skkn KINH NGHIỆM GIÁO dục học SINH BẰNG sự gần gũi, QUAN tâm, CHIA sẻ và ĐỘNG VIÊN - Pdf 44

MỤC LỤC

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận của vấn đề
2.2. Thực trạng của vấn đề
2.3. Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề
2.4. Kết quả đạt được

Trang
1
2
3
3
4
4
4
5
6
6
9
11
25


Giáo viên
Giáo viên chủ nhiệm
Giáo viên bộ môn
Học sinh
Trung học phổ thông

2


1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Những ai đã từng làm công tác chủ nhiệm, cũng như tôi, chắc hẳn có
không ít những băn khoăn, trăn trở: Làm thế nào để giúp học sinh lớp chủ
nhiệm đạt được kết quả cao trong học tập và rèn luyện phẩm chất đạo đức để
sau này trở thành những con người tài, đức? Làm thế nào để giúp tập thể lớp
chủ nhiệm có sự đoàn kết, gắn bó, yêu thương và tiến bộ? Làm sao để các em
học sinh đến trường không phải vì nghĩa vụ phải đi học mà là mỗi ngày đến
trường là một niềm vui? Làm sao để các em có thể vượt qua tất cả những cám
dỗ bên đường (những quán internet tốc độ cao với những trò chơi điện tử,
những nơi tụ tập bạn bè, ..) để đến trường với tâm trạng vui tươi và mong
muốn được có những thời gian học tập bên cạnh bạn bè và thầy cô giáo? Để
làm được những điều đó, vai trò của giáo viên chủ nhiệm (GVCN) vô cùng
quan trọng, cần phải đưa tập thể lớp thành một tập thể tiên tiến, một chi đoàn
vững mạnh, một tập thể gồm những thành viên giàu lòng nhân ái, biết yêu
thương giúp đỡ lẫn nhau. Trước tiên là GVCN cần phải có sự gần gũi, quan
tâm, chia sẻ và động viên.
Thực tế có nhiều giáo viên (GV) mặc dù đạt được nhiều thành tích cao
trong giảng dạy nhưng trong công tác chủ nhiệm cũng gặp không ít khó khăn.
Ở đâu đó vẫn còn tình trạng GVCN lớp nóng nảy, thô bạo đuổi học sinh (HS)

đắn của việc học tập, luôn phấn đấu đi lên để đạt được kết quả cao nhất và sẽ
đứng thật vững trên bước đường tương lai sau này. Hơn thế nữa, các em luôn
có sự quan tâm chia sẻ với mọi người xung quanh.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu quá trình chủ nhiệm lớp 11A4 năm học 2014-2015.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
1.4.1. Nghiên cứu lý luận:
Tìm hiểu và nắm vững nội dung các văn bản về quyền và nhiệm vụ của
GV nói chung và GVCN nói riêng đối với HS. Thu thập những thông tin lý
luận của vai trò của người GVCN lớp trong công tác giáo dục đạo đức HS
trên các tập san giáo dục, các bài tham luận trên Internet. Các biện pháp giáo
dục HS, đặc biệt là đối với HS lớp chủ nhiệm.
1.4.2. Phương pháp điều tra:
4


Tìm hiểu thông tin về HS thông qua GVCN, giáo viên bộ môn (GVBM)
năm trước, sơ yếu lí lịch HS đầu năm, trò chuyện, trao đổi với các GVBM,
HS, cha mẹ, bạn bè và hàng xóm của HS. Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình và tính
cách của từng HS.
1.4.3. Phương pháp Quan sát:
Quan sát hoạt động học và sinh hoạt tập thể của HS để nắm bắt thông tin
thông qua biểu hiện của HS để có những định hướng đúng trong giáo dục.
1.4.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Tham khảo kinh nghiệm giáo dục của đồng nghiệp trong trường, của các
trường bạn.
Đúc rút kinh nhiệm từ bản thân mình trong quá trình dạy học, quá trình
chủ nhiệm trong các năm học trước. Từ đó chọn biện pháp giáo dục HS phù
hợp, hiệu quả nhất.
1.4.5. Phương pháp thử nghiệm:

phải luôn bám lớp, tham gia sinh hoạt lớp, sinh hoạt trường. Mỗi việc làm, lời
nói của người GVCN ảnh hưởng rất lớn trong việc hình thành nhân cách HS.
Quá trình hình thành nhân cách của HS chịu tác động bởi 3 yếu tố: Gia
đình – Nhà trường – Xã hội. Mỗi yếu tố có vai trò, chức năng riêng nhưng lại
có mối quan hệ bổ sung, hỗ trợ cho nhau. GVCN là một thành viên quan
trọng nhất trong yếu tố nhà trường. Ở nhà, bố mẹ, ông bà, anh chị em là người
gần gũi, yêu thương quan tâm chăm sóc HS, hiểu tính nết, sở thích, sức
khỏe... của HS. Ở trường, GVCN là người được giao nhiệm vụ, theo dõi quản
lý HS của lớp mình, gắn bó, gần gũi với HS nhất. Do đó GVCN cũng là người
6


thân sau gia đình (có thể nói là người mẹ thứ hai của HS). Trong những năm
làm công tác chủ nhiệm và giảng dạy, tôi nhận thấy rằng: Lớp nào có GVCN
nhiệt tình chăm lo cho lớp và có kinh nghiệm giáo dục HS thì lớp đó bao giờ
cũng đoàn kết, nề nếp, thân thiện, tích cực và học tốt hơn.
2.1.2. Những yếu tố của GVCN lớp
2.1.2.1. Tố chất để làm nên một GVCN lớp tốt
Yếu tố quan trọng nhất của một GVCN theo tôi là cái “TÂM”, chữ
“TÂM” được hiểu ở đây là lòng thương yêu HS đích thực, là lòng tâm huyết
với công việc của mình. Một khi có tấm lòng yêu thương đối với HS, xem HS
như những đứa con của mình thì sẽ hết sức chăm lo gần gũi, hiểu được những
tâm tư, tình cảm của HS và giáo dục học sinh hiệu quả, tạo được mối quan hệ
gần gũi và tình cảm trong lòng của HS đối với GVCN và bạn bè. Người
GVCN cần phải quản lý lớp, giáo dục học sinh bằng tình yêu thương. Kinh
nghiệm của bản thân tôi: HS yêu quí thầy cô nào thì sẽ thích học, thích nghe
theo lời thầy cô ấy.
Bên cạnh chữ “TÂM” cũng cần phải nói đến chữ “UY” của GVCN. Chữ
“UY” ở đây không phải là uy quyền, vũ lực làm HS khiếp sợ nghe theo, mà
Chữ “UY” ở đây là uy tín của một GV, một GVCN, một người làm việc có

GVCN luôn đóng vai như một người thân mà các em có thể tin tưởng, nhờ
cậy được. Qua đó, các em sẽ biết sống nhẫn nại, kiên trì và giàu lòng nhân ái.
2.1.3. Về tâm lý lứa tuổi
Lứa tuổi học sinh THPT thuộc lứa tuổi vị thành niên. Giai đoạn này
các em có sự phát triển mạnh về thể chất và có sự thay đổi về tâm sinh lý rõ
rệt (giai đoạn mà chưa ra người lớn mà cũng không còn là trẻ em). Nhiều
em rất hăng hái tích cực trong mọi hoạt động, nhiều em lại có tính tự ty, dễ
nổi cáu, dễ mất bình tĩnh thiếu tự tin trong xử lý tình huống, dễ bị kích
động dẫn đến có những hành vi không kiểm soát được bản thân… Ở lứa
tuổi này các em đều muốn tự khẳng định mình, đều muốn mọi người coi
mình đã là người lớn.
Ở lứa tuổi này các em có nhu cầu giao tiếp với bạn bè rất lớn. muốn
thể hiện mình qua nhiều hoạt động, muốn thoát khỏi sự quản lý của bố
mẹ… Vì vậy nếu gia đình và thầy cô không hiểu được tâm lý lứa tuổi, không
8


quan tâm tác động đúng mức thì dễ bị các em chống đối, khó giáo dục. Để
thể hiện mình các em thích tụ tập chơi đùa hoặc làm những việc gì đó cùng
nhau và dễ bị rủ rê lôi kéo vào những hoạt động không lành mạnh như
nghiện chơi điện tử, ma tuý, những trò nghịch ngợm nguy hiểm mà chúng
ta không kiểm soát được.
Như vậy, có thể nói giai đoạn học THPT là giai đoạn phát triển nhân
cách, tình cảm, trí tuệ của các em. Giai đoạn này có vai trò quan trọng đối
với sự nghiệp và con ngưới của các em trong tương lai. Các em cần có được
những tri thức và kĩ năng cơ bản trong giao tiếp, ứng xử trong cuộc sống. Vì
vậy để giáo dục các em một cách hiệu quả, chúng ta cần hiểu được tâm
lý lứa tuổi của các em và đưa ra những biện pháp giáo dục phù hợp. Vai
trò của GVCN rất quan trọng trong việc giáo dục các em khi ở trường. Hơn
ai hết, GVCN là người có thể gần gũi, quan tâm, chia sẻ và động viên các

