MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Ở Việt Nam thời gian qua đã có nhiều người đề cập đến sự
xung đột nhiễu loạn giá trị, khủng hoảng niềm tin, mất phương
hướng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến rối loạn hành vi và thái độ
trong những bộ phận dân cư khác nhau, đặc biệt trong giới trẻ - làm
xuất hiện nguy cơ bất ổn xã hội. Nhà trường là chủ thể giáo dục quan
trọng nhất, nhưng giáo dục giá trị sống có thể được thực hiện thông
qua nhiều biện pháp, hình thức, công cụ khác nhau, trong đó báo chí
và các phương tiện truyền thông đại chúng đang trở thành công cụ
quan trọng với phương thức đặc thù giáo dục giá trị sống, đặc biệt là
với học sinh, sinh viên.
Trong bối cảnh hiện nay, truyền thông là công cụ hữu hiệu
trong định hướng giá trị, giá trị sống, củng cố niềm tin giá trị và
nhanh chóng điều chỉnh định hướng phù hợp với xu thế phát triển của
xã hội. Vấn đề xác định giá trị sống, định hướng giá trị sống có quan
hệ chặt chẽ với việc xác định nhu cầu phát triển trong cuộc sống nói
chung. Truyền thông giáo dục giá trị sống chính là sự tương tác giữa
các yếu tố, hiện tượng, quá trình được coi là ý nghĩa đối với toàn bộ
tiến trình phát triển của con người và xã hội.
Đối tượng xác lập hệ giá trị và truyền thông giáo dục giá trị
sống ở Việt Nam hiện nay trước hết là học sinh, sinh viên..., những
con người sẽ quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc. Truyền thông
đại chúng là những phương tiện thông tin đưa các thông điệp đến với
công chúng; ngày nay nó ngày càng phát triển nhanh về số lượng và
quy mô, về nội dung và hình thức, phát huy vai trò ngày càng quan
trọng trong đời sống văn hóa tinh thần xã hội.
Tuy nhiên bên cạnh những vai trò tích cực như trên, truyền
thông đại chúng cũng có những ảnh hưởng tiêu cực đến việc giáo dục
giá trị, giá trị sống. Tình hình đó đòi hỏi phải có những giải pháp
quản lý truyền thông giáo dục giá trị sống với sự hợp tác, vào cuộc
Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý truyền thông giáo dục
giá trị sống cho học sinh, sinh viên trong bối cảnh hiện nay, xác định
nguyên nhân hạn chế.
Đề xuất biện pháp quản lý truyền thông giáo dục giá trị sống
cho học sinh, sinh viên trong bối cảnh hiện nay.
Khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp và
thử nghiệm 01 biện pháp đề xuất.
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động truyền thông giáo dục giá trị sống trong bối cảnh hiện nay.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý truyền thông giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh
viên trong bối cảnh hiện nay
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án chủ yếu bàn đến quản lý sử dụng truyền
thông như công cụ chủ yếu để giáo dục giá trị sống cho học sinh trung
học phổ thông, sinh viên trong bối cảnh hiện nay trên báo Giáo dục và
Thời đại. Các đối tượng như mầm non, tiểu học, trung học cơ sở chưa
được đặt ra ở luận án này.
3
Về không gian: Nghiên cứu về truyền thông giáo dục giá trị sống
cho học sinh, sinh viên trong bối cảnh hiện nay; xác định vai trò, yêu
cầu, biện pháp quản lý của các chủ thể trong giáo dục giá trị sống cho
học sinh, sinh viên thông qua phương tiện truyền thông.
Về thời gian: Nghiên cứu công tác quản lý truyền thông giáo dục
giá trị sống cho học sinh, sinh viên trên báo Giáo dục và Thời đại từ
tháng 3/2013 đến nay.
4.4. Giả thuyết khoa học
4
sinh viên có tính cần thiết và khả thi cao, góp phần định hướng giá trị
sống và hoàn thiện nhân cách cho thế hệ trẻ trong bối cảnh hiện nay.
* Những luận điểm bảo vệ
Luận điểm 1: Truyền thông giáo dục giá trị sống là nhiệm vụ quan
trọng và cấp thiết của sự nghiệp giáo dục. Hoạt động này được tiến hành
tại các nhà trường, gia đình, song có một kênh đắc lực là các cơ quan
báo chí của ngành.
