1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng, tiến triển từ từ có
xu hướng mạn tính và hay tái phát. Bệnh thường bắt đầu ở lứa tuổi
trẻ, làm bệnh nhân mất dần các chức năng nghề nghiệp, xã hội, ảnh
hưởng đến khả năng lao động và học tập, trở thành một gánh nặng
cho gia đình và xã hội. Tỷ lệ mắc tâm thần phân liệt chiếm khoảng
0,3% đến 1,5% dân số và ở Việt Nam tỷ lệ này khoảng 0,47%.
Theo DSM-IV, khoảng 20% bệnh nhân tâm thần phân liệt có
hành vi tự sát và khoảng 5% - 6% chết do tự sát. Các yếu tố nguy cơ
tự sát ở các bệnh nhân này là các triệu chứng trầm cảm, mất hy vọng,
thất nghiệp, giai đoạn loạn thần và sau khi xuất viện. Sadock B.J. và
cộng sự khẳng định càng giảm nồng độ serotonin trong huyết tương
thì nguy cơ tự sát thành công càng cao và phương thức tự sát càng
bạo lực.
Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu về tự sát, nhưng
chỉ dừng lại ở các bệnh tâm thần nói chung, chưa có nghiên cứu nào
đề cập đến hành vi tự sát và mối liên quan giữa nồng độ serotonin
huyết tương ở bệnh nhân tâm thần phân liệt nói riêng.
2. Mục đích của đề tài
1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân tâm thần phân liệt
có hành vi tự sát.
2. Khảo sát nồng độ serotonin huyết tương và một số yếu tố thúc
đẩy hành vi tự sát ở bệnh nhân tâm thần phân liệt.
3.Tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ serotonin với các triệu
chứng lâm sàng ở bệnh nhân tâm thần phân liệt có hành vi tự sát.
3. Ý nghĩa thực tiễn và những đóng góp mới của đề tài
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và mối liên quan với nồng độ
serotonin huyết tương ở bệnh nhân tâm thần phân liệt có hành vi tự
sát là một trong những nghiên cứu đầu tiên ở nước ta có thể được tóm
nghiên cứu 35 trang; Chương 4: Bàn luận 36 trang và Kết luận 2
trang; Kiến nghị 1 trang; Danh mục các công trình nghiên cứu của tác
giả 1 trang; Tài liệu tham khảo 16 trang (37 tài liệu tiếng Việt và 106
tài liệu tiếng Anh); Phần phụ lục gồm bệnh án nghiên cứu 10 trang,
danh sách bệnh nhân nghiên cứu 12 trang.
3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Đặc điểm tâm thần phân liệt
Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng, thường tiến triển,
làm biến đổi nhân cách người bệnh theo kiểu phân liệt, làm cho họ
tách ra khỏi cuộc sống bên ngoài, tình cảm ngày càng khô lạnh, khả
năng làm việc ngày càng giảm sút và có những hành vi lập dị, khó
hiểu, phát sinh ở tuổi trẻ (trước 25 tuổi), tỷ lệ mắc ở nam và nữ là
tương đương nhau. Biểu hiện lâm sàng của tâm thần phân liệt vô
cùng phong phú và luôn thay đổi và có 2 loại triệu chứng cơ bản là
triệu chứng dương tính (hoang tưởng, ảo giác, căng trương lực,...) và
triệu chứng âm tính (cảm xúc cùn mòn, vô cảm, thu hẹp quan hệ xã
hội, thu mình lại, giảm các thích thú và ngôn ngữ nghèo nàn).
Có nhiều yếu tố liên quan đến bệnh nguyên và bệnh sinh của tâm
thần phân liệt nhưng cho đến nay vẫn chưa xác định được các bằng
chứng cụ thể.
1.2. Đặc điểm tâm thần phân liệt có hành vi tự sát
Định nghĩa “tự sát” là hành động cố ý tự kết liễu cuộc đời mình,
bằng nhiều hình thức khác nhau. Hiểu theo nghĩa hẹp thì tự sát là các
hành động trực tiếp mang lại cái chết cho nạn nhân. Còn theo nghĩa
rộng thì tự sát bao gồm tất cả các hành vi mà hậu quả trực tiếp và
gián tiếp của nó dẫn đến cái chết và bệnh nhân ý thức được điều đó.
