BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
ĐINH TRỌNG HẢI
ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ NGUỒN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC
Ở VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG LÀM CƠ SỞ CHO CÔNG
TÁC BẢO TỒN, SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, năm 2008
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
ĐINH TRỌNG HẢI
ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ NGUỒN TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC
Ở VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG LÀM CƠ SỞ CHO CÔNG
TÁC BẢO TỒN, SỬ DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60-62-60
Hà nội, tháng 10 năm 2008
Tác giả
Đinh Trọng Hải
2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam được đánh giá là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao
trên toàn cầu với nhiều loài động, thực vật hoang dã quý hiếm và các hệ sinh thái
đặc trưng. Ở Việt Nam do sự khác biệt lớn về khí hậu từ vùng gần xích đạo tới vùng
cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thiên nhiên
và cũng do đó mà Việt Nam có tính đa dạng sinh học cao. Tài nguyên thực vật rừng
ở nước ta cũng như trên thế giới là vô cùng phong phú và đa dạng, chúng cũng
mang lại cho chúng ta rất nhiều giá trị to lớn như bảo vệ môi trường, chống xói mòn
đất, chống sa mạc hoá... đặc biệt là giá trị về thuốc. Từ thuở xa xưa con người đã
biết sử dụng cỏ cây để chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ cho mình.
Kho tàng nguồn tài nguyên cây thuốc vô giá này đã và đang được các cộng đồng
khác nhau trên thế giới sử dụng trong công tác chăm sóc sức khoẻ. Theo báo cáo
của tổ chức Y tế thế giới, trên thế giới có khoảng 80% số dân ở các nước phát triển
hiện nay có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu dựa vào các nền y học cổ truyền và
khoảng 85 % thuốc y học truyền thống đòi hỏi phải sử dụng dược liệu hoặc các chất
chiết suất từ dược liệu.
Nguồn tài nguyên cây thuốc còn góp phần lớn trong công cuộc phát triển kinh tế
của các quốc gia trên thế giới. Dự đoán nếu phát triển tối đa các thuốc thảo dược có
nguồn gốc từ các nước nhiệt đới, có thể làm ra khoảng 900 tỷ USD mỗi năm cho
nền kinh tế của các nước thế giới thứ 3..Nguồn tài nguyên cây thuốc còn là một kho
epigallocatechine (Theo báo KH&ĐS số 46, 1996). Kinh nghiệm của người Cổ Hy
Lạp và La Mã dùng vỏ cây óc chó (Juglans regia L) để chữa vết loét, vết
thương...lâu ngày không liền sẹo . Ở các nước Nga, Đức, Trung Quốc đã dùng cây
Mã đề (Plantago major L) sắc nước hoặc giã lá tươi đắp chữa trị vết thương, viêm
tiết niệu, sỏi thận.
Y học dân tộc của Bungari “ Đất nước của hoa hồng” đã coi hoa hồng là một
vị thuốc chữa được nhiều bệnh, người ta dùng cả hoa, lá, rễ để làm thuốc tan huyết
ứ và bệnh phù thũng. Ngày nay người ta đã chứng minh được trong cánh hoa hồng
có chứa một lượng tanin, glucosid
Theo đông y Trung Quốc cây Psychotria rubra (Lour.) Poit. dùng toàn thân
giã nhỏ làm thuốc chữa gãy xương, tiêu sưng, rửa mụn nhọt độc rất hay.
4
Trong cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” xuất bản năm 1985 đã liệt kê một
loạt các cây chữa bệnh như: Rễ gấc (Momordica cochinchinensis (Lour.) Spreng.)
chữa nhọt độc, viêm tuyến hạch, hạt gấc trị sưng tấy đau khớp, sốt rét, vết thương tụ
máu; Cải soong (Nasturtium officinale R.Br) giải nhiệt, chữa lở mồm, chảy máu
chân răng, bướu cổ .