Luận điểm 2: Truyền thông giáo dục giá trị sống cho học sinh,
sinh viên dù tiến hành bằng phương thức nào cũng cần được quản lý một
cách hệ thống.
Luận điểm 3: Quản lý truyền thông giáo dục giá trị sống trong bối
cảnh đổi mới giáo dục phải quán triệt sự đồng bộ, nâng cao nhận thức
cho những người có trách nhiệm, đồng thời bám sát vào chức năng quản
lý bao gồm các việc: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận: Luận án góp phần hoàn thiện, bổ sung và phát
triển một số vấn đề lý luận về quản lý truyền thông giáo dục giá trị
sống cho học sinh, sinh viên; xác định rõ vai trò, yêu cầu của quản lý
truyền thông giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên. Hệ thống
biện pháp quản lý truyền thông giáo dục giá trị sống cho học sinh,
sinh viên trong bối cảnh hiện nay do tác giả đề xuất đã được khảo
nghiệm có tính cần thiết, tính khả thi cao và thử nghiệm hiệu quả trên
thực tế, do đó có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu.
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu luận án có thể sử dụng làm
tài liệu tham khảo và vận dụng ngay vào thực tiễn quản lý truyền
thông giáo dục giá trị sống cho thế hệ trẻ; trên cơ sở đó góp phần
nâng cao chất lượng quản lý truyền thông giáo dục giá trị sống cho
thế hệ trẻ trong bối cảnh hiện nay.
-EMIS – Education Management Information Systems – Hệ thống thông
tin quản lý giáo dục; nghiên cứu về vấn đề truyền thông phối hợp với giáo
dục quốc phòng trên tạp chí Bách khoa Tri thức Trung Quốc; nghiên cứu
tác động của giáo dục giá trị, dựa trên những nghiên cứu của Đại học
Newcastle, Australia (2009); nghiên cứu về Truyền thông mạng và đời
sống xã hội, Tác giả John A Bargh và Kate Y.A McKenna - Đại học tổng
hợp New York; Nghiên cứu của Sproull & Kiesler's (1985) về ảnh hưởng
của giao tiếp qua máy tính; nghiên cứu của Spears và đồng sự (Spear et
al 2002 và Reicher et al 1995) ; Khảo sát bởi Cumming et al ( 2002
p104) về giao tiếp mạng trong xây dựng mối quan hệ của giới trẻ; dự án
HomeNet của Kraut et al (1998) và khảo sát quy mô lớn của Nie &
6
Erbring (2000; Nie 2000) ... Các tác giả đã luận bàn một số vấn đề cơ bản
giáo dục giá trị sống, quản lý truyền thông giáo dục cho học sinh, sinh viên.
2. Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam
2.1. Về giáo dục giá trị, giá trị sống
Các tác giả có các công trình nghiên cứu này đã được xuất bản
thành các sách hoặc được chuyển tải dưới dạng chuyên đề cho đào tạo tiến
sỹ, nghiên cứu như: Phạm Minh Hạc: Về phát triển toàn diện con người
thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Giá trị học – Cơ sở lý luận góp
phần đúc kết, xây dựng hệ giá trị chung của con người Việt Nam thời nay;
Giáo dục giá trị xây dựng văn hóa học đường; Hà Nhật Thăng: Giáo dục
Giá trị Đạo đức – Nhân văn; Đỗ Huy: Cái đẹp – Một giá trị; Nguyễn Thị
Mỹ Lộc và Đinh Thị Kim Thoa: Giáo dục giá trị và Kỹ năng sống cho học
sinh phổ thông; Nguyễn Công Khanh và Nguyễn Thị Kim Liên: Giáo dục
Giá trị sống và phát triển kỹ năng sống...
2.2. Về truyền thông giáo dục, quản lý truyền thông giáo dục
Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề truyền thông giáo
sống cho thanh niên, học sinh, sinh viên luôn được các quốc gia trên thế
giới và các nhà khoa học ở nước ta quan tâm nghiên cứu; tuy góc độ tiếp
cận thể hiện các khía cạnh khác nhau, song nhìn chung các kết quả nghiên
cứu đã luận giải khá hệ thống, toàn diện vấn đề này trên cả phương diện lý
luận và thực tiễn.
