ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Phạm Minh
NGHIÊN CỨU SINH THÁI DINH DƯỠNG CỦA NHÓM
LINH TRƯỞNG ĂN THỰC VẬT TẠI VƯỜN QUỐC GIA
CÚC PHƯƠNG LÀM CƠ SỞ CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------
Phạm Minh
NGHIÊN CỨU SINH THÁI DINH DƯỠNG CỦA NHÓM
LINH TRƯỞNG ĂN THỰC VẬT TẠI VƯỜN QUỐC GIA
CÚC PHƯƠNG LÀM CƠ SỞ CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN
Chuyên ngành: Khoa học Môi trường
Mã số: 60440301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. TRẦN VĂN THỤY
Sinh khối trên mặt đất (Above ground biomas)
BEF
Chỉ số giãn nở sinh khối (Biomass Expansion Factor)
DBH
Đường kính ngang ngực (Diameter at breast height)
GIS
Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information
System)
GPS
Hệ thống định vị toàn cầu (Global Positioning System)
IUCN
Liên minh bảo tồn thiên nhiên quốc tế
JIFPRO
Trung tâm Hợp tác và Xúc tiến Lâm nghiệp Quốc tế Nhật
Bản
R/S
sông Hồng và Bắc Trung Bộ thuộc ba tỉnh: Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa. Vườn
quốc gia này có hệ động thực vật phong phú đa dạng mang đặc trưng rừng mưa nhiệt
đới. Nhiều loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao được phát hiện và bảo tồn tại
đây. Trong đó, bộ Linh trưởng là một trong những nhóm sinh vật quan trọng được bảo
tồn tại đây với 8 loài đang sinh sống trong tự nhiên và một trung tâm cứu hộ thú linh
trưởng hiện đang nuôi dưỡng 160 cá thể thuộc 15 loài.
Về tập tính, các loài linh trưởng thường lựa chọn ăn các bộ phận thực vật (lá,
hoa, quả, hạt,...) của một số nhất định các loài cây hiện có trong tự nhiên để đáp ứng
nhu cầu dinh dưỡng của mình. Tuy nhiên, trong tự nhiên, thành phần và sinh khối của
các loài thực vật thường biến động nhiều theo thời gian và không gian. Vì vậy, trong
quá trình tiến hóa, ở mỗi loài linh trưởng đều hình thành cơ chế thích nghi nhất định
đối với sự biến đổi này. Nghĩa là, mỗi loài linh trưởng chỉ lựa chọn ăn một số bộ phận
7
của một số loài thực vật nhất định. Nếu thiếu các nguồn thực vật này, sự sống của quần
thể linh trưởng sẽ bị ảnh hưởng, thậm chí quần thể có thể bị suy giảm hoặc tuyệt chủng
nếu nguồn thức ăn bị thiếu nghiêm trọng và kéo dài. Vì vậy, hiểu biết về nhu cầu dinh
dưỡng và cơ chế lựa chọn các loại thức ăn trong thiên nhiên của loài sẽ giúp ích cho
công tác quản lý bảo tồn các loài linh trưởng bị đe dọa tuyệt chủng bao gồm cả việc
kiểm soát số lượng cá thể linh trưởng trong tự nhiên và trong điều kiện nuôi nhốt.
Mặc dù hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về tập tính, đặc điểm sinh học của các
loài linh trưởng tại Vườn quốc gia Cúc Phương phục vụ công tác bảo tồn tuy nhiên
việc phân tích, đánh giá, xác định khu vực, khả năng cung cấp thức ăn cho nhóm linh
trưởng ăn thực vật còn ít được thực hiện. Do đó, học viên chọn đề tài “Nghiên cứu
sinh thái dinh dưỡng của nhóm linh trưởng ăn thực vật tại vườn quốc gia Cúc Phương
làm cơ sở cho công tác bảo tồn” với mong muốn bổ sung một phần tư liệu về sinh thái
dinh dưỡng, sinh cảnh đặc trưng và sinh khối thực vật làm thức ăn cho nhóm linh
trưởng ăn thực vật tại đây và góp phần làm cơ sở cho công tác bảo tồn trong tương lai.