Vào giữa thế kỷ XVI Lý Thời Trân đã thống kê được 12.000 vị thuốc trong
tập “Bản thảo cương mục” được nhà xuất bản Y học trích dẫn 1963 [23].
Trong chương trình điều tra cơ bản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực
Đông nam Á, Perry đã nghiên cứu hơn 1000 tài liệu khoa học về thực vật và dược
liệu đã được công bố và được các nhà khoa học kiểm chứng (trong đó có 146 loài
có tính kháng khuẩn) và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc của vùng Đông và
Đông nam Á “Medicinal Plants of East and Southeast Asia”
Ngày nay theo thống kê của WWF trên thế giới có khoảng 250.000 - 270.000
loài thực vật bậc cao thì có đến 35.000 - 70.000 loài được sử dụng vào mục đích
nhất ở vùng nhiệt đới. Dự đoán, nếu phát triển tối đa các thuốc thảo mộc từ các
nước nhiệt đới, có thể làm ra 900 tỷ USD mỗi năm cho nền kinh tế các nước thế
giới thứ 3 [12].
Trên thế giới có rất nhiều loài cây thuốc quý hiếm nhưng do chiến tranh, ô
nhiễm môi trường và con người khai thác bừa bãi cho nên đã trở nên rất nguy cấp
và có nhiều loài đã bị tuyệt chủng (Theo công ước đa dạng sinh học 1992). Theo
Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong vòng hơn trăm năm trở lại đây có
khoảng 1000 loài thực vật có lẽ đã bị tuyệt chủng có tới 60.000 loài có thể bị gặp rủi
ro hoặc sự tồn tại của chúng là mong manh vào giữa thế kỷ nếu chiều hướng đe dọa
này vẫn tiếp diễn. Trong số những loài thực vật bị mất đi hoặc bị đe dọa đương
nhiên có nhiều loài cây thuốc. Do vậy song song với việc nghiên cứu và sử dụng
cây thuốc, một vấn đề cấp bách khác đó là bảo tồn tri thức sử dụng và cây thuốc
cũng cần phải quan tâm. 1988, hội thảo (consultation) quốc tế về bảo tồn cây thuốc
đã được tổ chức tại Chiang Mai Thái Lan với sự tham gia của 24 chuyên gia y tế và
bảo tồn cây cỏ, đến từ 16 quốc gia thuộc các khu vực khác nhau trên thế . Kết quả là
“ Tuyên ngôn Chiang mai” đã ra đời . Bản tuyên ngôn đánh giá cao tầm quan trọng
của cây thuốc trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, giá trị kinh tế và tiềm năng của cây
6
cỏ đối với việc tìm ra thuốc mới. Đồng thời báo động về mất tính đa dạng sinh vật
cây cỏ và các nền văn hóa trên thế giới có thể ảnh hưởng đến việc tìm kiếm thuốc
mới mang lại lợi ích toàn cầu. Tuyên bố Chiang Mai cũng chỉ ra sự cấp thiết cần
hợp tác ở mức độ toàn cầu để thiết lập các chương trình bảo tồn cây thuốc.
Thế kỷ XXI khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển kéo theo nó là sự phát
triển của nền kinh tế toàn cầu. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe con người và chữa trị
các bệnh nan y ngày càng cấp thiết. Cho nên việc khai thác kết hợp với bảo tồn phát
triển các loài cây thuốc là rất quan trọng.