Hai là, các quốc gia trên thế giới và nước ta dưới nhiều góc độ
khoa học khác nhau, trên từng lĩnh vực cụ thể các công trình khoa học (cả
trong và ngoài nước) đã luận giải làm sáng tỏ nhiều vấn đề về vai trò và
tầm quan trọng của truyền thông giáo dục giá trị sống; đặc điểm của
truyền thông trong giáo dục giá trị sống; tác động của truyền thông trong
giáo dục giá trị sống; một số vấn đề đặt ra trong phát huy vai trò của
truyền thông giáo dục giá trị sống cho thanh niên, học sinh, sinh viên, góp
phần thúc đẩy hiệu quả của truyền thông giáo dục giá trị sống cho học
sinh, sinh viên.
Ba là, mặc dù thực tiễn sử dụng truyền thông trong giáo dục nói
chung, giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên nói riêng đã thâm
nhập vào các nhà trường, các đơn vị, đoàn thể xã hội; tuy nhiên hiệu quả
chưa được đánh giá một cách khách quan khoa học. Còn về truyền thông
giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên có chăng chỉ là một biện pháp
cụ thể trong các biện pháp đề xuất nhằm quản lý có hiệu quả việc sử dụng
phương tiện truyền thông trong giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh
viên...Những vấn đề trình bày trên đã tạo nên điểm tựa khoa học hết sức
quan trọng để tác giả kế thừa, vận dụng vào giải quyết các vấn đề lý luận
và thực tiễn đã và đang đặt ra cho đề tài luận án của mình.
8
Tuy nhiên, tiếp cận vấn đề nghiên cứu dưới góc độ khoa học quản
lý giáo dục, có thể thấy cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào
luận bàn một cách cơ bản, hệ thống và chuyên sâu về quản lý truyền thông
9
Những vấn đề trên sẽ được nghiên cứu một cách hệ thống dưới
góc độ quản lý giáo dục trong Luận án: “Quản lý truyền thông giáo dục
giá trị sống cho học sinh, sinh viên trong bối cảnh hiện nay”.
10
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC
GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH, SINH VIÊN
1.1. Các quan điểm chủ đạo về truyền thông giáo dục giá trị
sống cho học sinh, sinh viên
1.1.1. Khái niệm giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên
* Giá trị, giá trị sống
“Giá trị” là “cái dựa vào đó để xem xét một con người đáng quý
đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, nghề nghiệp, tài năng”.“Giá trị cũng
là những quan niệm về thực tại, về cái đẹp, sự thật, điều thiện của một xã hội...”.
Giá trị sống (hay giá trị cuộc sống) là những điều chúng ta cho là
quý giá, là quan trọng, là có ý nghĩa đối với cuộc sống của mỗi người.
* Giáo dục giá trị sống
Giáo dục giá trị sống là quá trình tiếp thu, lĩnh hội được những giá
trị phổ quát của xã hội, biến thành những giá trị đặc trưng của bản thân
mỗi cá nhân, giúp cho mọi người có suy nghĩ, thái độ và hành động tích
cực, hiệu quả, phù hợp với bản thân và đáp ứng mong đợi của cộng đồng,
xã hội.
1.1.2. Truyền thông giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên
* Truyền thông
Truyền thông là một kiểu tương tác xã hội trong đó ít nhất có hai
Thứ tư, truyền thông đại chúng góp phần vào việc quảng bá hình
ảnh và các giá trị của Việt Nam ra thế giới.
* Những đặc điểm của truyền thông giáo dục giá trị sống cho học
sinh, sinh viên trên phương tiện thông tin đại chúng
- Tính mục đích
- Tính thực tiễn
- Tính hiệu quả
1.1.4. Nội dung giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên
trên các phương tiện truyền thông
* Quan điểm trong nước
- Minh triết của Hồ Chí Minh về giáo dục giá trị sống
- Định hướng xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam
đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước của Đảng và Nhà nước
- Chỉ thị của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
- Phát huy vai trò của báo chí trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và
bảo vệ đất nước
* Quan điểm từ nước ngoài
Năm 1995, một dự án quốc tế về giá trị sống đã được triển khai trên
hơn 100 quốc gia. 20 nhà giáo dục đến từ năm châu lục tiến hành một hội
thảo trước sự ủy quyền của UNICEF tại New York tháng 8 năm 1996 đã
thảo luận và đi đến thống nhất 12 giá trị sống cơ bản cần hình thành cho
mỗi con người ngay từ lúc còn nhỏ. Đây cũng chính là những nội dung
truyền thông giáo dục giá trị sống cho thế hệ trẻ được nhấn mạnh trên toàn
thế giới, gồm 12 giá trị sống: Hòa bình; Tôn trọng; Yêu thương; Khoan
12
dung; Trung thực; Khiêm tốn; Hợp tác; Hạnh phúc; Trách nhiệm; Giản dị;
Tự do; Đoàn kết.