Tropical Forest: Seasonal Rhythms and Long-Term Changes [25]… là tiền đề cho các
nghiên cứu sau này về sinh thái dinh dưỡng linh trưởng. Hiện nay, nghiên cứu sinh thái
dinh dưỡng là một hướng nghiên cứu quan trọng trong nghiên cứu sinh thái và bảo tồn
thú linh trưởng trên thế giới và ở Việt Nam.
9
Linh trưởng Việt Nam nằm trong danh mục ưu tiên bảo tồn Linh trưởng của thế
giới. 5 trong số 25 loài Linh trưởng tại Việt Nam thuộc danh mục động vật nguy cấp, 7
loài thuộc danh mục cực kỳ nguy hiểm, 9 loài thuộc danh mục nguy hiểm và 6 loài
đang có nguy cơ bị đe dọa [21]. Do đó, nghiên cứu sinh thái Linh trưởng, đặc biệt là
sinh thái dinh dưỡng Linh trưởng là một trong những hướng nghiên cứu hàng đầu của
các tổ chức bảo tồn, bao gồm Hiệp hội Động vật học Frankfurt (The Frankfurt
Zoological Society) tổ chức bảo tồn Quốc tế (Conservation International), Quỹ Động
vật Quốc tế (World Wild Fund) và nhiều tổ chức khác.
Quá trình nghiên cứu Linh trưởng tại Việt Nam được hình thành từ rất sớm
nhưng gặp nhiều gián đoạn do tác động của chiến tranh. Trước năm 1954, nghiên cứu
về Linh trưởng được thực hiện bởi các nhà khoa học nước ngoài, chủ yếu về phát hiện,
mô tả loài mới và thống kê thành phần loài. Từ 1954 đến 1975, các nhà khoa học ở
miền Bắc Việt Nam bắt đầu các công trình nghiên cứu về thành phần loài và mô tả khu
hệ động thực vật. Các công trình nổi bật trong thời gian này bước đầu tiếp cận đến
khái niệm sơ khai của sinh thái dinh dưỡng được mô tả bằng các tập tính sinh học và
thức ăn của Linh trưởng, một số công trinh nổi bật bao gồm:
Lê Hiền Hào, Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam, 1973 [3]
Đào Văn Tiến, Khảo sát thú ở miền Bắc Việt Nam, 1985 [13]
Giai đoạn sau năm 1975 đến nay, những công trình nghiên cứu về Linh trưởng
được thực hiện bởi hàng loạt các việt nghiên cứu bao gồm: Viện Sinh thái và Tài
nguyên Sinh vật, Viện vệ sinh dịch tễ (Bộ Y tế), các trường Đại học Lâm nghiệp, Đại
học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội, … khi nhận thức về việc bảo tồn
Trên thế giới hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về sinh khối khác
nhau đưa ra nhiều hướng tiếp cận với ưu nhược điểm riêng.
