Nghiên cứu sự đa dạng cây gỗ và điều tra một số mô hình trồng rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên chạm chu tỉnh tuyên quang làm cơ sở cho công tác bảo tồn - Pdf 80

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------------------

Hà Thị Hoa

NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CÂY GỖ VÀ ĐIỀU TRA
MỘT SỐ MƠ HÌNH TRỒNG RỪNG TẠI KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN CHẠM CHU, TỈNH TUYÊN QUANG
LÀM CƠ SỞ CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------------------

Hà Thị Hoa

NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CÂY GỖ VÀ ĐIỀU TRA
MỘT SỐ MƠ HÌNH TRỒNG RỪNG TẠI KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN CHẠM CHU, TỈNH TUYÊN QUANG
LÀM CƠ SỞ CHO CÔNG TÁC BẢO TỒN
Chuyên ngành: Thực vật học
Mã số: 60 42 01 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC




MỤC LỤC
Trang
Mở đầu...................................................................................................

1

Chương 1. Tổng quan tài liệu................................................................

3

1.1. Nghiên cứu về đa dạng sinh học trên thế giới............................

3

1.2. Nghiên cứu đa dạng thực vật trên thế giới.................................

5

1.3. Nghiên cứu đa dạng thực vật ở Việt Nam..................................

9

1.4. Nghiên cứu về các yếu tố địa lý.................................................

11

1.5. Nghiên cứu về phổ dạng sống của hệ thực vật...........................


2.2. Điều kiện kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu.............................

20

2.2.1. Dân số..................................................................................

20

2.2.2. Lao động và tập quán..........................................................

20

2.2.3. Văn hóa xã hội.....................................................................

20

2.2.4. Cơ sở hạ tầng, giao thơng....................................................

21

Chương 3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu...............................

22

3.1. Đối tượng....................................................................................

22

3.2. Mục tiêu nghiên cứu...................................................................



23

3.5.3.2. Xác định tên khoa học..................................................

26

3.5.3.3. Xây dựng bảng danh lục thực vật.................................

27

3.5.3.4. Đánh giá đa dạng sinh học............................................

27

3.5.3.4.1. Đánh giá đa dạng của các taxon bậc ngành, họ,
chi...........................................................................................

27

3.5.3.4.2. Đánh giá tính đa dạng về các yếu tố địa lý thực
vật...........................................................................................

28

3.5.3.4.3. Đánh giá tính đa dạng về dạng sống......................

28

3.5.3.4.4. Đánh giá về giá trị tài nguyên và mức độ đe dọa


4.2. Đa dạng các yếu tố địa lý của các loài.......................................

35

4.3. Đa dạng về dạng sống................................................................

40

4.4. Đa dạng về giá trị sử dụng nguồn tài nguyên cây gỗ ở Khu
Bảo tồn thiên nhiên Chạm Chu.........................................................

41

v


4.4.1. Đa dạng về giá trị sử dụng...................................................

41

4.4.2. Đa dạng về các loài quý hiếm..............................................

43

4.4.2.1. Các loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam.........................

43

4.4.2.2. Các loài nằm trong danh sách của Nghị định 322006/CP......................................................................................

51

Kết luận và Kiến nghị............................................................................

55

Tài liệu tham khảo.................................................................................

58

Phụ lục

vi


MỞ ĐẦU
Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang đứng trước một thực tế
đáng lo ngại đó là các nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là nguồn tài
nguyên rừng đang bị khai thác kiệt quệ, làm giảm sự đa dạng sinh học của
các hệ sinh thái. Làm thế nào để bảo tồn và phát huy vai trò của rừng, làm
tăng tính đa dạng sinh học của các hệ sinh thái là một trong những vấn đề cấp
bách. Ý thức được điều đó, ngay từ năm 1962 việc điều tra khảo sát lựa chọn
địa điểm và xây dựng các khu rừng đặc dụng đã được tiến hành. Đến năm
2008, hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam gồm 164 khu rừng đặc
dụng (bao gồm 30 Vườn quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu bảo vệ
cảnh quan, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và 03 khu bảo tồn biển.
Hiện nay, Bộ Tài ngun và mơi trường đang có kế hoạch thành lập 41 khu
bảo tồn mới với tổng diện tích 775.000ha vào năm 2020. Các khu bảo tồn
thiên nhiên là những tài sản thiên nhiên q báu khơng chỉ có giá trị trước
mắt cho thế hệ hơm nay mà cịn là di sản của nhân loại mãi mãi về sau.

lớn, Cu ly nhỏ...
Những nghiên cứu về hệ thực vật ở đây đã được tiến hành từ lâu. Tuy
nhiên kết quả mới chỉ ở mức độ lập danh lục mà chưa công bố. Việc nghiên
cứu bảo tồn hệ thực vật nói chung và thực vật thân gỗ nói riêng là hết sức
quan trọng. Do đó chúng tơi đã chọn đề tài “Nghiên cứu sự đa dạng cây gỗ
và điều tra một số mơ hình trồng rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Chạm
Chu, tỉnh Tuyên Quang làm cơ sở cho công tác bảo tồn”.