Hành vi có kết quả trực tiếp như thắt cổ, đuối nước, nhảy lầu, còn
2.1.2. Phân nhóm đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu được phân ra làm 2 nhóm:
* Nhóm 1: gồm 66 bệnh nhân tâm thần phân liệt có hành vi tự sát
làm nhóm nghiên cứu.
+ Lần 1: tiến hành được quan sát và khám xét các triệu chứng
lâm sàng rối loạn tâm thần và đặc điểm các hành vi tự sát kèm theo
trong vòng 1 tuần đầu tiên sau khi vào viện. Đồng thời cũng lấy máu
xét nghiệm serotonin (lần 1).
+ Lần 2: cũng tiến hành quan sát và khám xét các triệu chứng
lâm sàng rối loạn tâm thần và đặc điểm các hành vi tự sát kèm theo
trong vòng 4 tuần sau khi vào viện. Đồng thời cũng lấy máu xét
nghiệm serotonin (lần 2).
* Nhóm 2: gồm 35 bệnh nhân tâm thần phân liệt không có hành
vi tự sát làm nhóm chứng, lấy máu 1 lần xét nghiệm serotonin ngay
trong vòng 1 tuần đầu tiên sau khi vào viện.
5
2.1.3. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân nghiên cứu
+ Chọn bệnh nhân có đủ tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần phân liệt
theo ICD -10F (1992) về rối loạn tâm thần và hành vi và có ít nhất 1
lần tự sát không thành công trở lên, với ba đặc điểm sau:
- Những hành vi khác nhau có tính toán để tự giết mình.
- Không có sự can thiệp của bất kỳ yếu tố bên ngoài nào.
- Mục đích có ý muốn kết liễu cuộc đời mình.
+ Bệnh nhân không có các bệnh cơ thể nặng.
+ Các bệnh nhân đều được điều trị bằng các thuốc an thần kinh.
2.1.4. Tiêu chuẩn loại trừ
+ Bệnh nhân có hành vi tự sát nhưng không phải là TTPL.
+ Bệnh nhân TTPL có hành vi tự sát nhưng mắc các bệnh cơ
bệnh nhân tâm thần phân liệt có hành vi tự sát
Định lượng nồng độ serotonin huyết tương bằng phương pháp
ELISA, Kit của hãng Dragon, Hoa Kỳ, thực hiện tại Khoa Miễn dịchBệnh viện Trung ương Quân đội 108.
2.3. Phương pháp xử lý số liệu và đánh giá kết quả
Xử lý số liệu và đánh giá kết quả bằng các thuật toán thống kê.
Các số liệu được xử lý bằng chương trình STATA 8.0.
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.1. Giới tính của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.1 cho thấy, nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn (75,76%) và
nữ giới chiếm tỷ lệ thấp hơn (24,24%). Tỷ lệ Nam/Nữ = 3,13.
Bảng 3.1. Lứa tuổi của đối tượng nghiên cứu
Chỉ số thống kê
Lứa tuổi
≤ 20 tuổi
21 – 30 tuổi
31 – 40 tuổi
> 40 tuổi
Cộng
Trung bình
n
Tỷ lệ %
8
34
17
7
Giảm khí sắc
Khí sắc dao động
Trầm cảm
Nét mặt không thể hiện
cảm xúc
Vô cảm
Cảm xúc không ổn định
Cảm xúc căng thẳng
Lần 1
Lần 2
p
n=66
TL %
n=66
TL %
22
1
2
33,33
1,52
3,03
1
21
0
1,52
31,82
0
p > 0,05b
p < 0,05a
p < 0,01b
8
Cảm xúc bùng nổ
Cảm xúc bàng quan
Cảm xúc không thích hợp
Cảm xúc cùn mòn
Luôn bận tâm lo lắng
Hoang mang
Hằn học
Tình cảm thu hẹp
Tâm trạng thất thường
Tâm trạng dễ xúc động
Bi quan, chán nản
8
23
23
1
10
0
1,52
6,06
0
1,52
0
0
3,03
0
3,03
15,15
p < 0,01b
p < 0,001b
p < 0,001b
p > 0,05b
p < 0,001b
p < 0,01b
p > 0,05b
p < 0,05b
p > 0,05b
p > 0,05b
p < 0,001a
a.Chi – squared test;
b. Fisher’s exact test
Bảng 3.5 cho thấy các triệu chứng rối loạn cảm xúc và lo âu ở đối
tượng nghiên cứu của chúng tôi rất đa dạng và phong phú, hay gặp nhất
TL %
3,03
3,03
6,06
72,73
24,24
Lần 2
n=66
0
2
0
0
2
TL %
0
3,03
0
0
3,03
p
p > 0,05b
p > 0,05b
p > 0,05b
p < 0,001b
p < 0,001b
p > 0,05b
p > 0,05b
p > 0,05b
p > 0,05b
p > 0,05b
b. Fisher’s exact test
Bảng 3.7 cho thấy khi khám bệnh lần đầu, triệu chứng hoang
tưởng bị truy hại chiếm tỷ lệ cao nhất (72,73%), sau đó đến hoang
tưởng bị chi phối (24,24%), còn các triệu chứng khác của rối loạn nội
dung tư duy chiếm tỷ lệ thấp không đáng kể.