dục HS. Có những biện pháp tỏ ra rất phù hợp với HS này nhưng hoàn toàn
không giáo dục được những HS khác. Một số em sau thời gian giáo dục trở
nên tiến bộ hơn rất nhiều, nhưng một số em khác thì vẫn “chứng nào tật ấy”.
Một số em không hài lòng với cách giáo dục của GV trở nên bất mãn, có thái
độ chống đối và những hành vi tiêu cực. Nhiều em HS trở nên thờ ơ với tập
thể, thiếu tinh thần trách nhiệm, ảnh hưởng rất lớn đến tập thể lớp học.
Nhiều năm làm công tác giảng dạy và công tác chủ nhiệm, bản thân tôi
cũng đã sử dụng nhiều biện pháp giáo dục khác nhau với những đối tượng HS
khác nhau, thành công cũng có nhiều thất bại cũng có. Từ kinh nghiệm thực tế
của bản thân, tôi thấy rằng, nếu như nhìn những biểu hiện chưa đúng của HS
mà đánh giá HS thì có lẽ quá vội vàng, đằng sau những biểu hiện đó có rất
nhiều nguyên nhân khác nhau mà những người làm công tác giáo dục mà đặc
biệt là GVCN phải tìm hiểu và phân tích để đưa ra những biện pháp giáo dục
phù hợp. Phải có sự thông cảm sâu sắc với những khó khăn của các em, phải
có mối quan hệ thật sự yêu thương sẻ chia và tôn trọng thì mới có thể nắm bắt
được những tâm tư tình cảm của các em và có biện pháp giáo dục phù hợp
cho từng đối tượng. Hầu hết HS đều muốn có sự quan tâm, thân thiện của
GVCN, để các em có thể sẻ chia những khó khăn, những vấn đề mà các em
gặp phải, giúp các em vượt qua và tiến bộ hơn.
Năm học 2014-2015, tôi tiếp nhận chủ nhiệm 11A4, một lớp có phong
10


trào thi đua không tốt, năm học 2013-2014 lớp đứng vị thứ cuối cùng trong
nhóm thi đua (vị thứ 12/12 lớp). Qua tìm hiểu tôi còn thấy rất lo lắng vì trong
lớp có nhiều học sinh chưa ngoan, hay bỏ học, vô lễ với GV,…Tôi quyết định
cố gắng bằng biện pháp quan tâm, gần gũi, chia sẻ và động viên giúp các em
HS chưa tốt tiến bộ, giúp tập thể lớp có phong trào thi đua sôi nổi và đạt thành
tích cao hơn trong học tập.
2.3. Các biện pháp tiến hành để giải quyết vấn đề

26
65

TBình
SL
%
3
7,5

Yếu
SL
0

%
0

TBình
SL
%
14
35

Yếu
SL
0

%
0

- Tìm hiểu kết quả thi đua từ Đoàn trường:

ĐMil -ĐLăk

1

Ngô Huyền Ngọc Ánh

NGÀY
GIỚI DÂN
SINH
TÍNH TỘC
20/03/1998 Nữ
Kinh

2

NguyễnThị Nguyệt Ánh

02/07/1998 Nữ

Kinh

X

TCG

ĐMil -ĐLăk

3
4


Phan Mạnh Cường

24/02/1998 Nam

Kinh

X

TCG

ĐMil -ĐLăk

7

Ng Mai Hoàng Diệu

10/01/1998 Nữ

Kinh

X

TCG

ĐMil -ĐLăk

8

Ng Thành Dương


X

11

Nguyễn Phú Hùng

13/10/1998 Nam

Kinh

X

12

Lê Ng Minh Hưng

20/01/1998 Nam

Kinh

13

Lê Thị Hường

17/07/1998 Nữ

Kinh

X


X

TCG

ĐMil -ĐLăk

17

Nguyễn Lương Khoa

15/11/1998 Nam

Kinh

X

TCG

ĐMil -ĐLăk

18

Nguyễn Trung Kiên

02/08/1998 Nam

Kinh

X



Chăm X

23

Trần Minh Mạnh

16/11/1998 Nam

Kinh

24

Lê Hoàng Nam

21/09/1998 Nam

Kinh

25

Phan Thị Nguyệt Nga

01/01/1998 Nữ

Kinh

X

TCG


X

TCG

ĐMil -ĐLăk

29
30

Nguyễn Nhật Phi
Đặng Cao Phong

30/01/1998 Nam
20/11/1998 Nam

Kinh
Kinh

X
X

TCG

ĐMil -ĐLăk
ĐMil -ĐLăk

31

Nguyễn Ân Phúc


X

ĐMil -ĐLăk

ĐMil -ĐLăk
TCG

ĐMil -ĐLăk

TCG

ĐMil -ĐLăk

Phủ Lí-Hà Nam

TCG

ĐMil -ĐLăk

TCG

ĐMil -ĐLăk
ĐMil -ĐLăk
ĐMil -ĐLăk

TCG

ĐMil -ĐLăk
ĐMil -ĐLăk

Nam

Kinh
Kinh
Kinh
Kinh

X
X
X
X

39

Nguyễn Công Tuyền

27/07/1998 Nam

Kinh

X

TCG

TCG

ĐMil -ĐLăk
ĐMil -ĐLăk
ĐMil -ĐLăk
ĐMil -ĐLăk


Xuân Hòa–Đức Minh-ĐM- ĐN

Nguyễn.V. An

TrầnT.Kim Quyền

Nông

0978481372

Đức Vinh-Đức Mạnh-ĐM- ĐN

Phùng T Linh

TrầnT.Kim Tuyết

Nông

0906659513

TDP 7-TT Đăk Mil - ĐM- ĐN

Nguyễn.V. Đạt

Nguyễn Thị Tiến

Nông

0984358203


Mỹ Yên–Đức Minh-ĐM - ĐN

Trương Văn Sỹ

Nguyễn Thị Hiền

Nông

0982777885

Thuận Sơn-Thuận An-ĐM- ĐN

Hoàng Ng Hải

Phan Thị Thư

Nông

01676882779

Vinh Đức- Đức Minh-ĐM- ĐN

Ng Phú Khoa

Cao T. T. Nguyệt

Nông

01685891078


Vinh Đức- Đức Minh-ĐM- ĐN

Phan.V. Công

Nguyễn Thị Năng

Nông

0977073608

Mỹ Yên–Đức Minh-ĐM- ĐN

Trần Ng Trọng

N.T.M. Lệ Huyền

Nông

0976511922

Kẻ Đọng – Đức Minh-ĐM- ĐN

Nguyễn Thau

Phạm Thị Chỉ

Nông

01697713905


Thanh Lâm-ĐứcMinh-ĐM-ĐN

Hà Th Dũng

TrầnT.Kim Tuyến

Nông

01692336657

Thôn 2-Đăk Lao-Đăk Mil- ĐN

Lê Tựa

Lê Thị Thủy

Nông

01638510199

Đức Vinh-Đức Mạnh-ĐM- ĐN

TrầnMinh Tâm

Nguyễn Thị Thu

Nông

01273546670


TDP 8-TT Đăk Mil-ĐM - ĐN

Ng Đức Hòa

Ng T. T. Trang

Nông

0988456971

Đức Vinh-Đức Mạnh- ĐM-ĐN

Hồ Trọng Lộc

Ng T Lệ Thủy

Nông

0935739431

Đức Vinh-Đức Mạnh-ĐM- ĐN

NgHồng Cương

Đỗ Cao Trâm

Nông

0988777790


ĐỊA CHỈ

13


TDP 4-TT Đăk Mil - ĐM - ĐN

Lê Tư Nông

Phạm Thị Hằng

GV

01634901174

ĐứcTrung-Đức mạnh-ĐM- ĐN

TCông Phương

Phạm T T Hồng

Nông

0972064821

Mỹ Yên – Đức Minh-ĐM- ĐN

Trần Ngọc Sơn


Cao T Hồng Thập

Nông

01697511720

Thuận Nam-Th An-ĐM- ĐN

Ng Công Đằng

Ng Thị Phương

Nông

0989632248

* Từ kết quả thu được tôi nhận thấy rằng: Hầu hết HS lớp 11A4 có độ
tuổi như nhau; số lượng HS nam khá nhiều (gấp đôi số HS nữ); bố mẹ các em
chủ yếu làm nghề nông; chỉ có số ít ở thị trấn còn lại các em chủ yếu ở các xã,
một số em vì ở xa nên phải ở trọ để thuận tiện cho việc đi lại. Tôi yêu cầu các
em ở trọ ghi rõ địa chỉ nhà cụ thể, số điện thoại liên lạc của chủ trọ để có thể