trị sống cho học sinh, sinh viên
1.3.1. Bối cảnh hiện nay
13
1.3.2. Yếu tố con người
1.3.3 Yếu tố cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ
thuật, kinh phí thực hiện
1.3.4. Yếu tố luân lý đạo đức trong truyền thông
giáo dục giá trị sống
Kết luận chương 1
Với “quyền năng” đặc biệt của thông tin và truyền thông, truyền
thông giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên với sự phối hợp giữa cơ
quan truyền thông và các cơ sở giáo dục là một trong những yếu tố quan
trọng góp phần định hướng hệ giá trị của học sinh, sinh viên, nâng cao
chất lượng giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, bởi đó là kênh
thông tin đa chiều kết nối giữa cán bộ quản lý giáo dục các cấp, giữa
những người làm việc trong ngành giáo dục, cũng như ngành giáo dục với
toàn xã hội và ngược lại. Quản lý truyền thông giáo dục giá trị sống cho
học sinh, sinh viên là những tác động có mục đích, được tổ chức chặt chẽ
của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác, lựa chọn và sử
dụng các nguồn lực tạo sự thay đổi về hiệu quả giáo dục giá trị sống cho
học sinh, sinh viên thông qua các phương tiện truyền thông.
Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN QUẢN LÝ TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC
GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRONG BỐI
CẢNH HIỆN NAY
2.1. Khái quát về các phương tiện truyền thông giáo dục ở
Việt Nam hiện nay
2.1.1. Tình hình chung về báo chí Việt Nam
thống kê toán học để xử lý số liệu. Nghiên cứu sinh đã lập bảng đánh giá
nhằm khẳng định tính sát thực trong quá trình điều tra, khảo sát.
Kết quả khảo sát:
2.1.1. Thực trạng truyền thông giáo dục giá trị sống cho học
sinh, sinh viên trên các phương tiện truyền thông
* Thực trạng hình thức truyền thông giáo dục
giá trị sống cho học sinh, sinh viên
Các hình thức truyền thông giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh
viên: Thông qua truyền hình; thông qua báo giấy; thông báo mạng... được
đánh giá là rất cần thiết, tuy nhiên hiệu quả chưa cao, cần có sự đầu tư hơn
nữa nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông giáo dục giá trị sống cho học
sinh, sinh viên.
* Thực trạng về hiệu quả truyền thông giáo dục giá trị sống
trên báo Giáo dục và Thời đại
Bạn đọc đánh giá khá cao về các nội dung “chuyển tải kịp thời
chủ trương giáo dục giá trị sống của ngành giáo dục” và “đề cập đến
những vấn đề cấp bách nhất của giáo dục giá trị sống.Tuy nhiên,
những bài báo về giáo dục giá trị sống lại chưa thực sự thu hút bạn
15
đọc. Hiệu quả của truyền thông giáo dục giá trị sống chưa thực sự
như mong muốn.
* Đánh giá chung về ưu điểm của nội dung truyền thông giáo dục
giá trị sống trên báo Giáo dục và Thời đại
- Một là, Báo Giáo dục và Thời đại đã góp phần tuyên truyền hòa
bình, dân chủ, chủ nghĩa xã hội, độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc.
- Hai là, Báo Giáo dục và Thời đại đã góp phần nhân rộng, biểu
dương lòng nhân đạo, sống có tình nghĩa cho học sinh, sinh viên.
- Ba là, Báo Giáo dục và Thời đại đã góp phần giáo dục truyền
16
Công tác sử dụng truyền thông trong tổ chức, chỉ đạo triển khai
thực hiện các nội dung giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên còn
yếu kém, cần phải được khắc phục.