Khi so sánh giữa 2 lần khám chúng ta thấy sự khác biệt của 2
loại hoang tưởng bị truy hại và hoang tưởng bị chi phối là có sự
khác biệt với p0,05.
Bảng 3.9. Sự chi phối của hoang tưởng đối với hành vi
Chỉ số thống kê
Hoang tưởng
chi phối hành vi
Không có hành vi chi phối
Có hành vi chi phối
Hành vi đánh người
Hành vi kích động, chửi bới
Hành vi đập phá đồ đạc
Hành vi chém người
Lần 1
n=66
0
p
p < 0,01b
p < 0,001b
p < 0,001b
p < 0,001b
p < 0,001b
p > 0,05b
b. Fisher’s exact test
Bảng 3.9 cho thấy hoang tưởng chi phối đến hành vi của bệnh
nhân khá đa dạng, hoang tưởng không chi phối hành vi chiếm tỷ lệ
thấp (18,18%), còn hoang tưởng chi phối hành vi bệnh nhân chiếm tỷ
lệ rất cao (71,21%). Khi so sánh trước và sau điều trị thấy chỉ còn có
3,03% triệu chứng không chi phối hành vi của bệnh nhân. Cụ thể là
hoang tưởng không chi phối hành vi sự khác biệt có ý nghĩa với
p0,05
10
Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ các loại ảo giác lần 1 và lần 2 của đối tượng
nghiên cứu
Biểu đồ 3.5 cho thấy một bệnh nhân có thể có một hoặc nhiều
loại ảo giác. Triệu chứng ảo thanh bình phẩm (51,51%), ảo thanh đe
dọa (21,21%), ảo thanh ra lệnh (43,94%) và ảo thanh xui khiến
0
p < 0,001b
3
2
57
4,54
3,03
86,36
3
3
0
4,54
4,54
0
p > 0,05b
p > 0,05b
p < 0,001b
b. Fisher’s exact test
Bảng 3.11 cho thấy tin tưởng tuyệt đối vào ảo giác (86,36%) và
ảo giác xuất hiện thường xuyên chiếm tỷ lệ cao nhất (84,85%), ảo
giác xuất hiện không thường xuyên và nghi ngờ vào ảo giác chiếm tỷ
lệ thấp nhất (4,54% và 3,03%).
Khi so sánh 2 nhóm số liệu ta thấy ảo giác xuất hiện thường
54
1
2
2
50
9
81,82
1,52
3,03
3,03
75,76
13,64
0
0
3
0
2
1
0
0
4,54
0
3,03
1,52
p < 0,001b
Lần 1
Lần 2
n=66
TL %
n=66
TL %
8
29
23
19
19
5
13
3
41
26
10
14
12,12
43,94
34,85
28,79
4,54
0
0
0
a.Chi – squared test;
b. Fisher’s exact test
p
p > 0,05b
p < 0,001b
p < 0,001b
p < 0,001b
p < 0,05a
p > 0,05b
p < 0,001b
p > 0,05b
p < 0,001b
p < 0,001b
p < 0,01b
p < 0,001b
12
Bảng 3.13 cho thấy các triệu chứng rối loạn vận động chung rất
đa dạng, trong đó ăn ít chiếm 62,12% là hay gặp nhất, tiếp theo là
lãnh đạm, thờ ơ cách ly với xã hội 43,94%, hành vi dị kỳ 39,39%,
không quan tâm chăm sóc bản thân 34,85%. Các rối loạn khác chiếm
tỷ lệ thấp. Khi so sánh khảo sát lần 1 với lần thứ 2 ta thấy khác biệt ở
thấp nhất là có 4 và 5 lần tự sát (1,52%). Số lần tự sát không thành
công trung bình ở đối tượng là 1,41 ± 0,80 lần.