1.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở việt nam
pháp”[22]
Sau khi Tuệ Tĩnh mất đi một thời gian dài không thấy xuất hiện tác giả nào, mãi
đến thời Lê Dụ Tông xuất hiện Hải Thượng Lãn Ông tên thực là Lê Hữu Trác
(1721-1792) Ông là người am hiểu nhiều về y học, sinh lý học, đọc nhiều sách
thuốc. Trong 10 năm khổ công tìm tòi nghiên cứu Ông viết bộ “Lãn ông tâm lĩnh”
hay “ Y tôn tâm lĩnh” gồm 66 quyển đề cập đến nhiều vấn đề về y dược như: “Y
huấn cách ngôn”, “Y lý thân nhân”, “Lý ngôn phụ chính”, “Y nghiệp thần
chương” xuất bản năm 1772. Trong bộ sách này ngoài kế thừa “Nam dược thần
hiệu của Tuệ Tĩnh Ông còn bổ sung thêm 329 vị thuốc mới. Mặt khác ông còn mở
trường đào tạo y sinh truyền bá tư tưởng, hiểu biết của mình về y học do vậy ông
còn được mệnh danh là ông tổ sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam[9]
Thời kỳ 1884-1945, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, loại Y học dân
tộc của nước ta ra khỏi chính sách bảo hộ, việc nghiên cứu cây thuốc gặp nhiều
khó khăn. Tuy nhiên có một số nhà thực vật học, dược học người pháp nghiên cứu
với mục đích chính là khai thác tài nguyên tiêu biểu là: Crevot; Petelot... đã thống
kê được 1482 vị thuôc sthảo mộc trên 3 nước Đông Dương [30].
Ngay sau khi đất nước được thống nhất, công tác điều tra nghiên cứu cây
thuốc đã có nhiều thành tích đáng kể. Điển hình là công trình “Những cây thuốc và
vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (đã tái bản nhiều lần) giới thiệu 792 loài thực
vật làm thuốc. Năm 2005 tái bản lần thứ 13 Trong đó ông đã mô tả tỉ mỉ tên khoa
học, phân bố, công dụng, thành phần hoá học, chia tất cả các cây thuốc trong đó
theo các nhóm bệnh khác nhau [16]. Đây là một bộ sách có giá trị lớn về khoa học
8
và thực tiễn, kết hợp giữa khoa học dân gian với khoa học hiện đại. Năm 1980 Đỗ
Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã giới thiệu 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài
mới phát hiện “Sổ tay cây thuốc Việt nam” [1]
Đề cập đến cây thuốc trong hệ thực vật Việt Nam Võ Văn Chi là người đầu
công trình nghiên cứu cây thuốc Lâm Sơn - Lương Sơn Hà Sơn Bình, Nguyễn
Nghĩa Thìn đã giới thiệu 112 loài thuộc 50 họ [29].
Năm 1990-1995 trong hội thảo quốc tế lần thứ 2 về Dân tộc sinh học tại Côn
Minh - Trung Quốc Nguyễn Nghĩa Thìn đã giới thiệu lịch sử nghiên cứu về vấn đề
dân tộc dược học, giới thiệu 2300 loài thuộc 1136 chi, 234 họ thuộc 6 ngành thực
vật có mạch bậc cao Việt Nam được sử dụng làm thuốc và giới thiệu hơn 1000 bài
thuốc được thu thập ở Việt Nam.
Trần Văn Ơn trong luận án tiến sĩ của mình đã xác định ở Vườn quốc gia Ba
Vì có 503 loài cây thuốc được người Dao sử dụng để chữa 131 loại bệnh [17]
Cao Thị Hải Xuân nghiên cứu về cây thuốc VQG Cát Bà thì có 443 loài
thuộc thuộc 335 chi, 118 họ chữa 15 nhóm bệnh khác nhau [25].
Như vậy, mặc dù chưa thống kê đầy đủ song các dẫn liệu kể trên cũng đã nói
lên sự phong phú và tầm quan trọng của nguồn tài nguyên cây thuốc của Việt Nam.
