo tồn nguồn gen cây thuốc - Viện Dược liệu, Bộ Y tế) hoặc các mô
hình bảo tồn nguồn gen cây thuốc ở các dự án đầu tư của Nhà nước, cũng như
các dự án của tổ chức phi chính phủ (Bảo tồn cây thuốc của đồng bào Dao tại
Ba Vì, Hà Tây - CREDEP; Bảo tồn nguồn gen cây thuốc - Bộ Y tế; Mô hình
Bảo tồn và phát triển cây thuốc ở Sa Pa; Mô hình Bảo tồn cây thuốc ở Nà Ớt,
Sơn La,.. của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật) đã được hình thành
nhằm duy trì bảo tồn nguồn gen cây thuốc quý hiếm.
Trong Vườn Quốc gia (VQG) Tam Đảo và vùng đệm có từ 300 - 500
loài cây thuốc được người dân địa phương sử dụng như cây thuốc nam (Trần
Văn Ơn, VNPPAA, 2001). Những loài cây này được sử dụng ở địa phương
với những kinh nghiệm và kiến thức khác nhau: Theo gia đình, theo thầy
thuốc nam, và các trạm y tế xã, cũng như chúng được thu mua qua những


16
người trung gian và công ty dược trong vùng. Phần lớn các loài cây thuốc này
được khai thác trực tiếp từ rừng tự nhiên của VQG Tam Đảo, đây là nguyên
nhân dẫn đến việc giảm thiểu về số lượng và mức độ phong phú của các loài
cây thuốc. Theo số liệu hiện có thì có ít nhất 30 loài cây thuốc trở nên hiếm
hoặc bị đe doạ đã được cấp báo trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và trên 6 loài
có tên trong danh lục của IUCN (2009).
Trong khi khối lượng cây thuốc được khai thác đáp ứng nhu cầu sử
dụng trong các hộ gia đình vẫn chưa được kiểm chứng, theo ước tính thì có
khoảng 450-570 tấn cây thuốc được khai thác từ rừng tự nhiên Tam Đảo
(Trần Văn Ơn, 2000). Con số này cũng chỉ dựa trên những nghiên cứu còn rất
hạn chế với số lượng nhỏ các xã, thôn và đòi hỏi có nghiên cứu kiểm chứng
kỹ hơn khi một hoạt động mua bán được đánh giá đúng đắn. Hiện nay, chúng
ta đã biết có khoảng 31 loài cây đang mua bán trong khu vực, nhưng con số

2.2.1. Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở điều tra và nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây làm thuốc
tại khu BTTN Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Giang làm cơ sở cho công tác bảo tồn và
phát triển bền vững.
2.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thành phần, dạng sống, công dụng chữa bệnh và giá trị kinh
tế của các loài thực vật có giá trị làm thuốc, trong đó có các loài cây bị cạn
kiệt do người dân địa phương khai thác và sử dụng quá mức, để xác định ưu
tiên trong công tác bảo tồn.
- Nắm được các vấn đề kinh tế, xã hội, thói quen của các cộng đồng dân tộc
thiểu số (Tày, Nùng, Sán chỉ,…) sống xung quanh khu BTTN liên quan đến
việc thu hái, sử dụng và bảo tồn các loài cây thuốc.
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên
thực vật làm thuốc tại khu vực nghiên cứu.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status