Truyện kể dân gian Phạm Ngũ Lão ở Hưng Yên tiếp cận từ góc độ thể loại (LV thạc sĩ) - Pdf 44

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
---------------

VŨ THẢO VÂN

TRUYỆN KỂ DÂN GIAN PHẠM NGŨ LÃO Ở
HƯNG YÊN TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Thái Nguyên - 2017


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
---------------

VŨ THẢO VÂN

TRUYỆN KỂ DÂN GIAN PHẠM NGŨ LÃO Ở
HƯNG YÊN TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã ngành: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Huy Bỉnh

Thái Nguyên - 2017



iii

MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
1.Lí do chọn đề tài ................................................................................................. 1
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................... 2
2.1. Phạm Ngũ Lão được ghi chép trong thư tịch lịch sử và văn hóa ................... 2
2.2. Các công trình nghiên cứu về Phạm Ngũ Lão .............................................. 7
3. Đối tượng, mục đích nghiên cứu ..................................................................... 10
3.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................... 10
3.2. Mục đích nghiên cứu .................................................................................... 10
4. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu .............................................................. 11
4.1. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................... 11
4.2. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 11
5. Cấu trúc luận văn............................................................................................. 12
PHẦN II: NỘI DUNG ....................................................................................... 13
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN,TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
............................................................................................................................. 13
1.1.Cơ sở lí luận .................................................................................................. 13
1.1.1. Khái niệm “Truyện kể dân gian” .............................................................. 13
1.1.2. Khái niệm “Truyền thuyết dân gian” ........................................................ 13
1.1.3. Khái niệm “Truyện Nôm” ......................................................................... 15
1.1.4. Vấn đề thể loại........................................................................................... 17
1.2. Tổng quan đề tài nghiên cứu ........................................................................ 19
1.2.1. Khái lược về vùng đất Hưng Yên và làng Phù Ủng ................................. 19
1.2.2. Vài nét về Phạm Ngũ Lão ......................................................................... 23
1.2.3. Mối liên hệ giữa truyền thuyết Phạm Ngũ Lão với truyện Nôm khuyết
danh Tướng quân Phạm Ngũ Lão ....................................................................... 29
CHƯƠNG II:TRUYỀN THUYẾT PHẠM NGŨ LÃO Ở HƯNG YÊN ...... 32

sống tinh thần nhân dân lao động. Truyện kể dân gian mang dấu ấn văn hóa vùng
miền. Vì vậy, mỗi vùng miền với dân cư và môi trường sinh hoạt khác nhau sẽ hình
thành những mảng truyện kể dân gian không giống nhau. Trong truyện kể dân gian,
ta có thể tìm thấy các thành tố văn hóa như phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn
giáo, lời ăn tiếng nói, khát vọng của cộng đồng... tất cả hòa hợp trong loại hình
nghệ thuật do nhân dân sáng tạo. Truyện kể dân gian còn là tấm gương phản ánh
đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân qua từng bước đi lịch sử, trong đó dấu ấn
lịch sử mang màu sắc thời đại chống ngoại xâm và chân dung những anh hùng dân
tộc được khắc họa khá rõ nét.
Truyện kể dân gian về tướng quân Phạm Ngũ Lão lưu truyền ở Hưng Yên
gồm hai thể loại là truyền thuyết và truyện Nôm khuyết danh. Ở hai thể loại này,
hình tượng nhân vật Phạm Ngũ Lão vốn là danh tướng của triều Trần - người đã
có công trong sự nghiệp đuổi giặc Nguyên -Mông giữ yên bờ cõi Đại Việt được
hiện lên với tài chỉ huy của một dũng tướng. Ông cùng đội quân nhà Trần lập
nhiều những chiến công hiển hách.
Trong lịch sử dân tộc, Phạm Ngũ Lão không thuộc về dòng dõi hoàng thân
quốc thích. Ông là một người xuất thân thuộc tầng lớp bình dân nhưng là người
dũng lược, có tài cầm quân đã xây dựng lên đội quân "phụ tử chi binh" mỗi lần ra
trận là đánh thắng kẻ thù. Ông được triều đình nhà Trần vị nể, tướng sĩ và nhân
dân kính trọng. Tên tuổi Phạm Ngũ Lão chẳng những được các sử gia phong kiến
chép trong chính sử mà được dân gian lưu truyền trong dã sử. Cuộc đời, sự nghiệp
của Phạm Ngũ Lão trở thành huyền thoại trong dân gian vùng đất Hưng Yênbằng
sự ngưỡng mộ, tôn vinh của nhân dân.