nắm bắt thông tin và liên lạc khi cần thiết. Những em không ở trọ tôi cũng
yêu cầu các em ghi số điện thoại để việc liên lạc thuận lợi sau này.
* Những thuận lợi và khó khăn khi tiếp nhận lớp:
- Thuận lợi:
+ Bản thân tôi đã tham gia chủ nhiệm trong nhiều năm học trước đó, nên cũng
đã phần nào có những kinh nghiệm trong quá trình giáo dục HS.
+ Sáu năm liền trước đó tôi được phân công chủ nhiệm các lớp cũng trong
cùng nhóm I với lớp năm nay, cùng nhóm đối tượng HS với nhau nên có một
số kinh nghiệm có thể áp dụng được.

được các lớp A1, A2, nên thôi.
Tôi cũng tập trung quan sát biểu hiện của các em HS nằm trong danh
sách HS có vấn đề: Tôi thấy các em vắng nhiều trong những lần tập trung đầu
năm, hôm nào có mặt thì cũng không tập trung, tôi xác định đây là những đối
tượng tôi cần gần gũi quan tâm hơn.
2.3.3. Biện pháp cụ thể
2.3.3.1. Xây dựng hệ thống và tổ chức lớp học
1. Lựa chọn và phân công nhiệm vụ ban cán sự lớp

a. Lựa chọn ban cán sự lớp
* Lớp trưởng:
Cơ sở lựa chọn:
- Có năng lực trong công tác quản lí lớp: nói có tính thuyết phục và mọi người
dễ đồng tình, không có tính áp đặt người khác.
15


- Có trách nhiệm với bản thân và tập thể, làm việc ít sai sót.
- Học được, giỏi càng tốt nhưng không nhất thiết.
- Ưu tiên tính kế thừa.
Lựa chọn:
Từ những tiêu chí trên, cộng thêm một thông tin của GV khi nói về lớp
trưởng cũ: HS này rất có năng lực quản lí, nếu như em chịu thể hiện hết khả
năng của mình. Thông qua trao đổi và giới thiệu của lớp. Tôi suy nghĩ và
quyết định chọn em lớp trưởng năm học trước - HS Võ Minh Trọng.
* Lớp phó học tập:
Cơ sở lựa chọn:
- Học giỏi, có uy tín trong lớp về học tập.
- Có trách nhiệm và thận trọng trong công việc, có tinh thần giúp đỡ bạn bè
cùng tiến bộ, không kiêu căng, chủ quan.

- Tổ chức và thực hiện các hoạt động liên quan đến hoạt động văn nghệ, thể
thao, các buổi sinh hoạt lớp tổ chức. Chịu trách nhiệm chính về đời sống vật
chất và tinh thần của lớp.
- Tổ chức động viên, thăm hỏi những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, ốm
đau, tai nạn...
2. Nhiệm vụ của Bí thư chi Đoàn
Bí thư, phó bí thư, ủy viên ban chấp hành chi đoàn được đại hội chi đoàn
đầu năm bình chọn có nhiệm vụ:
- Nắm bắt và tiếp thu những thông báo, chỉ thị của Đoàn trường để kịp thời
triển khai cho đoàn viên trong chi đoàn thực hiện đầy đủ.
- Thực hiện các cuộc thi tìm hiểu, các phong trào ủng hộ, quyên góp… do
huyện đoàn và đoàn trường phát động.
3. Lựa chọn và phân công nhiệm vụ ban cán sự bộ môn
Ban cán sự bộ môn có vai tró rất quan trọng trong phong trào thi đua học
tập của lớp, những HS trong ban cán sự bộ môn được lựa chọn dựa trên tiêu
chí học tốt bộ môn đó và có tinh thần trách nhiệm được sự tín nhiệm cao của
tập thể lớp.
Nhiệm vụ của ban cán sự bộ môn tổ chức sinh hoạt bộ môn mình trong
15 phút đầu giờ theo sự thống nhất của lớp và sự phân công của GVCN dựa
trên thời khóa biểu lớp học. Ngoài ra ban cán sự bộ môn còn có trách nhiệm
17