Một trong những hướng tiếp cận mang lại kết quả định lượng tương đối chính
xác là tiếp cận tính toán sinh khối rừng dựa trên các dữ liệu về thể tích, mật độ sinh
khối từ đó đưa ra các phương trình hồi quy sinh khối. Năm 1997, trong một cuốn sách
tổng hợp các công trình nghiên cứu của bản thân và nhiều nhà khoa học khác trên thế
giới, Brown [18] đã đưa ra công thức tổng quát tính toán mật độ sinh khối như sau:
AGD = VOB * WD * BEF
Trong đó: AGD = Mật độ sinh khối trên mặt đất (tấn/ha)
WD = Mật độ gỗ tính theo khối lượng – thể tích
BEF = Chỉ số giãn nở sinh khối (tỉ lệ sinh khối khô trên mặt đất so
với sinh khối của thể tích đã kiểm kê)
11
VOB = Thể tích cả vỏ cây
Mật độ gỗ ở đây được định nghĩa là khối lượng khô tính trên một đơn vị thể
tích tươi (như tấn/m3 hay gam/cm3). Trong nghiên cứu công bố năm 1992, Reyes và
các cộng sự đã đưa ra công thức tính toán mật độ gỗ như sau:
Y = 0.0134 + 0.800 X
Trong đó: Y = Mật độ gỗ khô/thể tích tươi
X = Mật độ gỗ ở độ ẩm 12%
Trong điều kiện lý tưởng, mật độ khối lượng gỗ trung bình được tính toán như sau:
WD = (V1/Vt *WD1 + (V2/Vt) *WD2 +........... (Vn/Vt)* Wdn
Trong đó: V1, V2,.... Vn = Thể tích của các loài 1, 2,…,n
Vt = tổng thể tích của WD1 WD2,..... Wdn = Mật độ gỗ củ loài 1, 2, …, n
Một yếu tố quan trọng khác để tính toán sinh khối theo công thứ tổng quát đã
nêu ở trên là chỉ số giãn nở sinh khối. Chỉ số này được định nghĩa là tỉ lệ của tổng mật
độ sinh khối khô trên mặt đất của các loài cây gỗ có đường kính ngang ngực (DBH) là
5-40
28
0.89
Y =10^{-0.535+log10 (BA)}
3-30
191
0.94
Y = 42.69-12.800(D)+1.242(D2)
5-148
170
0,84
khí Phương trình
Khô
Ẩm
Y = exp{-2.134+2.530*ln(D)}
Mưa nhiều
-
Thiếu những lớp đường kính nhỏ hơn (ví dụ có những bảng số liệu chỉ thu thập
đến đường kính nhỏ nhất là 10cm).
Hướng tiếp cận sử dụng các phương trình hồi quy sinh khối như đã nêu trên
cũng có thể được sử dụng để ước tính sinh khối cho từng cây cá lẻ. Theo phương pháp
này, sinh khối cây cá lẻ được xác định từ mối quan hệ của nó với các nhân tố điều tra
khác của cây cá lẻ như chiều cao, đường kính ngang ngực, tiết diện ngang, thể tích
hoặc tổ hợp của các nhân tố này… của cây.
Y (sinh khối) = f (nhân tố điều tra cây cá lẻ)
13
Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về sinh khối được thực hiện theo
phương pháp này, vì thế kết hợp được những thông tin có sẵn này để xây dựng các mối
quan hệ tổng thể cho lâm phần. Tuy nhiên phương pháp này còn một số hạn chế như
định nghĩa về DBH ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác tương đối khác nhau, sự
chủ quan trong việc lựa chọn mẫu đo đếm nên người ta thường có xu hướng chọn các
mẫu dễ dàng…
Trong một lâm phần các yếu tố như độ tuổi, mât độ, sinh khối, thổ nhưỡng, thời
tiết có liên hệ với nhau và được thể hiện một cách tương đối qua các phương trình
quan hệ tuyến tính hay phi tuyến tính. Những phương trình này được sử dụng để xác
định sinh khối và hấp thụ cácbon cho lâm phần. Đây là phương pháp tiếp cận dựa trên
việc điều tra các yếu tố lâm phần.
Theo phương pháp này sinh khối lâm phần được xác định từ phương trình
đường thẳng để dự đoán sinh khối từ các phép đo đếm cây cá lẻ đơn giản:
Y = b0 + bi Xi (3.1)
Từ đó sinh khối lâm phần được tính
nhau cho kết quả đáng tin cậy. Phương pháp điều tra cụ thể từ các khâu như chọn
điểm, lập ô, đến các kỹ thuật đo đếm… có thể tìm ở các quy trình điều tra thông dụng
của các nước cũng như Việt Nam. Tuy nhiên, phương pháp này khá tốn kém. Ngoài ra,
khi tiến hành điều tra, các cây không có giá trị thương mại hoặc cây nhỏ thường không
được đo đếm [18].