2

Trong đời sống văn hóa tâm linh của người dân vùng đất Hưng Yên, Phạm
Ngũ Lão được ngưỡng mộ là người anh hùng xả thân vì sơn hà, xã tắc, ông trở
thành vị thần hộ mệnh của nhiều cộng đồng làng xã. Hiện nay, ở đền Phù Ủng

Đặc biệt, tác giả của sách Đại Việt sử kí toàn thư , Lịch triều hiến chương loại chí
và Đại Việt sử kí tiền biên có cái nhìn khách quan về công lao của ông cùng quân
dân Đại Việt trong cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần 2, lần 3, dẹp giặc
Ai Lao, Chiêm Thành và dẹp nội loạn…(vào thế kỷ XIII – XIV) cùng những sắc
phong và ân điển của triều Trần dành cho ông sau những công lao, sự nghiệp hiển
hách đó. Sách Đại Việt sử kí toàn thư có chép: “Ngũ Lão xuất thân trong hàng
quân ngũ nhưng rất thích đọc sách ngâm thơ, là người phóng khoáng, có chí lớn,
thích ngâm thơ, tựa như không để ý đến việc võ bị . Nhưng quân ông chỉ huy,
thực là đội quân phụ tử, hễ đánh là thắng ”[38, tr162]. Ở một chỗ khác, sử gia Ngô
Sĩ Liên viết: “ Tôi từng thấy các danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo Đại Vương
thì học vấn tỏ ra ở bài Hịch tướng sĩ, Phạm điện súy thì học vấn biểu hiện ở câu
thơ. Không chỉ có chuyên về nghè võ thế mà dụng binh lại tinh diệu, hễ đánh là
thắng đã tấn công là chiếm được, người xưa cũng không ai vượt nổi các ông ” [38,
tr 162]. Trong Lịch triều hiến chương loại chí , Phan Huy Chú đã viết về ông:
“Phạm Ngũ Lão có tài múa giáo làm thơ, lập nhiều công to, trước sau giữ trọn
danh dự, tiếng tăm rõ rệt. Tóm lại, đều không hổ là bậc nguyên thần” [11, tr 374].
Sách Khâm định Việt sử Thông cương giám mục có chép “Ngũ Lão theo Quốc
Tuấn đi đánh giặc Nguyên có công lớn nên có lệnh bổ dụng ”[ tr 240].
Trước đây, sự tích về vị danh tướng thời Trần xuất thân từ làng Phù Ủng
từng được chép lại trong Nam Hải dị nhân liệt truyện của Phan Kế Bính và Tang
thương ngẫu lục, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ, Sử Nam chí dị của Trần
Gia Du. Các tác phẩm đều kể về giai thoại ông ngồi đan sọt mải suy nghĩ việc
nước nên bị quân lính của Hưng Đạo đại vương đâm giáo vào đùi mà không hay,
ông được nhà vua cho cai quản vệ sĩ nhưng họ không phục nên xin phép về nhà
ba tháng để luyện tập rồi quay trở lại kinh đô xin thi đấu, ông dùng cọc tre vót
nhọn đâm vào chân voi khi đánh giặc Ai Lao...Sau này, theo công bố của các nhà


