Nghiên cứu sinh thái dinh dưỡng của nhóm linh trưởng ăn thực vật tại vườn quốc gia Cúc Phương làm cơ sở cho công tác bảo tồn - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Phạm Minh Dƣơng

NGHIÊN CỨU SINH THÁI DINH DƢỠNG CỦA NHÓM
LINH TRƢỞNG ĂN THỰC VẬT TẠI VƢỜN QUỐC GIA
CÚC PHƢƠNG LÀM CƠ SỞ CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – Năm 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Phạm Minh Dƣơng

NGHIÊN CỨU SINH THÁI DINH DƢỠNG CỦA NHÓM
LINH TRƢỞNG ĂN THỰC VẬT TẠI VƢỜN QUỐC GIA
CÚC PHƢƠNG LÀM CƠ SỞ CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN

Chuyên ngành: Khoa học Môi trƣờng
Mã số: 60440301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. TRẦN VĂN THỤY


Tình hình nghiên cứu trên thế giới .......................................................5

1.2.2.

Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam .....................................................11

1.3. Tổng quan về Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng ..................................................13
1.3.1.

Vị trí địa lý và diện tích Vườn Quốc gia Cúc Phương ........................13

1.3.2.

Địa hình, địa chất .................................................................................14

1.3.3.

Khí hậu, thuỷ văn..................................................................................14

1.3.4.

Thổ nhưỡng...........................................................................................15

Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................16
2.1. Đối tƣợng và mục tiêu nghiên cứu................................................................16
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu ..............................................................................16
2.2.1.

Phương pháp điều tra thực địa ............................................................16


feralite hình thành từ đá phiến ............................................................................44
3.2.3.

Rừng rậm thường xanh nhiệt đới gió mùa cây lá rộng, trên đất dốc tụ

thung lũng .............................................................................................................46
3.3. Đánh giá khả năng cung cấp thức ăn cho các loài linh trƣởng ăn thực vật
tại Vƣờn Quốc gia Cúc Phƣơng .............................................................................49
KẾT LUẬN ..................................................................................................................52
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................................53


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

AGB

Sinh khối trên mặt đất (Above ground biomas)

BEF

Chỉ số giãn nở sinh khối (Biomass Expansion Factor)

DBH

Đường kính ngang ngực (Diameter at breast height)

GIS

Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System)

Brown (1992):..................................................................................................................7
Bảng 2. Tỉ lệ rễ/cành non ..............................................................................................11
Bảng 3. Quan hệ sinh khối rừng nhiệt đới với đường kính ngang ngực (DBH)(cao
1,37m tính từ mặt đất) và chiều cao cây (H) (Đơn vị tính sinh khối: Kg) ....................19
Bảng 4. Danh lục các loài linh trưởng ăn thực vật trong tự nhiên tại Vườn Quốc gia
Cúc Phương ...................................................................................................................25
Bảng 5. Danh lục thực vật làm thức ăn cho linh trưởng................................................28
Bảng 6. Sinh khối thực vật làm thức ăn cho linh trưởng ở sinh cảnh Rừng rậm thường
xanh nhiệt đới gió mùa cây lá rộng, trên đất feralite hình thành từ đá Vôi ...................42
Bảng 7. Sinh khối thực vật làm thức ăn cho linh trưởng ở sinh cảnh Rừng rậm thường
xanh nhiệt đới gió mùa cây lá rộng, trên đất feralite hình thành từ đá phiến ................45
Bảng 8. Sinh khối thực vật làm thức ăn cho linh trưởng ở sinh cảnh Rừng rậm thường
xanh nhiệt đới gió mùa cây lá rộng, cây lá rộng, trên đất dốc tụ thung lũng ................47
Bảng 9. Bảng tổng hợp sinh khối thực vật làm thức ăn cho linh trưởng.......................49