Bảng 3.18. Các phương thức thực hiện hành vi tự sát ở đối tượng
nghiên cứu
Chỉ số thống kê
Phương thức tự sát
Đuối nước
Thắt cổ
Đập đầu vào tường
Lao vào ô tô
Đâm chém, cắt bằng vật sắc nhọn
Dùng gậy, búa, gạch, đá đập
Thuốc bảo vệ thực vật
Thuốc hướng thần, tân dược
Nhảy từ trên cao xuống
Điện giật
Cắn lưỡi
Các hình thức khác
Cộng
Tần suất
Tỷ lệ %
13
13
9
4
29
2
yếu tố thúc đẩy hành vi tự sát ở bệnh nhân tâm thần phân liệt
3.3.1. Kết quả định lượng nồng độ serotonin huyết tương ở đối
tượng nghiên cứu
Bảng 3.19. Kết quả định lượng nồng độ serotonin huyết tương
lần 1 và lần 2 của đối tượng nghiên cứu
14
STT
1
2
Chỉ số thống kê
Kết quả
Lần 1 (ng/ml)
Lần 2 (ng/ml)
n
X ± SD
p
66
66
8,90 ± 4,56
35,40 ± 22,09
p < 0,001
Bảng 3.20 so sánh kết quả xét nghiệm nồng độ serotonin huyết
tương trong lần 1 (8,90 ± 4,56 ng/ml) và nhóm chứng (16,01 ± 6,44
ng/ml) bằng phương pháp phân tích theo thuật toán Wilcoxon –
signed rank test cho thấy sự khác biệt rõ rệt với p < 0,001.
Bảng 3.21. Kết quả định lượng nồng độ serotonin huyết tương
lần 2 của đối tượng nghiên cứu và nhóm chứng
STT
1
2
Chỉ số thống kê
Kết quả
Lần 2 (ng/ml)
Nhóm chứng (ng/ml)
n
X ± SD
p
66
35
35,40 ± 22,09
16,01 ± 6,44
p < 0,001
Bảng 3.21 so sánh kết quả xét nghiệm nồng độ serotonin huyết
Bảng 3.22 cho thấy, chủ yếu là sức khỏe của mẹ bình thường
(90,90%), không rõ sức khỏe của mẹ ra sao (4,55%) và sức khỏe của
mẹ có bất thường (4,55%). Tiền sử sản khoa khi mẹ sinh bệnh nhân
chủ yếu cuộc đẻ của mẹ là đẻ thường (92,42%), chỉ có 7,58% cuộc đẻ
bất thường (Forceps, mổ đẻ, chuyển dạ lâu và can thiệp khác).
Bảng 3.23. Tiền sử gia đình có người mắc bệnh tâm thần ở đối
tượng nghiên cứu
Chỉ số thống kê
n = 66
Tỷ lệ %
Tiền sử gia đình
Không có người mắc bệnh tâm thần
52
78,79
Có người mắc bệnh tâm thần
14
21,21
- Tâm thần phân liệt
11
78,57
2
14,29
- Chậm phát triển tâm thần
2
14,29
- Các bệnh tâm thần khác
Phả hệ gia đình có người mắc bệnh tâm thần
Bố mẹ đẻ của bệnh nhân
4
16
Không có stress khi phát bệnh
Có stress khi phát bệnh
Có stress tâm lý cấp tính
Có stress tâm lý kéo dài
49
17
7
10
74,24
25,26
41,18
58,82
Bảng 3.26 cho thấy, đa số bệnh nhân không có yếu tố stress tâm
lý khi phát bệnh (74,24%) và có stress tâm lý khi phát bệnh
(25,26%). Trong đó, bệnh nhân có stress tâm lý cấp tính chiếm tỷ lệ
41,18% và có stress tâm lý kéo dài chiếm tỷ lệ 58,82%.