4



Con đẻ con nuôi, Chữa bệnh cứu người… với tất cả sự hứng khởi và tự hào. Theo
ông và một số cụ cao niên trong làng, các cụ trong Ban quản lí di tích đền Phù
Ủng, tất cả các truyền thuyết nói trên có từ rất lâu. Bất cứ ai ở làng Phù Ủng đều
biết và có thể kể các câu chuyện trên về người trai làng đan sọt đánh giặc lập công,
sau trở thành vị tướng có công với nước. Điều đó chứng tỏ xung quanh con người
có thật nơi đây, dân gian đã đan dệt bao nhiêu câu chuyện bởi cuộc đời vị danh
tướng, người con quê hương ấy đẹp như huyền thoại.
Nhìn từ phương diện phân chia tiểu loại cho thấy, truyền thuyết về nhân vật
Phạm Ngũ Lão là truyền thuyết lịch sử. Ông từ một người nông dân bình thường,
chân lấm tay bùn như bao người khác đã bước vào lịch sử quân sự, lịch sử văn
học, văn hoá nước nhà một cách tự nhiên. Ông không chỉ được tôn vinh qua
những ghi chép trong chính sử mà còn được dân gian ca ngợi qua những câu
chuyện đậm tính chất folklore.
Bên cạnh các bản kể truyền thuyết, năm 2011, nhóm tác giả Trần Tuấn
Doanh, Hoàng Văn Trị, Vũ Tiến Kỳ, Đào Quang Lâm công bố tác phẩm Tướng
quân Phạm Ngũ Lão - truyện thơ khuyết danh - Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam
thẩm định, trao giải. Truyện gồm 2074 dòng thơ, trong đó có 2062 dòng lục bát
kể lại cuộc đời, sự nghiệp của tướng quân Phạm Ngũ Lão, dũng tướng triều Trần
có công đánh giặc Mông - Nguyên.
Truyện thơ Tướng quân Phạm Ngũ Lão xuất hiện muộn hơn truyền thuyết.
Nếu truyền thuyết về Phạm Ngũ Lão mới được sưu tầm, ghi chép từ thế kỷ XX
do nhóm các nhà sưu tầm nghiên cứu dân gian là Trần Tuấn Doanh, Hoàng Văn
Trị, Vũ Tiến Kỳ, Đào Quang Lâm công bố năm 2008, in thành sách năm 2011.
Các nhà sưu tầm cho biết: Tiền thân của tác phẩm vốn là những đoạn thơ lẻ được
các cụ già đọc kể cho con cháu nghe về tướng quân Phạm Ngũ Lão. Cụ Trần Tuấn
Doanh (1923 - 2007) quê thôn Tạ Hạ, xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh
Hưng Yên đã sưu tầm, chép tay các đoạn thơ lẻ về Phạm Ngũ Lão qua lời kể của





7

Trong Ngọc phả đền Phù Ủng - Vũ Huy Thịnh đã ghi chép tỉ mỉ về truyền
thuyết, công lao, sự nghiệp, phẩm chất, sắc phong, thơ, văn tế, câu đối… về vị
tướng người làng Phù Ủng Phạm Ngũ Lão, trong đó có cả việc sau khi hóa, ngài
đầu thai vào nhà họ Nhữ (thái phó Nhữ Công ở Hoạch Trạch - Hải Dương).
Người đời sau đã cảm kích về công đức của Phạm Ngũ Lão mà làm thơ ca
ngợi ngài. Tiêu biểu có Phạm Quý Thích (sống cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX)
- người cùng huyện với ngài có bài thơ đề ở đền, trong đó có câu: “Tam triều sự
nghiệp dư biên tại/ Vạn cổ giang sơn nhất sáo hoành”. Câu thơ có nghĩa là: (Sự
nghiệp ba triều trong sử sách còn chép/ Non sông muôn thủa một ngọn giáo cầm
ngang). Lễ hội đền Phù Ủng - Ân Thi – Hưng Yên tổ chức ngày 11 tháng Giêng
hàng năm – tương truyền ngày Phạm Ngũ Lão xuất quân đánh giặc cứu nước, với
quy mô khá lớn.
Có thể nói, do điều kiện lịch sử, xã hội… nên việc tìm hiểu về Phạm Ngũ
Lão mới chỉ ở mức ghi chép, bình luận (về công lao, sự nghiệp, phẩm chất, tính
cách…của ông) mà chưa có sự khảo cứu hệ thống, chi tiết nhưng đây cũng là cơ sở
khoa học quý giá để chúng ta tìm hiểu đầy đủ hơn về nhân vật này.
2.2. Các công trình nghiên cứu về Phạm Ngũ Lão
Năm 1995, Nguyễn Hùng Xướng - sinh viên trường Đại học tổng hợp Hà
Nội đã làm khóa luận tốt nghiệp với đề tài Lễ hội Phù Ủng và người anh hùng
Phạm Ngũ Lão. Tác giả miêu tả lễ hội Phù Ủng gắn với việc thờ người anh hùng
Phạm Ngũ Lão có công với dân làng, đất nước.
Năm 1999, tác giả Đỗ Đức Hùng trong cuốn sách Danh tướng Việt Nam
tập 1 đã tập hợp tư liệu về những vị tướng tài ba, những nhà chỉ huy quân sự xuất
sắc trong tiến trình lịch sử Việt Nam. Theo tác giả, nếu Hưng Đạo đại vương được
ghi nhận là trụ cột triều Trần, có công lớn nhất trong cuộc kháng chiến
chốngNguyên - Mông thì dưới trướng của ngài có Phạm Ngũ Lão - một tướng