MỞ ĐẦU
Trong một hệ sinh thái, mỗi loài sinh vật cũng như các yếu tố môi trường đều
góp phần quan trọng trong việc duy trì tính cân bằng của dòng vật chất – năng lượng,
tính ổn định và bền vững của hệ thống. Bất cứ sự thay đổi nào trong các thành phần
này đều có thể tạo ra những hiệu ứng ảnh hưởng tới trạng thái cân bằng của hệ và do
đó việc duy trì trạng thái cân bằng của hệ mang ý nghĩa sống còn đối với bất kỳ hệ
sinh thái nào, tự nhiên hay nhân tạo. Trong tự nhiên, hệ sinh thái luôn có một cơ chế tự
bảo vệ hay tự phục hồi thế cân bằng tuy nhiên khả năng luôn có một điểm tới hạn mà
tại đó khi một hoặc nhiều thành phần của hệ bị tác động quá mạnh, nó sẽ không khôi
phục lại được từ đó kéo theo sự sụp đổ mang tính hệ thống. Do vậy, hiểu biết về mỗi
thành phần, mối quan hệ giữa chúng là yêu cần tiên quyết trước khi cân nhắc tác động
lên một thành phần nào đóđể không tác động xấu đến sự cân bằng của toàn bộ hệ
thống đồng thời cũng là cơ sở khoa học vững chắc cho công tác bảo tồn đa dạng sinh
học, đặc biệt là tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên.

làm cơ sở cho công tác bảo tồn” với mong muốn bổ sung một phần tư liệu về sinh thái
dinh dưỡng, sinh cảnh đặc trưng và sinh khối thực vật làm thức ăn cho nhóm linh
trưởng ăn thực vật tại đây và góp phần làm cơ sở cho công tác bảo tồn trong tương lai.
Do điều kiện nghiên cứu hạn chế, học viên lựa chọn một số khía cạnh của sinh thái
dinh dưỡng bao gồm phân bố, thành phần loài thực vật, sinh khối thực vật làm thức ăn
cho linh trưởng và các sinh cảnh đặc trưng của linh trưởng tại Vườn Quốc gia Cúc
Phương làm đối tượng nghiên cứu chính của đề tài.

2


Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.

Tổng quan về sinh thái dinh dƣỡng của linh trƣởng ăn thực vật
Sinh thái dinh dưỡng là một hướng nghiên cứu mới xuất hiện trong khoảng vài

thập kỷ gần đây. Nghiên cứu sinh thái dinh dưỡng (feeding ecology) bao gồm đánh giá
toàn bộ hệ thống thức ăn từ việc lấ y thức ăn , vận chuyển, tiêu thụ thức ăn đến việc tiêu
hóa và bài tiết.
Sinh thái dinh dưỡnglinh trưởng (Primate Nutritional Ecology ) là sự tương tác
giữa môi trường, sự hấp thudinh dưỡng của một (hoặc nhiều) loài linh trưởng và các
yếu tố sinh lý cá thể.Đây là một lĩnh vực rộng với nhiều hướng tiếp cận, đối tượng
nghiên cứu khác nhau bao gồm sinh lý [30], hình thái [32], sinh sản và sinh trưởng phát triển [22] và sinh tháihọc loài [27]. Nghiên cứu sinh thái dinh dưỡng thú linh
trưởng có ý nghĩa lớn trong xác định các yếu tố sinh thái ảnh hưởng đến sự đa dạng
loài, nhân khẩu học và tập tính xã hội của chúng, là cơ sở khoa học cốt lõi cho công
tác bảo vệ, bảo tồn và phục hồi loài linh trưởng. Trong cuốn "Primate ecology: Studies
of feeding and ranging behavior in lemurs, monkey and apes" xuất bản năm 1977 của
nhà xuất bản Academic Press Inc . (London) Ltd với nội dungvề hoạt động , lựa chọn
thức ăn và các tập tính khác của

về Linh trưởng được thực hiện bởi các nhà khoa học nước ngoài, chủ yếu về phát hiện,
mô tả loài mới và thống kê thành phần loài. Từ 1954 đến 1975, các nhà khoa học ở
miền Bắc Việt Nam bắt đầu các công trình nghiên cứu về thành phần loài và mô tả khu
hệ động thực vật. Các công trình nổi bật trong thời gian này bước đầu tiếp cận đến
khái niệm sơ khai của sinh thái dinh dưỡng được mô tả bằng các tập tính sinh học và
thức ăn của Linh trưởng, một số công trinh nổi bật bao gồm:
Lê Hiền Hào, Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam, 1973 [3]
Đào Văn Tiến, Khảo sát thú ở miền Bắc Việt Nam, 1985 [13]
Giai đoạn sau năm 1975 đến nay, những công trình nghiên cứu về Linh trưởng
được thực hiện bởi hàng loạt các việt nghiên cứu bao gồm: Viện Sinh thái và Tài
nguyên Sinh vật, Viện vệ sinh dịch tễ (Bộ Y tế), các trường Đại học Lâm nghiệp, Đại
học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội, … khi nhận thức về việc bảo tồn
loài này ngày càng được gia tăng và quan tâm của các tổ chức quốc tế ngày càng
nhiều. Sự ra đời của hàng loạt các trung tâm cứu hộ, các công trình nghiên cứu và hội
thảo khoa học và Tuần báo Linh trưởng học (Vietnam Journal of Primatology) năm
2007 đặt bước tiến mới cho nghiên cứu Linh trưởng nói chung và sinh thái dinh dưỡng
Linh trưởng nói riêng tại Việt Nam.
Năm 2008, Hội Thảo Quốc tế về bảo tồn Linh trưởng được khu vực Đông
Dương được tổ chức tại Vườn Quốc Gia Cúc Phương, Ninh Bình, ngoài hơn 100 báo
cáo của các nhà khoa học Quốc tế về các tập tính của Linh trưởng còn có rất nhiều báo
cáo của các nhà khoa học trong nước cùng tham gia, bao gồm tập tính dinh dưỡng và