2


Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nghiên cứu về đa dạng sinh học trên thế giới
Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu và bảo vệ đa dạng sinh học
đang trở thành nhiệm vụ quan trọng đối với tất cả các nước trên thế giới. Vậy
đa dạng sinh học là gì? Khái niệm về đa dạng sinh học đã được nhiều tổ chức,
nhiều cá nhân đưa ra và liên tục được bổ sung, hoàn thiện theo thời gian.
Lần đầu tiên, vào năm 1980 hai nhà khoa học Norse và Mc Manus đã
đưa ra định nghĩa, đa dạng sinh học bao gồm hai khái niệm có liên quan với
nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và
đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật).
Vào năm 1989, quỹ quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (WWF) đã đưa ra
định nghĩa như sau: “Đa dạng sinh học là sự phồn vinh của sự sống trên trái
đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa
đựng trong các loài và là hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi
trường”
Trong chương trình hành động đa dạng Sinh học Việt Nam khái niệm
đa dạng sinh học được trình bày như sau: “Đa dạng sinh học là tập hợp tất cả
các nguồn sinh vật sống trên hành tinh, gồm tổng số loài động vật và thực
vật, tính đa dạng và sự phong phú trong từng lồi, tính đa dạng hệ sinh thái

giới trong việc bảo tồn đa dạng sinh học đó là Cơng ước đa dạng sinh học
(Convention on Biological Diversity viết tắt là CBD) có hiệu lực từ ngày
29/12/1992. Ngày 25 tháng 5 hàng năm được Liên hiệp quốc chọn làm ngày
Đa dạng sinh học thế giới. Mục tiêu chính của cơng ước là nhằm bảo tồn đa
dạng sinh học, sử dụng bền vững các thành phần của đa dạng sinh học, chia
sẻ cơng bằng và hợp lí những lợi ích thu được từ việc sử dụng tài nguyên sinh

4


học. Hiểu rõ tầm quan trọng của công ước, ngày càng có nhiều quốc gia tham
gia vào cơng ước đa dạng sinh học. Tính đến năm 2010 đã có 193 nước tham
gia vào công ước này. Năm 1994 Việt Nam chính thức gia nhập Cơng ước đa
dạng sinh học.
Hiện nay, có khoảng 300 cơng ước quốc tế về bảo vệ môi trường. Việt
Nam là một trong những quốc gia rất tích cực tham gia và thực hiện nghiêm
túc nhiều cơng ước quốc tế về mơi trường sau khi đã kí kết. Hệ thống pháp
luật về đa dạng sinh học đã được quốc hội thơng qua ngày 13/11/2008 và
chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2009. Đây là cơ sở pháp lí quan trọng
trong cơng tác bảo tồn đa dạng sinh học ở nước ta.
1.2. Nghiên cứu đa dạng thực vật trên thế giới
Việc nghiên cứu hệ thực vật trên thế giới có từ lâu. Người ta đã tìm
thấy các tài liệu mô tả về thực vật xuất hiện ở Ai Cập khoảng 3.000 năm
trước Công nguyên và ở Trung Quốc 2.000 năm trước Cơng ngun. Song
những cơng trình có giá trị xuất hiện vào thế kỉ 19-20 như: Thực vật chí
Hongkong (1861), thực vật chí Australia (1866), thực vật chí rừng Tây Bắc
và trung tâm Ấn Độ (1874). Theo hướng nghiên cứu thống kê và mô tả thực
vật phải kể đến các cơng trình: Thực vật chí Đơng Dương của Leconmte và
cộng sự (1907-1952), thực vật chí Malaysia (1948-1972), thực vật chí Vân
Nam (1979-1997).