Để tính toán sinh khối rừng, nhiều nhà khoa học đã tiếp cận theo hướng xây
dựng các mô hình sinh trưởng. Đây cũng là công cụ quan trọng sử dụng trong quản lý
và bảo vệ rừng. Các mô hình này có thể chỉ là các biểu đồ đơn giản hoặc các mô hình
toán, phần mềm máy tính phức tạp. Trên thế giới đã có nhiều mô hình sinh trưởng
được xây dựng tuy nhiên việc phân loại tương đối khó khăn do khó xác định chính xác
được phương pháp nghiên cứu của từng mô hình. Các dạng mô hình chính bao gồm:
-
Mô hình thực nghiệm/thống kê (empirical model) dựa trên những đo đếm của
sinh trưởng và các điều kiện tự nhiên của thời điểm đo đếm mà không xét đến
các quá trình sinh lý học.
15
-
Mô hình tiến trình (process model)/mô hình sinh lý học mô tả đầy đủ các cơ chế
hóa sinh, lý sinh trong hệ sinh thái và sinh vật.
-
Mô hình hỗn hợp (hybrib model) kết hợp phương pháp xây dựng hai loại mô
hình trên đây để xây dựng mô hình hỗn hợp
Ưu điểm của phương pháp này là có thể phù hợp để dự đoán sản lượng ngắn
lượng của ảnh vệ tinh cũng như các dữ liệu viễn thám, hướng tiếp cận nghiên cứu sinh
khối sử dụng hệ thống thông tin địa lý và công nghệ viễn thám đang ngày càng được
nhiều nhà khoa học chú ý. Phương pháp này sử dụng các công nghệ viễn thám và GIS
với các công cụ như ảnh hàng không, ảnh vệ tinh, laze, rada, hệ thống định vị toàn cầu
(GPS)… để đo đếm lượng các bon trong hệ sinh thái và biến đổi của chúng. Nó
thường được áp dụng cho các điều tra ở phạm vi quốc gia hoặc vùng và cũng rất phù
hợp cho việc kiểm tra, giám sát của các dự án sử dụng đất, chuyển đổi sử dụng đất và
lâm nghiệp. Tuy nhiên, với qui mô dự án, đặc biệt là dự án CDM qui mô nhỏ - thường
có ở các nước đang phát triển, diện tích đất của các chủ rừng không lớn, phương pháp
này không thích hợp lắm vì sai số lớn và không dễ thực hiện do đòi hỏi các nguồn lực
đầu vào như thiết bị xử lý, nhân lực trình độ cao...
1.2.2.
Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu sinh khối cho các mục đích khác nhau, trong đó
có nghiên cứu sinh thái dinh dưỡng mới chỉ phát triển trong thời gian gần đây. Các nhà
nghiên cứu đã thiết lập các loại biểu thể tích, biểu quá trình sinh trưởng theo cấp đất,
cấp tuổi, mật độ rừng... cho nhiều loài cây trồng phổ biến như: Mỡ, Thông mã vĩ,
Thông nhựa... có thể kể tới một số tác giả tiêu biểu như: Vũ Tiến Hinh, 2000 [4]; Vũ
Đình Phương và Đào Công Khanh, 2001 [7]. Đây là những nghiên cứu bước đầu làm
cơ sở cho việc triển nghiên cứu sinh khối các loại rừng ở nước ta. Cho đến nay, đã xác
định một số phương pháp nghiên cứu sinh khối được áp dụng phổ biến ở Việt Nam
như sau:
17
- Phương pháp lập ô tiêu chuẩn và xác định sinh khối thông qua cây tiêu chuẩn:
Đây là phương pháp chủ yếu nhất, được nhiều tác giả áp dụng như Võ Đại Hải (2009)
Phúc. Nguyễn Ngọc Lung và Đào Công Khanh (1999) [5], đã nghiên cứu và đưa ra kết
quả tính tổng sinh khối toàn rừng là 428,2 tấn/ha, còn nếu tính theo biểu sinh hối thì