trong đó có bốn bản kể về tướng quân Phạm Ngũ Lão.


9

Năm 2008, Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện Ân Thi phối hợp với Viện
Khoa học phát triển nhân lực kinh tế và văn hóa tổ chức Hội thảo khoa học về
Tướng quân Phạm Ngũ Lão và lễ hội đền Phù Ủng. Mười ba bản báo cáo khoa
học về lịch sử, văn hóa, văn học… liên quan đến danh tướng Phạm Ngũ Lão và
di tích đền Phù Ủng được trình bày tại hội thảo. Các báo cáo đã khẳng định công
lao, sự nghiệp, tài năng, phẩm chất… con người thật của “ Điện suý thượng tướng
quân ” Phạm Ngũ Lão và vị thế, tầm vóc cụm di tích đền Phù Ủng trong đời sống
văn hóa hiện nay. Trong đó, một số bài viết có giá trị khoa học cao, như "Phạm
Ngũ Lão với vương triều Trần” của GS Lê Văn Lan, “Hành trạng và sự nghiệp
của danh tướng Phạm Ngũ Lão" của PGS.TS Nguyễn Minh Tường, " Phạm Ngũ
Lão - một minh chứng sinh động của tư tưởng và nghệ thuật quân sự nhân dân
thời Trần" của TS. Nguyễn Đức Hạnh, "Phạm Ngũ Lão trong sự nghiệp bảo vệ
miền biên giới quốc gia Đại Việt thời Trần"của TS. Nguyễn Đức Nhuệ, " Hình
tượng Phạm Ngũ Lão qua truyền thuyết dân gian ” của Th s. Vũ Tiến Kỳ… Các
tác giả đánh giá tài năng quân sự, tầm vóc, phẩm chất của vị tướng tài; khẳng định
vẻ đẹp của hình tượng tướng quân Phạm Ngũ Lão trong truyền thuyết dân gian.
Một số báo cáo trình bày mối quan hệ giữa " ài tướng Phạm Ngũ Lão, di tích, lễ
hội và sự tưởng niệm" của tác giả Phạm Lan Oanh, bàn về giải pháp "Quản lý, tổ
chức lễ hội đền Phù Ủng trong giai đoạn hiện nay " của Hoàng Mạnh Thắng, kết
hợp với nâng cấp khẳng định "vị trí giá trị từng di sản quần thể di tích đền Phù
Ủng trong bối cảnh du lịch tả ngạn sông Hồng" của Tăng Bá Hoành. Các ý kiến
tham luận được in trong tập Kỷ yếu Hội thảo khoa học - Tướng quân Phạm Ngũ
Lão và lễ hội đền Phù Ủng[44].
Năm 2008, Nguyễn Thị Ngà - học viên cao học Đại học Sư phạm Hà Nội
đãnghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ: Truyền thuyết Phạm Ngũ Lão và lễ hội Phù Ủng