Đáng tiếc rằng hiện nay nguồn tài nguyên thực vật nói chung và nguồn cây
thuốc nói riêng không còn nguyên vẹn nữa. Nạn phá rừng, đốt nương làm rẫy, khai
thác ồ ạt dẫn tới nguồn tài nguyên cây thuốc ngày càng cạn kiệt, nhiều loài cây
thuốc bị giảm về trữ lượng như Bình vôi nhị ngắn (Stephania brachyandra), Chùa
dù (Elsholtzia penduliflora), Tục đoạn (Dipsacus asper),… Đặc biệt đối với những
cây quý hiếm thì tình trạng suy kiệt càng trở nên gay gắt hơn như: Sâm vũ diệp (Panax
bipinnatifidus), Tam thất hoang (Panax stipuleanatus), Ngũ gia bì gai (Acanthopanax
trifoliatus)… hiện lâm vào tình trạng bị đe dọa tuyệt chủng.
1.3. Một số nghiên cứu về thực vật tại Vườn quốc gia Cúc phương
Cúc Phương là Vườn quốc gia được thành lập đầu tiên tại Việt Nam ngày 7/7/1962.
Qua hơn 45 năm xây dựng và phát triển công tác nghiên cứu khoa học đã để lại cho
chúng ta nhiều nguồn tư liệu quý mà điển hình là một số công trình sau:
Lê Viết Lộc (1965): “Bước đầu điều tra thảm thực vật rừng Cúc phương”
tác giả đã xác định và xây dựng bản đồ của 11 loại hình ưu thế [15].
10
11
hệ thực vật của VQG Cúc Phương, trong tác phẩm này mỗi loài được bảo đảm ít
nhất bằng 1 tiêu bản thực vật trích dẫn [ 32]
Từ năm 1999 đến năm 2003, Dự án AP4-ICBG thuộc chương trình các nhóm
hợp tác quốc tế nghiên cứu đa dạng sinh học (ICBG) do Viện Bảo vệ sức khỏe Hoa
Kỳ (NIH) tài trợ, đã tiến hành điều tra, phỏng vấn các thầy Lang trong khu vực, đã
tập hợp được 394 loài cây thuốc được cộng đồng người Mường dùng để chữa trị 19
nhóm bệnh. Dự án cũng tổng kết được trên 50 bài thuốc của dân làng và các thầy
lang địa phương [26].
Đúc kết các kết quả nghiên cứu các tác giả Lê Thị Xuân và D.D. Soejarto
cho ra đời “ Tuyển chọn những cây thuốc của cộng đồng người dân tộc Mường ở
Vườn quốc gia Cúc phương”. Các tác giả đã giới thiệu khá chi tiết về tên khoa học,
mô tả các đặc điểm nhận biết, công dụng, bộ phận sử dụng và cách dùng của 150
loài cây thuốc phổ biến do chính bà con ở cộng đồng sử dụng cho bản thân và chữa
bệnh cho người sinh sống xung quanh [27].
Từ năm 1998, hệ thực vật có hoa của Cúc Phương cũng được quan tâm
nghiên cứu trên các lĩnh vực đa dạng loài, phân bố sinh thái, tình trạng bảo tồn, sử
dụng thuốc cổ truyền và tiềm năng nguồn dược liệu bởi một nhóm hợp tác nghiên
cứu quốc tế có tên gọi là UIC ICBG . “Cuốn Sổ tay định loại thực vật có hoa của
Vườn quốc gia Cúc Phương” là kết quả bước đầu của UIC ICBG hợp tác với Vườn
quốc gia Cúc phương [18].
Tổng hợp một phần các kết quả nghiên cứu trong hơn 45 năm qua các tác giả
Trương Quang Bích, Nguyễn Mạnh Cường, Đỗ Văn Lập, D.D Soejarrto, Mai Văn
Xinh, Nguyễn Huy Quang giới thiệu cuốn sách ảnh “Một số loài thực vật phổ biến ở
Cúc Phương” gồm 294 loài được mô tả khá chi tiết về hình ảnh, hình thái , sinh thái,
giá trị sử dụng [3].
Nhìn chung từ khi thành lập Vườn đến nay đã có rất nhiều những công trình
nghiên cứu về Cúc Phương, trong đó cũng có một số nghiên cứu về cây thuốc ở Cúc
2.1.2.2. Địa hình.