giúp đỡ những bạn học yếu, giải đáp những thắc mắc các bạn trong lớp trong
phạm vi môn học mình phụ trác và trong khả năng của mình. Chia sẻ những
kinh nghiệm của bản thân mình về phương pháp học tập,…
4. Chia tổ, chọn tổ trưởng, tổ phó
Việc phân chia tổ một cách cân đối về mọi mặt sẽ tạo động lực thi đua
tốt hơn cho lớp. Tổ trưởng, tổ phó là những người có trách nhiệm quản lí tổ,
giúp tổ học tập, thi đua,…tốt.

TỔ II
HỒNG NHUNG

18

TỔ III
THỊ HƯỜNG

TỔ IV
LƯƠNG KHOA


2

THANH ĐẠT

NGUYÊN KHẢI

TRUNG KIÊN

HOÀNG DIỆU

3

QUỐC KHÁNH

PHƯƠNG TRINH

BÍCH NGỌC


HOÀNG KIM

7

MINH MẠNH

ÂN PHÚC

HÀ LINH

HỒNG LAN

8

THANH BÌNH

THÀNH DƯƠNG

TRUNG TIẾN

NGUYỆT ÁNH

9

NHẬT PHI

TRUNG NGUYÊN

THĂNG TIẾN


NGUYỄN VĂN CƯỜNG
PHAN THỊ NGUYỆT NGA
ĐẶNG HỒNG LAN
HÀ THỊ THÙY LINH
HỒ THỊ HỒNG NHUNG
LÊ NGUYỄN MINH HƯNG
ĐẶNG CAO PHONG

Ngoài những cơ sở: tình trạng sức khỏe của HS (HS thấp ngồi trước, cao
ngồi sau; HS mắt yếu ngồi gần bảng…); nhiệm vụ của ban cán sự lớp (ngồi
phía dưới để dễ quan sát);…Tôi quan tâm đến việc sắp xếp những em có học
lực yếu ngồi cạnh học sinh học khá hơn (mô hình đôi bạn cùng tiến) để các
em có sự chia sẻ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.
SƠ ĐỒ CHỖ NGỒI LỚP 11A4 – NĂM HỌC 2014 – 2015
BẢNG ĐEN
CỬA VÀO

BÀN GIÁO VIÊN

19


TỔ 1
MINH
HƯNG

TỔ 2

TỔ 3



CÔNG
TIẾN

BÍCH
NGỌC

NGỌC
ÁNH

PHÚ
HÙNG

LINH
CHI

ĐỨC
HỮU

VĂN
CƯỜNG

TRUNG
NGUYÊ
N

MẠNH
CƯỜNG

THỊ

LAN

HOÀNG
DIỆU

NHẬT
PHI

CÔNG
TUYỀN

MINH
TRỌNG

THANH
THẢO

THĂNG
TIẾN

CAO
PHONG

NGUYỆT
NGA

2.3.3.2. Phát huy phong trào thi đua học tập của lớp học
* Tâm sự trao đổi về những lợi ích của việc thi đua, động viên tinh thần
thi đua của lớp:
Tôi phân tích để các em thấy vì sao cần phải thi đua và thi đua một cách

Tôi không trách phạt những em chưa mạnh dạn xây dựng bài vì tôi hiểu
các em cần phải có thời gian để khắc phục và tiến bộ, nhưng tôi muốn tuyên
dương những em nhiệt tình để khích lệ tinh thần các em. Tôi cho lớp tổ chức
thi đua theo tuần và tổng kết theo tháng, phối hợp với hội phụ huynh tạo một
quỹ khen thưởng cho phong trào. Phụ huynh lớp tôi rất đồng tình ủng hộ và
vui vẻ. Sau mỗi tháng đến giờ sinh hoạt lớp, đại diện phụ huynh cùng với
GVCN phát quà cho các em, cùng chia sẻ với các em những niềm vui, những
tâm sự của người làm cha mẹ. Tôi nhận ra được ánh mắt các em rất vui khi
được lên nhận những phần quà tuy không lớn những đó là nguồn động viên
các em rất lớn. Nhờ vậy mà phong trào thi đua của lớp đã chuyển mình rất tốt.
Lần đầu tiên lớp đạt tuần học tốt, tôi động viên các em bằng một món
quà (mỗi em được mời một ly nước ở căn tin trường) để khích lệ tinh thần.
Các em vui lắm! Tôi cũng thế. Tôi còn nhớ lần đầu tiên lớp được vị thứ nhất,
đại diện lớp lên nhận cờ thi đua. Lớp trưởng có tâm sự với tôi: Lần đầu tiên
em được lên nhận cờ cô ạ! Tôi đùa: biết thế lớp mình chuẩn bị cho bạn Trọng
một bộ đồ thật đẹp! cả lớp cười vui vẻ, không khí lớp thật thoải mái.
Nhân dịp 20/11, nhà trường phát động phong trào thi đua học tốt trong
hai tuần cao điểm chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam. Lớp tôi vượt lên cả
21