thuyết dân gian và truyện Nôm khuyết danh.
3.2. Mục đích nghiên cứu


11

Đề tài Truyện kể dân gian về Phạm Ngũ Lão ở vùng đất Hưng Yên tiếp cận
dưới góc độ thể loại tập trung giải quyết một số vấn đề sau:
Phân chia truyện kể dân gian Phạm Ngũ Lão ở Hưng Yên thành các tiểu
loại theo chí thể loại.
Tìm hiểu đặc trưng nội dung, nghệ thuật thể loại truyện kể dân gian Phạm
Ngũ Lão ở Hưng Yên.
Tìm hiểu con người, sự nghiệp Phạm Ngũ Lão dưới góc nhìn văn học
dân gian.
Đề tài làm rõ sự sáng tạo nghệ thuật của tập thể tác giả bình dân trong quá
trình sáng tạo, lưu truyền bản kể và qua đây tiếp tục bồi dưỡng truyền thống yêu
nước của quê hương, dân tộc cho thế hệ trẻ, bồi dưỡng lòng tự hào về mảnh đất,
con người Hưng Yên, tiếp tục phát huy những giá trị văn hoá tốt đẹp trong sự
nghiệp xây dựng quê hương, đất nước.
4. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu
Hệ thống các tác phẩm dân gian kể về Phạm Ngũ Lão đã được lưu truyền
ở Hưng Yên bao đời nay, một bộ phận được cố định trong thư tịch, một bộ phận
còn lưu truyền nơi cửa miệng dân gian. Vì thế, cứ liệu được chúng tôi tìm hiểu,
nghiên cứu một mặt căn cứ vào các thư tịch, một mặt căn cứ theo lời kể của người
dân Hưng Yên. Đề tài bao quát toàn bộ truyện kể dân gian về Phạm Ngũ Lão gồm
truyền thuyết và truyện Nôm khuyết danh.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài Truyện kể dân gian Phạm Ngũ Lão ở vùng
đất Hưng Yên tiếp cận từ góc độ thể loại, chúng tôi phối hợp vận dụng các phương

PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN
1.1.Cơ sở lí luận
1.1.1. Khái niệm “Truyện kể dân gian”
Truyện kể dân gian là một khái niệm có ý nghĩa khái quát bao gồm các câu
chuyện kể do nhân dân sáng tác, lưu truyền qua các thời đại. Truyện kể dân gian
bao gồm nhiều thể loại: Thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyện ngụ
ngôn, truyện cười, truyện trạng, truyện Nôm khuyết danh... Dựa theo nội hàm khái
niệm các thể loại văn học dân gian lưu truyền ở Hưng Yên, chúng tôi thấy truyện
kể dân gian về Phạm Ngũ Lão là một bộ phận của hàng trăm bản kể dân gian viết
về nhân vật lịch sử gốc người Hưng Yên được lưu truyền phổ biến trong đời sống
văn hóa dân gian. Nhìn từ góc độ thể loại, truyện kể về Phạm Ngũ Lão gồm có hai
thể loại cơ bản: truyền thuyết và truyện Nôm khuyết danh.
1.1.2. Khái niệm “Truyền thuyết dân gian”
Ở Việt Nam, năm 1957 nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi đã đưa ra định
nghĩa thể loại truyền thuyết như sau: “Truyền thuyết là những truyện lịch sử, và
truyện lịch sử chỉ có thể có khi con người đã có ý thức về lịch sử của mình” [10,
tr 81]. Như vậy, theo Nguyễn Đổng Chi, truyền thuyết là những bản kể thuộc đề
tài lịch sử, trong đó người kể có ý thức về lịch sử dân tộc mình. Nhưng ý thức đến
đâu, tác giả chưa bàn bạc cụ thể.
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng trong bài phát biểu nhân ngày giỗ tổ Hùng
Vương đã nhận xét về truyền thuyết như sau: “Những truyền thuyết dân gian
thường có một cái lõi là sự thực lịch sử mà nhân dân phản ánh qua nhiều thế hệ
đã lí tưởng hóa gửi gắm vào đó tâm tình tha thiết của mình cùng với thơ và mộng,
chắp đôi cánh dân gian làm nên những tác phẩm mà đời đời con người ưa thích”
[24]. Cho rằng truyền thuyết có lõi lịch sử được phủ bởi lớp vỏ hoang đường, ý