2.3.3. Thực trạng đổi mới hình thức, phương pháp sử dụng
truyền thông trong giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên
Công tác đổi mới hình thức, phương pháp sử dụng truyền thông
trong giáo dục giá trị sống còn yếu, chưa được cải tiến cập nhật theo xu
thế truyền thông đa phương tiện.
2.3.4. Thực trạng kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả sử dụng
truyền thông trong giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên
Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện truyền thông giáo
dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên ở các cơ quan truyền thông còn
nhiều hạn chế, không thường xuyên, nhiều bất cập.
2.3.5. Thực trạng các yếu tố tác động tới quản lý truyền thông
giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên hiện nay
Có nhiều yếu tố tác động đến truyền thông giáo dục giá trị sống của
Báo Giáo dục và Thời đại, trong đó yếu tố quan trọng nhất là vấn đề nhận
thức tư tưởng. Trình độ quản lý của cán bộ lãnh đạo báo cũng như trình độ
nghiệp vụ của phóng viên, biên tập viên cũng là một vấn đề quan trọng.
Mạng lưới thu thập thông tin từ cơ sở lên cũng như thông tin từ đầu nguồn
còn chưa đạt hiệu quả. Công tác lập kế hoạch truyền thông, cơ chế điều
hành của Báo và kinh phí cho truyền thông giáo dục giá trị sống cũng là
những nguyên nhân làm giảm hiệu quả của công tác này.
2.4. Đánh giá chung về quản lý truyền thông giáo dục giá trị
sống cho học sinh, sinh viên hiện nay
2.4.1. Những thành tựu cơ bản
Các cơ quan báo chí đã thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, có các nội
dung phản ánh về các hoạt động giáo dục, nhất là giáo dục giá trị sống.
Phần đông đội ngũ quản lý và phóng viên, biên tập viên đều thống nhất về
lý quan tâm đúng mức; điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chỉ đạo
và triển khai có hiệu quả các nội dung truyền thông giáo dục giá trị sống
cho học sinh, sinh viên hiện nay trên phương tiện truyền thông nói chung,
báo Giáo dục và Thời đại nói riêng.
Ba là, công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá chất l¬ượng, hiệu quả
sử dụng truyền thông giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên chưa
được thường xuyên; và nguồn nhân lực truyền thông giáo dục thế hệ trẻ
nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng chưa thực sự đáp ứng yêu cầu về
chất lượng công tác giáo dục.
Bốn là, các chế độ chính sách cho đội ngũ làm báo và điều kiện
vật chất, tài chính đảm bảo công tác truyền thông giáo dục giá trị sống cho
học sinh, sinh viên chưa thực sự đảm bảo.
18
Kết luận chương 2
Những phân tích về thành tựu và những mặt còn hạn chế của truyền thông
giáo dục giá trị sống đã đưa ra cho thấy, mặc dù đã có một vị trí nhất định
trong hoạt động chung của Báo Giáo dục và Thời đại, nhưng truyền thông
giáo dục giá trị sống vẫn chưa thực sự được chú trọng đúng mức. Căn cứ
vào thực trạng truyền thông giáo dục giá trị sống trên Báo Giáo dục và
Thời đại, rõ ràng Báo cần có những biện pháp quản lý nhằm nâng cao
hiệu quả truyền thông giáo dục giá trị sống.
19
Chương 3
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC GIÁ
TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH, SINH VIÊN TRONG BỐI
CẢNH HIỆN NAY
Lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sở Giáo dục và Đào tạo, Ban
Giám hiệu các nhà trường trung học phổ thông, đại học, cao đẳng có sự
quan tâm nhất định đến truyền thông giáo dục giá trị sống của Báo, tạo
điều kiện cho Báo hoàn thành tốt nhiệm vụ này.
20
Lãnh đạo Báo Giáo dục và Thời đại hoàn thành tốt nhiệm vụ của
mình trong truyền thông giáo dục giá trị sống, với sự tham gia tích cực,
chủ động của phóng viên, biên tập viên và những người có liên quan trong
cơ quan Báo; quản lý và sử dụng hợp lý các nguồn lực của Báo cho truyền
thông giáo dục giá trị sống. Cần lưu ý mọi đối tượng đều được xem là chủ
thể quản lý phần việc của mình đựoc giao (tự xây dựng kế hoạch, tự thực
hiện, tự kiểm tra - đánh giá) nhằm hoàn thành công việc được giao với kết
quả tốt nhất.