giá trị này là 434,2 tấn/ha. Sai số giữa biểu quá trình sinh trưởng và biểu sản lượng là
1,4%. Đặng Trung Tấn (2001) nghiên cứu sinh khối rừng Đước đã xác định được tổng
sinh khối hô rừng Đước ở Cà Mau là 327 m3/ha, tăng trưởng sinh khối bình quân hàng
năm là 9.500 g/ha [10]. Nguyễn Thanh Tiến (2011), khi tiến hành đề tài “Nghiên cứu
khả năng hấp thụ CO2 của trạng thái rừng thứ sinh phục hồi tự nhiên sau khai thác kiệt
tại tỉnh Thái Nguyên” đã tính toán được tổng sinh khối tươi của lâm phần rừng IIB
khoảng 138,77 tấn/ha, sinh khối hô là 76,46 tấn/ha, trong đó 82,61% tổng sinh khối
lâm phần tập trung ở tầng cây gỗ, 10,92% ở tầng vật rơi rụng và chỉ có hoảng 6,47%
sinh khối phân bố ở tầng cây bụi, thảm tươi [12]. Theo tác giả Võ Đại Hải và cộng sự
(2009) [2] khi tiến hành nghiên cứu năng suất sinh khối của một số loài cây trồng rừng
như: Mỡ, Thông đuôi ngựa, Thông nhựa, Keo lai, Keo lá tràm... đã tính toán được cấu
trúc sinh khối cây cá thể và cấu trúc sinh khối lâm phần rừng, tìm hiểu được mối quan
hệ giữa sinh khối cây cá thể và lâm phần với các nhân tố môi trường... Góp phần quan
trọng trong nghiên cứu sinh khối rừng cho các mục đích khác nhau..
1.3. Tổng quan về Vườn quốc gia Cúc Phương
1.3.1.
Vị trí địa lý và diện tích Vườn Quốc gia Cúc Phương
Vườn Quốc gia Cúc Phương nằm cách thủ đô Hà Nội 120 km về phía Tây Nam.
Nằm trên toạ độ địa lý 21015' - 21025' vĩ độ Bắc và 105031'- 105041' kinh độ Đông
với diện tích 22.200 ha, thuộc huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình. Cúc Phương thuộc
phần cuối của dãy núi đá vôi chạy theo hướng chính của 3 tỉnh: Ninh Bình, Hoà Bình,
Thanh Hoá. Ở giữa hai dãy núi đá vôi là thung lũng núi đất cao trung bình là 250 –
400 m so với mực nước biển chạy từ Đang đến Cui Biện và nhiều thung lũng nhỏ khác
nằm xen kẽ giữa các đỉnh núi đá vôi. Nhìn chung diện tích Vườn Quốc gia Cúc
Phương khá nhỏ và được bao bọc bởi 2 dãy núi đá vôi.
1.3.2.
Địa hình, địa chất
Chế độ mưa: Lượng mưa phân bố không đều, lượng mưa bình quân năm là
2.138 mm, lượng mưa cao nhất vào tháng 9 là 410,9 mm, số ngày mưa trung bình năm
là 200 ngày, mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, chiếm 89% lượng mưa cả năm.
những tháng mưa it (lượng mưa < 100 mm) kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3. Do lượng
mưa như vậy nên độ ẩm rất cao, độ ẩm trung bình là 90%, tháng có độ ẩm cao nhất là
20
95%, tháng có độ ẩm thấp nhất là 85%. Tổng lượng bốc hơi bình quân năm là 485 mm
bằng 21.41% tổng lượng mưa.
Chế độ gió: Vườn Quốc gia Cúc Phương chịu ảnh hưởng của 2 luồng gió chính
là gió Đông Bắc và gió Tây Nam.
1.3.4.
Thổ nhưỡng
Tại vườn quốc gia Cúc Phương có hai nhóm đất chính bao gồm:
Nhóm 1: Đất Macgalit với những đặc điểm là thường xuyên bồi tụ và tích luỹ
các chất Bazơ chủ yếu là Canci, Magie. Đất này là đất phát triển trên đá vôi hoặc trên
các sản phẩm chịu ảnh hưởng của cacbon nhiều.
Nhóm 2: Đất Feralit với đặc điểm thường xuyên rửa trôi các chất Bazơ, chủ yếu
là Canci và Magie.