14



Nếu thần thoại hướng tới thế giới tự nhiên, cổ tích hướng tới cuộc sống bình
thường và những xung đột trong xã hội phân chia giai cấp thì đối tượng được kể
lại trong truyền thuyết là lịch sử. Truyền thuyết thường kể về những việc có thực,
nhân vật lịch sử, những sự kiện lịch sử liên quan đến vận mệnh cộng đồng trong
quá khứ. Đây là phần lõi lịch sử của truyền thuyết. Dựa vào phân kì lịch sử dân
tộc, Hoàng Tiến Tựu phân truyền thuyết thành các bộ phận: Truyền thuyết về họ
Hồng Bàng và thời kì Văn Lang; Truyền thuyết về thời kì Âu Lạc và Bắc thuộc;
Truyền thuyết thời kì phong kiến tự chủ; Truyền thuyết thời kì Pháp thuộc[55].
Dựa vào nội dung phản ánh, đặc điểm nghệ thuật, hoàn cảnh ra đời của
truyền thuyết, nhà nghiên cứu Lê Chí Quế trong tác phẩm Văn học dângian Việt
Nam [46, tr 62]chia truyền thuyết thành ba loại: Truyền thuyết anh hùng; Truyền
thuyết lịch sử; Truyền thuyết về các danh nhân văn hóa. Nhà nghiên cứu Kiều
Thu Hoạch chia truyền thuyết người Việt thành ba loại lớn: Truyền thuyết nhân
vật;Truyền thuyết địa danh; Truyền thuyết phong - vật. Dựa vào cách phân chia
của các nhà nghiên cứu, chúng tôi xác định truyền thuyết Phạm Ngũ Lão thuộc
loại truyền thuyết lịch sử, phản ánh công cuộc chống ngoại xâm xuất hiện thời
phong kiến tự chủ, thuộc vương triều nhà Trần.
1.1.3. Khái niệm “Truyện Nôm”
Theo tác giả của Từ điển thuật ngữ văn học, truyện Nôm là “thể loại tự sự
bằng thơ dài rất tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ vào cuối thế kỉ
XVIII, đầu thế kỉ XIX, do viết bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm nên được gọi
là truyện Nôm”[26, tr 253]. Theo cắt nghĩa trên của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi thì truyện Nôm thuộc thể loại tự sự, kể chuyện bằng thơ và
dùng chữ Nôm làm phương tiện sáng tác.
Nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn nhận định: “Truyện Nôm là loại hình tự
sự bằng thơ dùng ngôn ngữ văn tự dân tộc - chữ Nôm để sáng tác ”. Đồng thời,
ông khẳng định “các tác phẩm truyện thơ trong văn học trung đại đều viết bằng




17

bình dân là sáng tạo của tập thể bình dân nên không rõ tên người sáng tác…Về nội
dung, truyện Nôm bình dân thể hiện quan điểm đạo đức, nguyện vọng, ước mơ của
người bình dân là đề cao tình nghĩa trong quan hệ giữa người với người, khẳng định
công lí là cao cả, chính nghĩa thắng gian tà, “ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác”. Trong
truyện Nôm bình dân, từ ngôn ngữ đến cách kể chuyện đều rất giản dị, ít có sự trau
chuốt về ngôn từ, nghệ thuật. Khác với truyện Nôm bình dân, truyện Nôm bác học
là sáng tác của các nho sĩ, ít nhiều có trình độ học vấn, biết sáng tạo nghệ thuật văn
chương. Nếu truyện Nôm bình dân đề cao tình nghĩa, ngợi ca chính nghĩa thì truyện
Nôm bác học thiên về khẳng định lễ giáo phong kiến, đề cao tình yêu tự do, ca ngợi
khát vọng giải phóng tình cảm hoặc đề cập tới những vấn đề có ý nghĩa nhân sinh
xã hội sâu sắc. Truyện Nôm bác học thể hiện tài năng nghệ thuật của chủ thể sáng
tạo qua khả năng lựa chọn ngôn từ, nghệ thuật kể chuyện độc đáo, nghệ thuật miêu
tả nội tâm tinh tế, nghệ thuật khắc họa hình tượng. Có thể kể đến một số tác phẩm
tiêu biểu được nhiều người biết đến như Truyện Kiều của Nguyễn Du, Sơ kính tân
trang của Phạm Thái, Hoa tiên của Nguyễn Huy Tự.
Trên cơ sở khảo sát tư liệu và tiếp xúc văn bản,chúng tôi nhất trí với 4 tiêu
chí mà nhà nghiên cứu Vũ Tiến Kỳ đưa ra để khẳng định Tướng quân Phạm Ngũ
Lão là truyện thơ Nôm khuyết danh hay loại truyện Nôm bình dân. Bốn căn cứ
gồm: Thứ nhất là đội ngũ sáng tác Tướng quân Phạm Ngũ Lão là những trí thức
bình dân địa phương. Thứ hai là phương thức bảo tồn, phổ biến Tướng quân Phạm
Ngũ Lão là phương thức dân gian. Thứ ba là cứ liệu miêu tả trong tác phẩm Tướng
quân Phạm Ngũ Lão là tư liệu lấy từ chính sử và truyền thuyết dân gian. Thứ tư
là giọng điệu ngôn ngữ nghệ thuật của Tướng quân Phạm Ngũ Lão là giọng điệu
của thi pháp truyện thơ dân gian sau thế kỷ XVIII. Từ việc xác định tác phẩm dựa
trên các tiêu chí như vậy, chúng tôi khẳng định Tướng quân Phạm Ngũ Lão truyện thơ khuyết danh là tác phẩm văn học dân gian đích thực.
1.1.4. Vấn đề thể loại