3.4. Mối liên quan giữa nồng độ serotonin huyết tương với các
triệu chứng rối loạn tâm thần ở bệnh nhân tâm thần phân liệt có
hành vi tự sát
Bảng 3.39. Mối liên quan giữa nồng độ serotonin huyết tương với
rối loạn cảm xúc
Chỉ số thống kê
Lần 1
X ± SD
9,15 ± 4,47
10,58 ± 5,15
8,27 ± 4,39
1
0
0
1
4
1
2
10
69,09
0
0
16,69
22,80 ± 8,63
9,04
44,18 ± 5,32
46,70 ± 22,88
p < 0,05
p > 0,05
p > 0,05
p < 0,05
p 0,05
p
23
16
8
30
n
Bảng 3.39 mối liên quan giữa rối loạn cảm xúc với nồng độ
serotonin huyết tương sau 2 lần xét nghiệm thấy các triệu chứng cảm
xúc không thích hợp, tình cảm thu hẹp và bi quan, chán nản khi phân
tích theo thuật toán Wilcoxon – signed rank test cho kết quả giữa 2
nhóm có sự khác biệt rõ rệt với p
13,57 ± 1,40
0
0
2
0
0
0
0
0
X ± SD
p
(ng/ml)
0
0
22,33 ± 14,62
0
0
0
0
0
p > 0,05
p > 0,05
p < 0,05
p > 0,05
p > 0,05
X ± SD
(ng/ml)
9,39 ± 4,62
10,85 ± 4,38
8,22 ± 4,37
9,97 ± 4,63
Lần 2
n
1
0
1
1
X ± SD
p
(ng/ml)
74,03
0
76,61
13,40
p< 0,001
p< 0,05
p< 0,001
p> 0,05
Bảng 3.42 mối liên quan giữa ảo giác với nồng độ serotonin huyết
X ± SD
8
Lần 2
n
X ± SD
8,31 ± 4,85
3
35,57 ± 33,44
p
14
8,70 ± 4,94
9,33 ± 4,54
9,79 ± 4,45
7,35 ± 4,19
0
3
0
0
0
57,97 ± 22,17
0
0
p>0,05
p
hoang tưởng bị truy hại cao nhất (72,73%), sau đó đến hoang tưởng
bị chi phối (24,24%), còn các triệu chứng khác chiếm tỷ lệ thấp
không đáng kể. Kết quả của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của
Đỗ Kim Lan; Hoàng Văn Nghĩa.
Theo Bouhlel S. và cộng sự và Tô Đình Phong nghiên cứu ở tâm
thần phân liệt có hành vi tự sát bị chi phối bởi hoang tưởng hoặc/và
ảo thanh thấy kết quả của chúng tôi ở bảng 3.7 là phù hợp.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở biểu đồ 3.5 cho thấy có sự
phù hợp với ý kiến của các tác giả như Ngô Ngọc Tản; Hoàng Văn
Nghĩa; Tô Đình Phong; Lê Sao Mai. Một bệnh nhân có thể có 1 hoặc
nhiều loại ảo giác. Các triệu chứng ảo thanh bình phẩm (51,51%), ảo
thanh đe dọa (21,21%), ảo thanh ra lệnh (43,94%) và ảo thanh xui
khiến (30,30%) là rất hay gặp.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 3.11 cho thấy ảo giác
càng bền vững, xuất hiện càng liên tục thì bệnh nhân càng tin tưởng
vào nội dung của ảo giác. Khi tổng hợp sự xuất hiện của hoang tưởng
và ảo giác trên bệnh nhân tâm thần phân liệt, chúng tôi nhận thấy đa
số bệnh nhân có cả hoang tưởng và ảo giác, rất ít bệnh nhân chỉ có ảo
giác hoặc chỉ có hoang tưởng. Kết quả này phù hợp với sự ghi nhận
của Hoàng Văn Nghĩa; Tô Đình Phong; Bùi Quang Huy.