21
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là sinh thái dinh dưỡng mà cụ thể là thành phần loài,
- Lập các ô tiêu chuẩn đặc trưng nhất cho từng quần xã thực vật trong sinh cảnh
mà nó chứa đựng các nguồn thức ăn của Voọc. Kích thước của các ô tiêu chuẩn được
định hướng theo phương pháp nghiên cứu thảm thực vật ở trên nhằm đánh giá sơ bộ
nguồn thức ăn và sinh khối tổng số nguồn thức ăn của Voọc trong khu vực nghiên
cứu , theo dõi biến động nguồn thức ăn theo mùa trong năm. Những tính toán vế sinh
khối cây gỗ thường khó thực hiện bằng phương pháp chặt hạ cân trực tiếp, dựa trên
thông số về đường kính thân cây, chiều cao cây có thể đi đến tiếp cận trữ lượng tươi
của tầng cây gỗ thông qua công thức liên quan giữa đường kính thân cây cơ bản D và
chiều cao cây H. Tầng cây bụi và cỏ được cân trực tiếp các cá thể đại diện sau đó
thống kê lại và tính toán.
2.2.2.
Phương pháp hồi cứu kế thừa tài liệu nghiên cứu có sẵn nhằm xây
dựng danh mục các loài thực vật làm thức ăn cho linh trưởng
Các tài liệu nghiên cứu đã có về sinh thái dinh dưỡng của linh trưởng từ đó
thống kê, đối chiếu so sánh để lập danh mục các loài thực vật làm thức ăn cho linh
trưởng tại vườn quốc gia Cúc Phương.
2.2.3.
Phương pháp viễn thám và hệ thống thông tin địa lý kết hợp điều tra
khảo sát thực địa
Phương pháp này được sử dụng trong việc xác định các quần xã thực vật đặc
trưng của Vườn quốc gia Cúc Phương. Phần mềm được sử dụng để thiết lập các lớp
thông tin là Mapinfo 15, Global mapper 17 và ESRI ArcMap 10.5 để xử lý ảnh vệ tinh.
Các lớp thông tin được xử lý như là các dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính, trong
một bộ cơ sở sữ liệu của GIS. Việc thành lập bản đồ được thực hiện qua các bước như
sau:
Bước 1: Thu thập các tư liệu đã công bố liên quan khu vực nghiên cứu về địa
hình, khí hậu, thủy văn, thực vât… dựa vào các điều kiện tự nhiên trong vùng, kết hợp
23
24
tương quan (còn gọi là độ lệch chuẩn R2). Công trình của Yamakura (1986) có ý nghĩa
rất lớn cho nghiên cứu sinh khối rừng tự nhiên, có thể áp dụng ở Đông Nam Á trong
đó có Việt Nam. Để đánh giá về mô hình này, Ervan Rutishauser và cộng sự (2013)
[19] đã phải dùng phương pháp thực nghiệm, xác định trực tiếp khối lượng các cá thể
trong hệ sinh thái sau đó so sánh kết quả với phương pháp áp dụng công thức của
Yamakura . Từ đó Ervan Rutishauser (2013) xác định mô hình tương quan tính toán
sinh khối của Yamakura (1986) là một trong 4 mô hình có độ lệch chuẩn R2 nhỏ nhất,
có thể áp dụng ở vùng nhiệt đới (R2 = 0,959), nhưng đồng thời ông cũng thừa nhận chỉ
duy nhất có mô hình của Yamakura (1986) cho phép tính được sinh khối riêng từng bộ
phận của cây, điều này cho phép vận dụng rất hữu hiệu trong nghiên cứu sinh thái dinh
dưỡng cho các loài Linh trưởng ăn lá. Chúng tôi sử dụng các phương trình tính toán
này phục vụ tính toán sinh khối thức ăn cho linh trưởng cũng như sinh khối toàn bộ
lâm phần (Bảng 3).
Bảng 3. Quan hệ sinh khối rừng nhiệt đới với đường kính ngang ngực (DBH) (cao
1,37m tính từ mặt đất) và chiều cao cây (H) (Đơn vị tính sinh khối: Kg)
TT
Phương trình tương quan của Yamakura (1986)
R2
1
Sinh khối thân = 0.02909*(DBH2*H)0,9813
0.99