19

1.2. Tổng quan về vùng đất Hưng Yên và nhân vật lịch sử Phạm Ngũ Lão
1.2.1. Khái lược về vùng đất Hưng Yên và làng Phù Ủng
Về lịch sử - địa lí, Hưng Yên là vùng đất nằm ở tả ngạn sông Hồng có diện
tích tự nhiên 926,09 km2 đứng thứ 58 so với cả nước, đứng thứ 12 trong số 14 tỉnh
châu thổ Bắc Bộ. Dân số Hưng Yên gần 1,2 triệu người, có161 xãphường, thị trấn,
chia thành 10 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố và 9 huyện.
Theo ý kiến của các học giả tại Hội thảo khoa học về Hưng Yên vào tháng
3 năm 1993, Hưng Yên là vùng đất có từ vài ngàn năm trước. Thời Hùng Vương,
đất Văn Giang, Long Biên vốn là địa bàn cư trú của bộ lạc Câu Lậu, bộ lạc chọn
con trâu làm vật tổ, dân gian gọi là bộ lạc Trâu. Sự trùng khớp tên bộ lạc với di
vật khảo cổ là trống đồng tìm thấy ở Động Xá, huyện Kim Động. Trong trường
kỳ lịch sử, Hưng Yên có nhiều tên gọi khác nhau. Vùng đất Hưng Yên xưa vốn
thuộc bộ Dương Tuyền thời Hùng Vương, là đất huyện Chu Diên thời Bắc thuộc,
phủ Thái Bình thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, là đất lộ Khoái, Đằng châu thời Lý, lộ
Long Hưng thời Trần, phủ Kiến Xương thời thuộc Minh, đất Nam đạo thời Lê sơ.
Năm Bính Tuất (1466), niên hiệu Quang Thuận thứ 7, Lê Thánh Tông (1460 1497) chia Đại Việt thành 12 thừa tuyên, Hưng Yên thuộc thừa tuyên Thiên
Trường. Năm Kỷ Sửu (1469), niên hiệu Quang Thuận thứ 10, đổi thừa tuyên
Thiên Trường thành trấn Sơn Nam, bao gồm 11 phủ, 42 huyện, Hưng Yên thuộc
phủ Khoái Châu. Năm Tân Dậu (1741), niên hiệu Cảnh Hưng thứ hai, Lê Hiển
Tông (1498 - 1504) chia Sơn Nam thành hai lộ: Sơn Nam Thượng và Sơn Nam
Hạ, vùng đất Hưng Yên thuộc lộ Sơn Nam Thượng.
Tỉnh Hưng Yên chính thức được thành lập năm Tân Mão (1831), niên hiệu
Minh Mệnh thứ 12 gồm hai phủ, tám huyện: Phủ Khoái Châu có 4 huyện: Đông
Yên, Kim Động, Ân Thi, Phù Cừ của trấn Sơn Nam Thượng và phủ Tiên Hưng có
4 huyện Thần Khê, Hưng Nhân, Duyên Hà, Tiên Lữ của trấn Nam Định. Triều đình
lấy một phần Sơn Nam Thượng gồm phủ Khoái Châu và ba huyện thuộc phủ Tiên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status