và đã mơ tả 18000 lồi thực vật trong “Lịch sử thực vật”. Ơng phân chia thực
vật dựa vào lá mầm. Theo ông, thực vật gồm hai nhóm lớn: nhóm “bất tồn”
gồm Nấm, Rêu, Dương xỉ, các thực vật thủy sinh và nhóm “hiển hoa” gồm
thực vật Một lá mầm và thực vật Hai lá mầm.
Sau Ray là J.P.de Tournefort (1656-1708) lấy tràng hoa là cơ sở cho
phân loại, chia thực vật có hoa thành nhóm khơng cánh và nhóm có cánh hoa.
6


Mãi đến Linaeus (1707-1778) với bảng phân loại được coi là đỉnh cao
của thời kì phân loại nhân tạo. Ơng đã dựa vào cơ quan sinh sản (hoa) mà cụ
thể là số lượng nhị để phân loại và chia thực vật làm 24 lớp, trong đó thực vật
có hoa 23 lớp (lớp 1 nhị, lớp 2 nhị…) và 1 lớp bao gồm Tảo, Nấm, Địa y,
Rêu, Dương xỉ. Dưới lớp có 116 bộ, 1000 chi và mơ tả được 10000 lồi.
Trong hệ thống này nhiều nhóm thực vật được phản ánh đúng bản chất và
còn đúng đến ngày nay tuy nhiên vì chỉ dựa trên một đặc điểm chính là số
lượng nhị nên đã không phản ánh được đầy đủ bản chất tự nhiên của hệ
thống, nhiều chỗ còn bị sai lệch như đại đa số cây họ Lúa có 3 nhị được xếp
vào lớp thứ 3 nhưng cây lúa có 6 nhị lại bị xếp vào lớp thứ 6 cùng với những
cây khác rất xa lạ, v.v. Linaeus cũng có cơng rất lớn trong việc đề xuất danh
pháp hai từ để gọi tên loài và được sử dụng cho tới ngày nay.
Nói chung các nhà phân loại thực vật từ đầu cho tới Linaeus chỉ dựa
vào một hay hai tính chất được lựa chọn tùy ý để phân loại thực vật nên chưa
phản ánh được các nhóm tự nhiên của thực vật.
Sau Linaeus các nhà thực vật đã không phân loại thực vật dựa trên một
hay một vài tính chất được lựa chọn tùy ý, mà vào toàn bộ các đặc điểm
chính của thực vật nên đã dần thiết lập được các nhóm tự nhiên của thực vật.
Có thể kể đến một số hệ thống tự nhiên như: Các hệ thống phân loại của
Bernard Jussieu (1699-1777) và cháu ông là A.L.de Jussieu (1749-1836) đã
sắp xếp thực vật theo trình tự từ thấp đến cao, xếp chúng vào các họ, giữa các

được chia ra làm hai lớp: lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) bao gồm 10715
chi, 357 họ và lớp Một lá mầm (Môncotyledoneae) bao gồm 2762 chi, 97 họ.
Từ thế kỷ XX, với các thành tựu của nhiều môn khoa học khác đã hỗ
trợ nhiều cho các nghiên cứu về đa dạng thực vật, tạo cơ sở về dẫn liệu và
phương pháp để xây dựng các bảng hệ thống tiến hóa.
8


1.3. Nghiên cứu đa dạng thực vật ở Việt Nam
Việt Nam là quốc gia có khí hậu nóng ẩm, lượng mưa hàng năm tương
đối cao, tạo điều kiện thuận lợi cho các lồi thực vật phát triển, vì thế nước ta
có mức độ đa dạng sinh học cao so với các nước trên thế giới. Việc nghiên
cứu về hệ thực vật ở nước đã có từ lâu. Vào năm 1417, tác giả Tuệ Tĩnh đã
đưa ra cuốn sách “Nam dược thần hiệu” mơ tả 579 lồi thuốc, năm 1595 Lý
Thời Trân trong cuốn “Bản thảo cương mục” đã đề cập đến hơn 1000 vị
thuốc thảo mộc.
Việc nghiên cứu hệ thực vật Việt Nam diễn ra với quy mô lớn vào thời
Pháp thuộc, trước hết là cơng trình nghiên cứu “Thực vật chí Nam Bộ” của
tác giả Leureiro; thực vật chí rừng Nam bộ của tác giả Pierre; cơng trình lớn
nhất là bộ “Thực vật chí đại cương Đơng Dương” của tác giả Lecomete trong
đó phân loại, thống kê, mơ tả các loài cây từ Dương xỉ cho đến thực vật Hạt
kín tồn Đơng Dương, trong nghiên cứu này thì tồn Đơng Dương có hơn
7000 lồi; cho đến nay bộ sách vẫn còn nguyên giá trị đối với những người
nghiên cứu thực vật Đơng dương nói chung và hệ thực vật Việt Nam nói
riêng.
Bên cạnh những nghiên cứu của các tác giả người Pháp, sau năm 1954
đã xuất hiện nhiều các nghiên cứu của các tác giả trong nước; có thể kể đến
các cơng trình sau: “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của tác giả Đỗ
Tất Lợi (1969, 1977); bộ “ Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” do Lê Khả Kế
chủ biên (1969, 1975); thảm thực vật rừng Việt Nam (1978) của Thái Văn