20
Trong nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 3.12 cho thấy làm theo ảo
gíác chiếm tỷ lệ rất cao (81,82%), còn số bệnh nhân né tránh ảo giác
chỉ chiếm tỷ lệ rất thấp (1,52%). Kết quả này phù hợp với nghiên cứu
Ngô Ngọc Tản; Phạm Văn Mạnh; Lê Sao Mai.
Các rối loạn hoạt động ở bệnh nhân tâm thần phân liệt rất đa
dạng và phong phú. Trong nghiên cứu của chúng tôi được trình bày ở
bảng 3.13 thì ăn ít là triệu chứng hay gặp nhất (62,12%), còn các
4.3.2. Đặc điểm một số yếu tố thúc đẩy hành vi tự sát ở đối tượng
nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi được trình bày ở bảng 3.22; 3.23 và
3.26 cho thấy chủ yếu là sức khỏe của mẹ bình thường (90,90%),
trong gia đình không ai mắc bệnh tâm thần (78,79%) và đa số bệnh
nhân không có stress khi phát bệnh (74,24%). Kết quả này phù hợp
với nghiên cứu của các tác giả như Walker E. và cộng sự; Cao Tiến
Đức; Tô Đình Phong; Bùi Tiến Dũng; Lê Sao Mai; Bùi Quang Huy;
Baca-Garcia E. và cộng sự.
4.4. Mối liên quan giữa nồng độ serotonin huyết tương với các
triệu chứng rối loạn tâm thần ở bệnh nhân tâm thần phân liệt có
hành vi tự sát
4.4.1. Mối liên quan giữa nồng độ serotonin huyết tương với rối
loạn cảm xúc
Bảng 3.39 trong nghiên cứu của chúng tôi cho thấy mối liên quan
giữa rối loạn cảm xúc với nồng độ serotonin huyết tương sau 2 lần
xét nghiệm thấy các triệu chứng cảm xúc phù hợp với nghiên cứu của
các tác giả như Musshoff F. và cộng sự
4.4.3. Mối liên quan giữa nồng độ serotonin huyết tương với
hoang tưởng
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 3.41 cho thấy chỉ có
hoang tưởng bị chi phối (16 bệnh nhân) và hoang tưởng kỳ quái (4
bệnh nhân), còn lại các triệu chứng hoang tưởng khác thì không có ý
nghĩa. Như vậy, có thể kết luận giá trị của xét nghiệm nồng độ
serotonin huyết tương chỉ có giá trị đối với một số ít loại hoang
tưởng. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Bùi Quang Huy
và Sadock B.J.
4.4.4. Mối liên quan giữa nồng độ serotonin huyết tương với ảo giác
Kết quả nghiên cứu trong bảng 3.42 của chúng tôi cho thấy các
triệu chứng ảo thanh bình phẩm và ảo thanh ra lệnh khác nhau rõ rệt
và chi phối hành vi (71,21%). Ảo thanh có tỷ lệ cao nhất là ảo thanh
bình phẩm (51,51%), ảo thanh ra lệnh (43,94%). Hầu hết ảo giác xuất
hiện thường xuyên (84,85%) và bệnh nhân tin tưởng tuyệt đối vào ảo
giác (86,36%).
+ Bệnh nhân có 1 hành vi tự sát có tỷ lệ cao nhất với 72,73%, có
2 hành vi tự sát 18,18%, có 3 hành vi tự sát 6,06%. Số lần tự sát
trung bình ở đối tượng nghiên cứu là 1,41 ± 0,80 lần. Hầu hết hành vi
tự sát thực hiện vào ban ngày với 73,12%. Các phương thức tự sát
cũng rất đa dạng nhưng có tỷ lệ cao nhất là tự đâm, chém, cắt bằng
vật sắc nhọn chiếm 39,39%.
2. Kết quả định lượng nồng độ serotonin huyết tương và một số
yếu tố thúc đẩy hành vi tự sát ở bệnh nhân tâm thần phân liệt
+ Nồng độ serotonin huyết tương lần 1 là 8,90 ± 4,56 ng/ml, lần
2 là 35,40 ± 22,09 ng/ml và nhóm chứng là 16,01 ± 6,44 ng/ml. Sự
khác biệt giữa nồng độ serotonin huyết tương lần 1, lần 2 và nhóm
chứng là rõ ràng với p