Ban Biên tập có quyền tự chủ trong quá trình thực hiện trang báo,
cán bộ, phóng viên, biên tập viên nâng cao trình độ làm báo, hiểu biết sâu
sắc về tình hình giáo dục giá trị sống, cải thiện được những mặt yếu còn
tồn tại đã chỉ ra ở chương 2. Sự phối hợp dài hạn, hai chiều giữa nhà
trường trung học phổ thông, đại học và Báo trong tuyên truyền giáo dục
giá trị sống sẽ nâng tính sát thực và hiệu quả của tin bài về giáo dục giá trị
sống trên báo Giáo dục và Thời đại.
3.2.4. Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu nâng cao chất
lượng truyền thông giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên
Đội ngũ phóng viên, biên tập viên, cán bộ các đơn vị trong công tác
quản lý và tổ chức thực hiện truyền thông giáo dục giá trị sống được tăng
cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao năng lực trình độ, đủ
mạnh về số lượng và chất lượng đáp ứng được nhiệm vụ truyền thông
giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên trong bối cảnh hiện nay.
3.2.5. Hoàn thiện chế độ chính sách, cung ứng điều kiện tài lực
biên tập viên, lãnh đạo các báo và tạp chí. Ngoài ra còn tiến hành phỏng
vấn đối với một số đối tượng để làm rõ hơn các thông tin khảo sát.
Kết quả đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
quản lý truyền thông giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên trong
bối cảnh hiện nay của các đối tượng khảo sát được tác giả xử lý như sau:
Ví dụ: Biện pháp 1: về Tính cần thiết có 25 người cho điểm 3 = 75 điểm;
15 người cho điểm 2 = 30 điểm, thì kết quả là 105 : 40 = 2.62 điểm. Còn
Tính khả thi có 36 người cho điểm 3 = 108 điểm; 4 người cho điểm 2 = 8
điểm, thì kết quả là 116 : 40 = 2.90 điểm. Các biện pháp khác cách tổng
hợp và tính kết quả tương tự như vậy.
Kết quả cho thấy: Về tính cần thiết: Biện pháp 4 Hoàn thiện chế
độ chính sách, cung ứng điều kiện tài lực đảm bảo truyền thông giáo dục
giá trị sống cho học sinh, sinh viên có số điểm cao nhất là 2.87 điểm và
xếp thứ nhất. Biện pháp 3: Chỉ đạo và triển khai có hiệu quả các nội dung
truyền thông giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên có mức độ cần
thiết là 2.75 xếp thứ hai. Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch, chương trình
và chuyên mục giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên có mức độ
cần thiết là 2.67 xếp thứ ba. Các biện pháp khác có điểm trung bình cộng
từ 2.52 đến 2.62.
Về tính khả thi: Biện pháp 2 có số điểm cao nhất là 2.97 điểm và
xếp thứ nhất. Như vậy, có thể thấy việc Xây dựng kế hoạch, chương trình
và chuyên mục giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên có tính khả thi
cao hơn cả. Điểm cao thứ hai là biện pháp 4: Hoàn thiện chế độ chính
sách, cung ứng điều kiện tài lực đảm bảo truyền thông giáo dục giá trị
sống cho học sinh, sinh viên có điểm trung bình cộng đạt 2.95 điểm.Còn
các biện pháp khác chênh lệch không nhiều vì có điểm trung bình cộng từ
2.85 đến 2.92.
22
hệ số tương quan là một số dương và có giá trị khá gần với 1, có thể khẳng
định các biện pháp đã đề xuất vừa mang tính cần thiết, vừa có tính khả thi
tương đối cao. Thứ bậc: 4, 6, 2 5, 1, 3.