Vườn quốc gia Cúc Phương nằm ở phần cuối của hai dãy núi đá vôi từ Tây
Bắc chạy về. Xen kẽ giữa các núi đá vôi là núi đất và thung đất, 3/4 diện tích Cúc
Phương là núi đá vôi, có độ cao tuyệt đối trung bình 300 -400m. Núi cao nhất là
đỉnh Mây bạc (656m) nằm ở phía Tây Bắc và thấp dần về hai phía Tây Nam và
Đông Nam. Cúc Phương nằm vào dạng địa hình Castơ nửa che phủ khác với địa
hình Castơ che phủ Đồng Giao và Castơ trọc Gia Khánh, Cúc Phương nằm trọn vẹn
trong cảnh địa lý đối Castơ xâm thực.
2.1.3. Thổ nhưỡng.
Đất Cúc Phương gồm hai nhóm chính:
*) Nhóm A: Đất phát triển trên đá vôi hoặc trên sản phẩm chịu ảnh hưởng nhiều
của nước cacbonat. Trong nhóm chính này có 4 loại chính và 10 loại phụ.
14
4 loại chính là:
Loại 1: Đất renzin mầu đen trên đá vôi.
Loại 2: Đất renzin mầu vàng trên đá vôi.
Loại 3: Đất renzin mầu đỏ trên đá vôi.
Loại 4: Đất Macgalit - Feralit vàng.
*) Nhóm B: Đất phát triển trên đá không vôi hoặc trên sản phẩm ít chịu ảnh
hưởng nhiều của nước Cacbonat. Trong nhóm này có 3 loại chính và loại phụ.
3 loại chính là:
Loại 1: Đất Feralit vàng phát triển trên sa thạch.
Loại 2: Đất Feralit vàng, nâu, xám, tím phát triển trên Azgilit.
Loại 3: Đất Feralit vàng đỏ phát triển trên diệp thạch sét.
Dựa vào kết quả phân tích có thể nhận xét về đất Cúc Phương như sau.
Đất tơi xốp, với độ xốp khá cao (60-65%).
Đất có hàm lượng mùn lớn và thấm sâu (4 -5%).
km, ở đây không có rừng, độ cao so với mặt biển là 20m, nhiệt độ bình quân
năm là 22,7 0 C, cao hơn nhiệt độ bình quân của Bống 2,1 0 C và cao hơn nhiệt
độ bình quân của Đang 0,9 0 C.
2.1.4.2. Chế độ mưa.
Lượng mưa bình quân năm của Cúc Phương biến động từ 1800mm đến
2400mm, bình quân năm là 2138mm/năm. Đó là lượng mưa tương đối lớn
so với vùng xung quanh.
Nếu tính tháng có lượng mưa từ 100mm là tháng mưa thì ở đây có tới 8
tháng và mùa mưa kéo dài từ tháng IV đến tháng XI. Tháng có lượng mưa
lớn nhất là tháng IX là 410,9mm, trong khi đó các tháng XII, I, II và III
lượng mưa chưa được 50mm. Mặc dù mùa khô có 4 tháng nhưng phân biệt
rất rõ với mùa mưa. Mưa ít cộng với nhiệt độ thấp làm cho khí hậu ở Cúc
Phương tương đối khắc nghiệt về mùa đông.
2.1.4.3. Độ ẩm không khí.
Độ ẩm tương đối không khí trung bình năm ở Cúc Phương là 90% và
tương đối đều trong năm, tháng thấp nhất không dưới 88%. Trong khi đó
độ ẩm tuyệt đối biến thiên giống như nhiệt độ trong không khí.
16
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu khí hậu cơ bản khu vực Vườn quốc gia Cúc Phương.