4


sinh thái. Tuy nhiên, hướng nghiên cứu dinh dưỡng sinh thái của Linh trưởng vẫn còn
rất mới mẻ và chưa được chú ý đúng mức ở Việt Nam.
1.2.

Tổng quan về nghiên cứu sinh khối thực vật rừng

tích tươi (như tấn/m3 hay gam/cm3). Trong nghiên cứu công bố năm 1992, Reyes và
các cộng sự đã đưa ra công thức tính toán mật độ gỗ như sau:
Y = 0.0134 + 0.800 X
Trong đó: Y = Mật độ gỗ khô/thể tích tươi
X = Mật độ gỗ ở độ ẩm 12%
Trong điều kiện lý tưởng, mật độ khối lượng gỗ trung bình được tính toán như sau:
WD = (V1/Vt *WD1 + (V2/Vt) *WD2 +........... (Vn/Vt)* Wdn
Trong đó: V1, V2,.... Vn = Thể tích của các loài 1, 2,…,n
Vt = tổng thể tích của WD1 WD2,..... Wdn = Mật độ gỗ củ loài 1, 2, …, n
Một yếu tố quan trọng khác để tính toán sinh khối theo công thứ tổng quát đã
nêu ở trên là chỉ số giãn nở sinh khối. Chỉ số này được định nghĩa là tỉ lệ của tổng mật
độ sinh khối khô trên mặt đất của các loài cây gỗ có đường kính ngang ngực (DBH) là
10cm hoặc hơn với mật độ sinh khối khô của thể tích đã điều tra, kiểm kê. Năm 1992,
Brown và Lugo [17] dựa trên việc phân tích số liệu đã thu thập về thể tích và mật độ
sinh khối của nhiều loài cây gỗ lá rộng đã đưa ra công thức:
BEF = Exp{3,213 – 0,506*Ln(BV)} for BV < 190 tấn/ha
Hoặc BEF = 1,74 với BV >= 190 tấn/ha
Trong đó: BV = Sinh khối của thể tích đã kiểm kê (tấn/ha).
Một phương pháp khác được sử dụng trong nghiên cứu sinh khối đó là xây
dựng các phương trình hồi quy sinh khối dựa trên kích thước, đường kính cây cá lẻ.
Các phương trình hồi quy này có thể được sử dụng để ước tính sinh khối cho từng cây.
Tổng hợp từ nhiều công trình nghiên cứu của bản thân và cộng sự, Brown (1992) [16]
đã đưa ra các cộng thức như sau:

6


Bảng 1. Phƣơng trình tính toán sinh khối cây cá lẻ tại các vùng khí hậu khác
nhau theo Brown (1992) trong đó D = Đƣờng kính ngang ngực (DBH) (cm); BA=
Diện tích gốc (cm):

191

0.94

Y = 42.69-12.800(D)+1.242(D2)

5-148

170

0,84

Y = exp{-2.134+2.530*ln(D)}
Mưa nhiều

Y = 21.297-6.953(D)+0.740(D2)

0.97
4-112

169

0.92

Tuy nhiên tác giả cũng đã chỉ ra những vấn đề cần giải quyết của phương pháp
tiếp cận này, đó là:
-

Chỉ có một vài cây có đường kính lớn được sử dụng trong các phương trình hồi
quy. Ví dụ trong phương trình xây dựng cho vùng khí hậu ẩm, chỉ có 5 cây có

Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về sinh khối được thực hiện theo
phương pháp này, vì thế kết hợp được những thông tin có sẵn này để xây dựng các mối
quan hệ tổng thể cho lâm phần. Tuy nhiên phương pháp này còn một số hạn chế như
định nghĩa về DBH ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác tương đối khác nhau, sự
chủ quan trong việc lựa chọn mẫu đo đếm nên người ta thường có xu hướng chọn các
mẫu dễ dàng…
Trong một lâm phần các yếu tố như độ tuổi, mât độ, sinh khối, thổ nhưỡng, thời
tiết có liên hệ với nhau và được thể hiện một cách tương đối qua các phương trình
quan hệ tuyến tính hay phi tuyến tính. Những phương trình này được sử dụng để xác
định sinh khối và hấp thụ cácbon cho lâm phần. Đây là phương pháp tiếp cận dựa trên
việc điều tra các yếu tố lâm phần.
Theo phương pháp này sinh khối lâm phần được xác định từ phương trình
đường thẳng để dự đoán sinh khối từ các phép đo đếm cây cá lẻ đơn giản:
Y = b0 + bi Xi (3.1)
Từ đó sinh khối lâm phần được tính
ΣY = Nb0 + biΣXi (3.2)
Hoặc một số phương trình dạng đơn giản khác, ví dụ: ln (Y) = b0 + biln (Xi)
Trong đó:
Y là sinh khối, Xi có thể có được từ phép đo đơn giản (vd: tổng tiết diện
ngang), N là số cây trong lâm phần; b0 và bi là hệ số tự do.
Khi các phương trình tương quan phi tuyến cho các biến lâm phần được sử
dụng không cần sử dụng phương trình đơn giản trên để tính sinh khối rừng. Hạn chế
chính của phương pháp này là yêu cầu phải thu thập một số lượng nhất định số liệu các

8


nhân tố điều tra của lâm phần để có thể xây dựng được phương trình. Tổng tiết diện
ngang, mật độ là những nhân tố điều tra dễ đo đếm, đảm bảo độ chính xác, tuổi rừng
cũng có thể xác định ở những lâm phần được quản lý tốt hoặc có thể ước lượng từ

-

Mô hình thực nghiệm/thống kê (empirical model) dựa trên những đo đếm của
sinh trưởng và các điều kiện tự nhiên của thời điểm đo đếm mà không xét đến
các quá trình sinh lý học.

-

Mô hình tiến trình (process model)/mô hình sinh lý học mô tả đầy đủ các cơ chế
hóa sinh, lý sinh trong hệ sinh thái và sinh vật.

-

Mô hình hỗn hợp (hybrib model) kết hợp phương pháp xây dựng hai loại mô
hình trên đây để xây dựng mô hình hỗn hợp
Ưu điểm của phương pháp này là có thể phù hợp để dự đoán sản lượng ngắn

hạn trong khoảng thời gian mà các điều kiện tự nhiên cho sinh trưởng của rừng được
thu thập số liệu tạo nên mô hình vẫn chưa thay đổi lớn. Mô hình thực nghiệm thường
được thể hiện bằng các phương trình quan hệ hoặc phương trình sinh trưởng dựa trên
số liệu sinh trưởng đo đếm thực nghiệm mà thông thường không xét đến ảnh hưởng
trực tiếp của các yếu tố môi trường vì các ảnh hưởng này được coi như đã được tích
hợp vào sinh trưởng của cây.
Trên một các thể cây luôn tồn tại mối tương quan về sinh khối giữa các bộ phận
khác nhau bao gồm rễ, thân, cành, lá… Những mối quan hệ này có thể được mô hình
hóa bằng các phương trình toán học nhằm ước tính sinh khối của từng bộ phận từ đó
ước tính được sinh khối của cây. Sinh khối rễ thường có quan hệ chặt chẽ với sinh
khối trên mặt đất. Mối quan hệ này được thể hiện bằng tỉ lệ rễ/cành non (Root – Shoot
ratio). Brow và cộng sự đã tổng hợp và đưa ra bảng tỉ lệ R/S cho từng kiểu rừng như
sau:


Rừng

rụng



theo

(như rừng nhiệt đới khô rụng lá theo mùa)
Cùng với sự phát triển của công nghệ vũ trụ và những tiến bộ vượt bậc về chất
lượng của ảnh vệ tinh cũng như các dữ liệu viễn thám, hướng tiếp cận nghiên cứu sinh
khối sử dụng hệ thống thông tin địa lý và công nghệ viễn thám đang ngày càng được
nhiều nhà khoa học chú ý. Phương pháp này sử dụng các công nghệ viễn thám và GIS
với các công cụ như ảnh hàng không, ảnh vệ tinh, laze, rada, hệ thống định vị toàn cầu
(GPS)… để đo đếm lượng các bon trong hệ sinh thái và biến đổi của chúng. Nó
thường được áp dụng cho các điều tra ở phạm vi quốc gia hoặc vùng và cũng rất phù
hợp cho việc kiểm tra, giám sát của các dự án sử dụng đất, chuyển đổi sử dụng đất và
lâm nghiệp. Tuy nhiên, với qui mô dự án, đặc biệt là dự án CDM qui mô nhỏ - thường
có ở các nước đang phát triển, diện tích đất của các chủ rừng không lớn, phương pháp
này không thích hợp lắm vì sai số lớn và không dễ thực hiện do đòi hỏi các nguồn lực
đầu vào như thiết bị xử lý, nhân lực trình độ cao...
1.2.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu sinh khối cho các mục đích khác nhau, trong đó
có nghiên cứu sinh thái dinh dưỡng mới chỉ phát triển trong thời gian gần đây. Các nhà
nghiên cứu đã thiết lập các loại biểu thể tích, biểu quá trình sinh trưởng theo cấp đất,
cấp tuổi, mật độ rừng... cho nhiều loài cây trồng phổ biến như: Mỡ, Thông mã vĩ,
Thông nhựa... có thể kể tới một số tác giả tiêu biểu như: Vũ Tiến Hinh, 2000 [4]; Vũ
Đình Phương và Đào Công Khanh, 2001 [7]. Đây là những nghiên cứu bước đầu làm



12


tấn/ha [9]. Nguyễn Hoàng Trí (1986)[14] áp dụng phương pháp “cây mẫu” để nghiên
cứu năng suất sinh khối một số quần xã rừng Đước (Rhizophora apiculata) tại rừng
ngập mặn Minh Hải. Hà Văn Tuế (1994) [15] cũng vận dụng nguyên tắc này để nghiên
cứu năng suất, sinh khối một số rừng trồng nguyên liệu giấy tại vùng trung du Vĩnh
Phúc. Nguyễn Ngọc Lung và Đào Công Khanh (1999) [5], đã nghiên cứu và đưa ra kết
quả tính tổng sinh khối toàn rừng là 428,2 tấn/ha, còn nếu tính theo biểu sinh hối thì
giá trị này là 434,2 tấn/ha. Sai số giữa biểu quá trình sinh trưởng và biểu sản lượng là
1,4%. Đặng Trung Tấn (2001) nghiên cứu sinh khối rừng Đước đã xác định được tổng
sinh khối hô rừng Đước ở Cà Mau là 327 m3/ha, tăng trưởng sinh khối bình quân hàng
năm là 9.500 g/ha [10]. Nguyễn Thanh Tiến (2011), khi tiến hành đề tài “Nghiên cứu
khả năng hấp thụ CO2 của trạng thái rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên sau khai thác kiệt
tại tỉnh Thái Nguyên” đã tính toán được tổng sinh khối tươi của lâm phần rừng IIB
khoảng 138,77 tấn/ha, sinh khối hô là 76,46 tấn/ha, trong đó 82,61% tổng sinh khối
lâm phần tập trung ở tầng cây gỗ, 10,92% ở tầng vật rơi rụng và chỉ có hoảng 6,47%
sinh khối phân bố ở tầng cây bụi, thảm tươi [12]. Theo tác giả Võ Đại Hải và cộng sự
(2009) [2] khi tiến hành nghiên cứu năng suất sinh khối của một số loài cây trồng rừng
như: Mỡ, Thông đuôi ngựa, Thông nhựa, Keo lai, Keo lá tràm... đã tính toán được cấu
trúc sinh khối cây cá thể và cấu trúc sinh khối lâm phần rừng, tìm hiểu được mối quan
hệ giữa sinh khối cây cá thể và lâm phần với các nhân tố môi trường... Góp phần quan
trọng trong nghiên cứu sinh khối rừng cho các mục đích khác nhau..
1.3.

Tổng quan về Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng

1.3.1. Vị trí địa lý và diện tích Vườn Quốc gia Cúc Phương
Vườn Quốc gia Cúc Phương nằm cách thủ đô Hà Nội 120 km về phía Tây Nam.

Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm là 20.60C, nhiệt độ trung bình năm thấp
nhất là 19.90C (năm 1971), nhiệt độ bình quân năm cao nhất là 21.20C (năm 1966), nhìn
chung nhiệt độ trung bình năm là tương đối ổn định chênh nhau chỉ trên dưới 10C.
Tháng nóng nhất là thánh 7, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là 37.80C, nhiệt độ thấp nhất
tuyệt đối là 0.70C
Chế độ mưa: Lượng mưa phân bố không đều, lượng mưa bình quân năm là
2.138 mm, lượng mưa cao nhất vào tháng 9 là 410,9 mm, số ngày mưa trung bình năm

14


là 200 ngày, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, chiếm 89% lượng mưa cả năm.
những tháng mưa it (lượng mưa < 100 mm) kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3. Do lượng
mưa như vậy nên độ ẩm rất cao, độ ẩm trung bình là 90%, tháng có độ ẩm cao nhất là
95%, tháng có độ ẩm thấp nhất là 85%. Tổng lượng bốc hơi bình quân năm là 485 mm
bằng 21.41% tổng lượng mưa.
Chế độ gió: Vườn Quốc gia Cúc Phương chịu ảnh hưởng của 2 luồng gió chính
là gió Đông Bắc và gió Tây Nam.
1.3.4. Thổ nhưỡng
Tại vườn quốc gia Cúc Phương có hai nhóm đất chính bao gồm:
Nhóm 1: Đất Macgalit với những đặc điểm là thường xuyên bồi tụ và tích luỹ
các chất Bazơ chủ yếu là Canci, Magie. Đất này là đất phát triển trên đá vôi hoặc trên
các sản phẩm chịu ảnh hưởng của cacbon nhiều.
Nhóm 2: Đất Feralit với đặc điểm thường xuyên rửa trôi các chất Bazơ, chủ yếu
là Canci và Magie.

15


Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


16


- Sử dụng phương pháp chuyên gia với các thiết bị thực địa như bản đồ, GPS,
máy tính. Ứng dụng công nghệ GIS và phương pháp thực địa truyền thống, liên kết cơ
sở dữ liệu, xây dựng bản đồ theo mục đích nghiên cứu.
- Lập các ô tiêu chuẩn đặc trưng nhất cho từng quần xã thực vật trong sinh cảnh
mà nó chứa đựng các nguồn thức ăn của Voọc. Kích thước của các ô tiêu chuẩn được
định hướng theo phương pháp nghiên cứu thảm thực vật ở trên nhằm đánh giá sơ bộ
nguồn thức ăn và sinh khối tổng số nguồn thức ăn của Voọc trong khu vực nghiên cứu
, theo dõi biến động nguồn thức ăn theo mùa trong năm. Những tính toán vế sinh khối
cây gỗ thường khó thực hiện bằng phương pháp chặt hạ cân trực tiếp, dựa trên thông
số về đường kính thân cây, chiều cao cây có thể đi đến tiếp cận trữ lượng tươi của tầng
cây gỗ thông qua công thức liên quan giữa đường kính thân cây cơ bản D và chiều cao
cây H. Tầng cây bụi và cỏ được cân trực tiếp các cá thể đại diện sau đó thống kê lại và
tính toán.
2.2.2. Phương pháp hồi cứu kế thừa tài liệu nghiên cứu có sẵn nhằm xây dựng
danh mục các loài thực vật làm thức ăn cho linh trưởng
Các tài liệu nghiên cứu đã có về sinh thái dinh dưỡng của linh trưởng từ đó
thống kê, đối chiếu so sánh để lập danh mục các loài thực vật làm thức ăn cho linh
trưởng tại vườn quốc gia Cúc Phương.
2.2.3. Phương pháp viễn thám và hệ thống thông tin địa lý kết hợp điều tra khảo
sát thực địa
Phương pháp này được sử dụng trong việc xác định các quần xã thực vật đặc
trưng của Vườn quốc gia Cúc Phương. Phần mềm được sử dụng để thiết lập các lớp
thông tin là Mapinfo 15, Global mapper 17 và ESRI ArcMap 10.5 để xử lý ảnh vệ tinh.
Các lớp thông tin được xử lý như là các dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính, trong
một bộ cơ sở sữ liệu của GIS. Việc thành lập bản đồ được thực hiện qua các bước như
sau:

từng bộ phận của cây như sinh khối thân, cành, lá cây. Công trình của Yamakura
(1986) có ý nghĩa rất lớn cho nghiên cứu sinh khối rừng tự nhiên, có thể áp dụng ở
Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Giữa sinh khối từng bộ phận và sinh khối tổng số
có mối tương quan với DBH và chiều cao H của cây rất chặt chẽ thông qua hệ số

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status