Gần đây nhất, năm (2001- 2005), tập thể các tác giả thuộc trung tâm
nghiên cứu tài nguyên và môi trường- Đại học Quốc gia Hà Nội, Viện sinh
thái và tài nguyên sinh vật- Viện khoa học và công nghệ Việt Nam, đã xuất
bản bộ sách gồm 3 tập đó là “Danh lục các loài thực vật Việt Nam”. Bộ sách
này đã thơng kê được đầy đủ nhất các lồi thực vật có ở Việt Nam.
10


Nghiên cứu về tính đa dạng thực vật tại các vườn Quốc gia và các khu
bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam cho đến nay đã có nhiều cơng trình. Điển
hình phải kể đến các nghiên cứu của Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ ở
vườn quốc gia Cúc Phương (1995), Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh
Nhàn ở vườn quốc gia Pù Mát (2004), Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự ở
vườn quốc gia Bạch Mã (2003), Lê Thị Huyên ở Vườn quốc gia Cát Bà
(1998).
Bên cạnh các cơng trình nghiên cứu về tồn thể hệ thực vật thì cịn
phải kể đến các nghiên cứu về các họ thực vật riêng biệt trong cả nước như
“Orchidaceae Đơng Dương” của Seidenfaden (1992), “Orchidaceae Việt
Nam”

của

Leionid

Averyanov

(1994),

Nguyễn


20,8%

Yếu tố Xích Kim - Himalaya

18,5%

Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác

15%

Yếu tố đặc hữu bán đảo Đơng Dương

11,9%

Sau đó vào năm 1965, khi nghiên cứu về hệ thực vật Bắc Việt Nam,
Pócs Tamás đã phân chia thành các nhóm yếu tố như sau:
- Nhân tố bản địa đặc hữu

39,9%

Của Việt Nam

32,55%

Của Đông Dương

7,35%

- Nhân tố di cư từ các vùng nhiệt đới:


Trong nhân tố khác thì nhân tố nhập nội, trồng trọt chiếm 3,08%
Tổng

100%

Năm 1978, Thái Văn Trừng căn cứ vào bản thống kê của các loài thực
vật Bắc Việt Nam đã cho rằng ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5% số loài đặc
hữu. Nhưng khi thảo luận tác giả đã gộp các nhân tố di cư từ nam Trung Hoa
và nhân tố đặc hữu bản địa Việt Nam làm một và căn cứ vào khu phân bố
hiện tại, nguồn gốc phát sinh của lồi đó đã cho ra tỉ lệ như sau:
12


- Nhân tố bản địa đặc hữu

50%

- Nhân tố di cư

39%

Từ Malaysia - Indonesia

15%

Từ Himalaya - Vân Nam - Quí Châu

10%

Từ Ấn Độ - Miến Điện

(Nxb ĐHQGHN, 2004) và năm 2008 trong cuốn “Các phương pháp nghiên
cứu thực vật” theo đó hệ thực vật Việt Nam bao gồm các yếu tố chính sau:
1. Yếu tố toàn thế giới
2. Liên nhiệt đới
2.1. Nhiệt đới châu Á, châu Úc và châu Mỹ
2.2. Nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Mỹ
2.3. Nhiệt đới châu Á và Mỹ
13


3. Cổ nhiệt đới
3.1. Nhiệt đới châu Á và châu Úc
3.2. Nhiệt đới châu Á và châu Phi
4. Nhiệt đới châu Á (Inđô - Malêzi)
4.1. Đông Dương - Malêzi
4.2. Đông Dương - Ấn Độ hay Lục địa châu Á nhiệt đới
4.3. Đông Dương - Himalaya hay lục địa Đông Nam Á (trừ
Malêzi, Ấn Độ)
4.4. Đông Dương - Nam Trung Hoa
4.5. Đơng Dương
5. Ơn đới Bắc
5.1. Đơng Á - Bắc Mỹ
5.2. Ôn đới cổ thế giới
5.3. Vùng ôn đới Địa Trung Hải, châu Âu, châu Á
5.4. Đông Á
6. Đặc hữu Việt Nam
6.1. Cận đặc hữu
7. Yếu tố cây trồng
8. Yếu tố khơng xác định: bao gồm các taxon khơng có đủ thông tin để
xếp vào một trong các yếu tố ở trên.