Tháng
Nhiệt độ (00C)
Lượng mưa (mm)
Độ ẩm (%)
91
5
24,6
221,2
89
6
25,5
295,7
90
7
25,8
308,4
90
8
25,1
15,4
32,3
88
TB= 20,6
TB= 2.147,7
TB =90
Kết quả nghiên cứu khí hậu tập hợp trong Bảng 2.1 vẽ theo phương pháp
Gausen Walter, để thấy được mức độ biến động về các nhân tố trên.
17
Biểu đồ 2.1 Biểu đồ khí hậu Gaussen Walter khu vực VQG Cúc
Phương
450
400
350
300
Nhiệt độ (00C)
Lượng mưa (mm)
Độ ẩm (%)
250
200
vậy do điều kiện địa hình, gió sau khi vượt qua các yên ngựa và hẻm núi đi
sâu vào rừng bị thay đổi hướng rất nhiều và tốc độ gió thường là 1-2m/s.
2.1.4.5. Thủy văn.
Do ở Cúc Phương là địa hình Castơ nên ở đây có ít dòng chảy, ngoại trừ sông
Bưởi và sông Ngang ở phía Bắc có nước quanh năm, còn lại là các khe suối cạn
có nước theo mùa, sau cơn mưa, khe khô dẫn nước vào lỗ hút, chảy ngầm rồi
phun ra ở một số vó nước. Chỗ nào nước không hút kịp thì ứ đọng lại, gây nên
ngập úng tạm thời.
(*) Các số liệu về Điều kiện tự nhiên trình bày ở mục 2.1 tham khảo tài liệu của
Đào Văn Khương và cộng sự xuất bản năm 2002 [13].
18
2.1.5. Tài nguyên thiên nhiên.
2.1.5.1. Hệ thực vật.
Vườn quốc gia Cúc Phương có 20.473ha rừng trong tổng số diện tích
22.200ha (chiếm 92,2%). Thảm thực vật ở đây là rừng mưa nhiệt đới thường
xanh, Cúc Phương là nơi rất đa dạng về cấu trúc tổ thành loài trong hệ thực vật.
Với diện tích chỉ có 0,07% so với cả nước, nhưng lại có số họ thực vật chiếm
tới 57,93%; số chi 36,09% và số loài chiếm 17,27% trong tổng số họ, chi và
loài của cả nước.
Cúc Phương là nơi hội tụ của nhiều luồng thực vật di cư cùng sống với nhiều
loài bản địa. Đại diện cho thành phần bản địa là các loài trong họ Long não
(Lauraceae), Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Xoan (Meliaceae). Đại diện cho
luồng di cư từ phương Nam ấm áp là các loài trong họ Dầu (Dipterocarpaceae).
Đại diện cho luồng thực vật có nguồn gốc từ phương Bắc là các loài trong họ
Giẻ (Fagaceae).
Cúc Phương còn diện tích rừng nguyên sinh đáng kể, chủ yếu tập trung trên vùng
núi đá vôi và ở các thung lũng trung tâm Vườn. Chính do vị trí, đặc điểm khí hậu
Loài
9
31
74
127
thông
1
1
1
1
đất
2
2
2
9
7
27
56
129
3
3
3
5
86
166
780
1831
+ Lớp hai lá mầm
135
597
Ngành Hạt kín (Angiospermae)
Tổng
109
Qua số liệu thống kê trên, ở Cúc Phương ngành hạt kín chiếm ưu thế với
87,06% trong tổng số loài thực vật bậc cao. Trong đó có 10 họ thực vật có số
lượng loài lớn nhất:
Bảng 2.3. 10 họ có số loài lớn nhất
TT
Số loài
Tỷ lệ %
Họ
Số chi
1
Họ Đậu (Fabaceae)
41
106
5,04
5
Họ Cà phê (Rubiaceae)
30
79
3,76
6
Họ Cúc (Asteraceae)
37
64
3,04
7
Họ Long não (Lauraceae)