Nhìn chung, các biện pháp được xếp theo thứ tự ưu tiên phù hợp
với tình hình quản lý truyền thông giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh
viên trong bối cảnh hiện nay. Các biện pháp có thể đan xen hỗ trợ và thúc
23
đẩy lẫn nhau trong tổ chức thực hiện. Kết quả khảo nghiệm này cho phép
tác giả tin tưởng rằng việc áp dụng kết quả nghiên cứu của luận văn vào
thực tiễn quản lý sẽ mang lại hiệu quả thiết thực.
3.3.2. Thử nghiệm biện pháp
Do điều kiện về tính pháp lý và thời gian nghiên cứu, luận án chỉ
thực hiện thử nghiệm biện pháp 2: “Xây dựng kế hoạch, chương trình và
chuyên mục giáo dục giá trị sống cho học sinh, sinh viên”.
* Mục đích thử nghiệm: Chứng minh hiệu quả và tính khả thi của
việc xây dựng kế hoạch.
* Giả thuyết thử nghiệm
Nếu lập được kế hoạch truyền thông giáo dục giá trị sống cụ thể,
chặt chẽ, có tính khả thi cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện các giải
pháp tiếp theo có hiệu quả.
* Phạm vi, đối tượng thử nghiệm
Tiến hành thử nghiệm trên đối tượng thử nghiệm là nhóm tham gia
lập kế hoạch truyền thông gồm phóng viên, biên tập viên báo Giáo dục và
Thời đại, sinh viên, giảng viên Trường Đại học Đồng Tháp. Ngoài ra,
tham gia nhóm thử nghiệm còn có phóng viên, biên tập viên báo Tiền
phong, Người đưa tin, VTC, Người lao động, Phụ nữ Việt Nam. Thời
gian: Tháng 10, tháng 11, tháng 12/2015.
* Cách thức đối chứng:
công việc đang được triển khai đúng tiến độ; rút kinh nghiệm, điều chỉnh
kịp thời những phần việc còn hạn chế;
+. Xác định thời điểm khảo sát ý kiến bạn đọc về chất lượng, nội
dung giáo dục giá trị sống đã đăng tải;
Công việc cụ thể tại trường Đại học Đồng Tháp
+ Phối hợp với báo Giáo dục và Thời đại và các báo khác trong
việc lên kế hoạch truyền thông giáo dục giá trị sống;
+ Thành lập bộ phận phối hợp truyền thông;
+ Lên kế hoạch khảo sát trong nội bộ giáo viên, lãnh đạo quản lý,
sinh viên... về nội dung, chất lượng tin bài truyền thông giáo dục giá trị
sống đã đăng tải, cung cấp cho báo Giáo dục và Thời đại và các báo khác
để có những điều chỉnh kịp thời;
+ Phát hiện, giới thiệu những cộng tác viên tích cực cộng
tác với báo Giáo dục và Thời đại và các báo khác để truyền
thông giáo dục giá trị sống;
+ Xây dựng các điều kiện cần thiết về tài chính phục vụ công tác
truyền thông giáo dục giá trị sống trên báo Giáo dục và Thời đại và các
báo khác; xác định rõ thời điểm thanh toán;
+ Giám sát kết quả truyền thông: Về số lượng, chất lượng, hiệu quả
của tin, bài đã đăng tải.
Sau khi lên kế hoạch truyền thông giáo dục giá trị sống cho sinh
viên trường Đại học Đồng Tháp, tác giả khảo sát 500 phóng viên, sinh
viên tham gia lập kế hoạch đánh giá về nhận thức về các yếu tố trong nhà
trường ảnh hưởng đến định hướng giá trị sống và Đánh giá về nhận thức
về ý nghĩa truyền thông giáo dục giá trị sống.
So sánh mức độ đánh giá sau khi đã áp dụng thử nghiệm biện pháp
với trước khi thử nghiệm biện pháp cho thấy tất cả các nội dung đều được
25
đề xuất một số biện pháp quản lý truyền thông giáo dục giá trị sống
ở Báo Giáo dục và Thời đại.
1.3. Luận án đã tiến hành nghiên cứu, khảo sát và đánh giá
thực trạng công tác quản lý truyền thông giáo dục giá trị sống của
Báo Giáo dục và Thời đại, từ đó rút ra kết luận: Cán bộ quản lý, đội
ngũ phóng viên, biên tập viên và những người làm báo đã phần nào
nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục giá trị sống cũng như
truyền thông giáo dục giá trị sống, tuy nhiên, vì nhiều lý do, công