h) Dây leo - Lianophanerophytes (Lp)
i) Cây chồi trên thân thảo - Herbaces phanerophytes (Hp)
2. Cây chồi sát đất - Chamaephytes (Ch): gồm những cây có chồi trong
mùa khó khăn cách mặt đất dưới 25cm, mùa đông được lớp tuyết hay lá khô
bao phủ chống lạnh hay chống khô.
3. Cây chồi nửa ẩn - Hemicryptophytes (Hm): gồm những cây có chồi
trong mùa khó khăn nằm sát mặt đất (ngang mặt) được lá khơ che phủ bảo vệ,
thường các lồi này có thân nửa nằm dưới đất, nửa trên mặt đất.
4. Cây chồi ẩn - Cryptophytes (Cr): gồm những cây có chồi trong mùa
khó khăn nằm dưới đất.
5. Cây một năm - Therophytes (T): gồm những cây vào thời kì khó
khăn, tồn bộ cây chết đi, chỉ cịn duy trì nịi giống dưới dạng hạt. Đó là tồn
bộ cây có đời sống ngắn hơn một năm, sống ở bất kể môi trường nào.

16


Chƣơng 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI
2.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý
Khu Bảo tồn thiên nhiên Chạm Chu nằm trên địa bàn tỉnh Tun
Quang, cách Hà Nội khoảng 240km về phía Bắc. Có tọa độ địa lý 22014’16’’
đến 22021’30’’ vĩ độ Bắc; 104053’27’’ đến 105014’16’’ kinh độ Đông. Khu
bảo tồn chạy dài từ ranh giới Hà Giang - Tuyên Quang đến xã Minh Hương
(Hàm n) và Hịa Phú (Chiêm Hóa). Tồn bộ khu bảo tồn nằm giữa hai con
sông lớn của tỉnh Tuyên Quang là sông Lô và sông Gâm nên Khu BTTN
Chạm Chu đồng thời là khởi nguồn của hai hệ thống sơng thuộc hai huyện
Hàm n và Chiêm Hóa. Về địa giới hành chính, nó bao gồm 10 xã, trong đó

đất màu mỡ đã được sử dụng trồng hoa màu (phần tiếp giáp sơng Lơ và vùng
dân cư phía Đơng khu bảo tồn).
- Đất Feralit màu vàng đỏ trên sườn đồi và chân núi, tầng đất dày có
mùn.
- Đất Feralit màu vàng nhạt trên núi, tầng đất có nhiều mùn.
- Đất Feralit màu sẫm chân núi đá vôi (chủ yếu thuộc vùng núi Cánh
Tiên).
- Đất Feralit màu đỏ vàng trên núi cao, tầng đất mỏng có nhiều mùn.
2.1.4. Khí hậu
Vùng Chạm Chu có những nét tương đồng với chế độ khí hậu vùng
Đông Bắc.
18


Nhiệt độ trung bình hàng năm 22,90C; Nhiệt độ trung bình tháng lạnh
nhất xuống đến 15,50c vào tháng 1, tháng cao nhất lên đến 28,20C rơi vào
tháng 7. Biên độ dao động nhiệt độ giữa tháng lạnh và nóng nhất lên đến
7,30C.
Tổng lượng mưa trung bình năm đạt 1661mm đặc biệt 4 tháng có
lượng mưa trung bình trên 230mm là các tháng 6,7,8,9 chiếm đến 65,24%
tổng lượng mưa năm. Điều này gây nên hiện tượng lũ lụt, xói mịn đất và các
thiệt hại về người, môi trường và kinh tế.
Thời kỳ khô hạn là thời kỳ kéo dài từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau,
đây là thời kỳ khô hạn đối với sự phát triển của hệ sinh thái.
2.1.5. Thủy văn
Đặc điểm chung của vùng núi Đông Bắc là hệ thống sông suối dày đặc,
cộng với lượng mưa năm lớn (1661mm), hệ thống sơng suối góp phần tạo
nên độ ẩm khơng khí cao về mùa mưa. Tổng chiều dài sơng suối trong tồn
bộ khu vực đạt đến 1113,7 km tương ứng khoảng 1,9 km/km2. Phía Tây là
sơng Lơ đây cũng là ranh giới của Khu bảo tồn, phía Đơng có hệ thống sơng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status