12
54
2,56
loài
20
2.1.5.2. Hệ động vật.
Hệ động vật rừng vô cùng phong phú và đa dạng. Kết quả điều tra năm 2001 đã
thống kê được: Lưỡng cư có 43 loài, Cá 65 loài, Bò sát 67 loài, Chim 307 loài, Giáp
xác 12 loài và Thú 119 loài. Diện tích VQG Cúc Phương so với Việt Nam chỉ
chiếm 0,07% nhưng số loài động có xương sống chiếm 30,9%, trong đó có 64 loài
được ghi trong sách đỏ Việt Nam, một số loài đặc hữu của Cúc Phương. Vì vậy Cúc
Phương được coi là khu bảo tồn thiên nhiên độc đáo với tính đa dạng sinh học rất
cao và chứa đựng trong nó rất nhiều loài quý và đặc hữu.
2.2. Điều kiện xã hội.
Vườn quốc gia Cúc Phương được thành lập năm 1962 theo quyết định 72 Ttg của
thủ tướng Chính Phủ, với 3 nhiệm vụ chính:
Bảo tồn nguyên vẹn tài nguyên rừng hiện có.
Đón tiếp khách tham quan du lịch, học tập và nghiên cứu.
Nghiên cứu khoa học.
Cúc Phương được ví như "Một ốc đảo xanh" nằm giữa "Biển người". Trải dài trên
địa phận 15 xã thuộc 4 huyện (Nho quan – Ninh bình, Yên Thủy, Lạc sơn –Hòa
Bình, Thạch Thành – Thanh Hóa) của 3 tỉnh, với số dân gần 70.000 người chủ yếu
là dân tộc Mường, mật độ bình quân là 138 người/km2. Trong đó 4 xã có dân nằm
trong ranh giới của Vườn là: xã Cúc Phương thuộc huyện Nho Quan - Ninh Bình,
xã Thạch Lâm thuộc huyện Thạch Thành - Thanh Hóa, xã Ân Nghĩa và Yên Nghiệp
thuộc huyện Lạc Sơn - Hòa Bình.
Những hạn chế của cộng đồng dân cư đối với VQG Cúc Phương:
- Trình độ dân trí thấp, nhận thức và sự hiểu biết về công tác bảo vệ môi
trường thiên nhiên còn hạn chế.
Sau hơn 45 năm xây dựng và phát triển, Vườn quốc gia Cúc Phương đã đạt
được nhiều thành tích to lớn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao đã được
Đảng và Nhà nước, ngành Lâm nghiệp công nhận.
22
Chương 3. MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1. Mục tiêu
- Xây dựng danh lục các loài cây thuốc mọc tự nhiên của VQG Cúc Phương
và đánh giá tình trạng bảo tồn của các loài làm thuốc
- Đánh giá được tính đa dạng của các loài cây thuốc ở Cúc phương.
- Xác định được hiện trạng khai thác và sử dụng cây thuốc ở Cúc phương.
4.2. Nội dung
4.2.1. Thu thập các tài liệu nghiên cứu về cây thuốc ở VQG Cúc Phương
trước đây và các khu vực liên quan và Việt Nam.
4.2.2. Điều tra thu mẫu thực vật các loài cây thuốc để xây dựng danh lục
các loài cây thuốc ở Cúc phương.
4.2.3. Xác định được tính đa dạng cây thuốc ở Cúc phương về các mặt:
Thành phần loài, dạng sống, các bộ phận sử dụng và các bệnh chữa trị và tình
trạng bảo tồn của các loài theo tiêu chuẩn Danh sách Đỏ của IUCN, Sách Đỏ
Việt Nam và Nghị định 32/2006/ NĐ-CP.
4.2.4. Bước đầu tập hợp được kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các
ông lang, bà mế ở Cúc phương.
4.2.5. Đánh giá được thực trạng khai thác và sử dụng cây thuốc ở Cúc
phương.
4.2.6. Đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững
nguồn tài nguyên cây thuốc ở Cúc phương.
4.3. Phương pháp nghiên cứu
4.3.1 Phương pháp luận