những lớp A1, về vị thứ nhất trong hai lớp nhóm I được đoàn trường chọn để
tuyên dương. Điều này càng có ý nghĩa và giúp các em có động lực hơn trong
học tập.
Khi trao đổi với phụ huynh lớp, tôi cũng nhận được một thông tin rất
đáng mừng: nhờ có sự thi đua mà về nhà các em đã cố gắng rất nhiều, học bài
và chuẩn bị bài rất chu đáo. Nhờ vậy mà chất lượng học tập của lớp được
nâng lên. GVBM rất vui vẻ khi bước vào lớp học, không khí học tập sôi nổi
được thầy cô ghi nhận. Sự ghi nhận của GV cũng là một sự động viên rất lớn
đối với các em. Những thông tin tích cực này tôi đều tâm sự chia sẻ với các

tôi cần tìm hiểu và trao đổi với em. Tôi gặp riêng em và phân tích cho em
hiểu tất cả những lỗi mà em đã gây ra. Thứ nhất vắng học không có lí do là vi
phạm nội quy của trường, của lớp. Em thú thật rằng em đi chơi trốn bố mẹ
nên không xin phép được, tôi chia sẻ với em rằng vắng học ảnh hưởng trước
hết là việc học tập của em, làm bố mẹ đau lòng, thầy cô không vui, ngoài ra vi
phạm còn ảnh hưởng đến sự thi đua của lớp, sự cố gắng của bạn bè. Thứ hai
nói dối với giáo viên, nói dối là điều không tốt, liên quan đến vấn đề hạnh
kiểm của một HS, ảnh hưởng đến đánh giá tiết học của lớp. Đánh nhau là điều
không thể chấp nhận, đặc biệt là bạn bè trong lớp.
Sau buổi gặp gỡ ấy, tôi thấy em có vẻ ân hận và đã xin lỗi tôi và lớp. Tôi
hi vọng em sẽ tiến bộ, nhưng người ta thường hay nói: non sông khó đổi, bản
tính khó dời. Sau đó không lâu, tôi đang ngồi chào cờ thì có tin em đánh nhau
với bạn lớp 11A3 bên cạnh, tôi gọi riêng em ra để hỏi lí do, thực ra không có
chuyện gì lớn chỉ vì tính em hay ngang ngược. Có lẽ em nhìn thấy sự thất
vọng về em trên gương mặt của tôi khi tôi nói với em rằng: Cô rất buồn về
em. Sau tiếng thở dài của tôi, tôi đã nhìn thấy em khóc. Nhìn em tôi vừa
thương vừa giận. Tôi khuyên bảo em và nói rằng thực ra đánh nhau là lỗi mà
cô có thể xét đề nghị nhà trường kỷ luật, nhưng cô không muốn làm thế vì cô
hi vọng có thể giúp em thay đổi. Em hứa trong nước mắt với tôi rằng em sẽ
không bao giờ làm cô buồn nữa. Quả thực từ đó đến hết năm học, em không
còn vi phạm bất cứ một lỗi nào, ngược lại là một học sinh rất năng nổ, ý thức
xây dựng bài tốt. Tôi rất vui vì em đã thay đổi thật sự.
* Trường hợp học sinh học yếu chán học:

23


Em một HS không có ý thức trong học tập, đi học như đi chơi, ngồi học
không chú ý gì bài giảng, không cần biết giáo viên nói gì, lúc nằm gục trên
bàn học, lúc thì nhìn ra ra ngoài trời mà không biết em đang nghĩ gì. Bất cứ

mẫu chuyện, là những lời khuyên các em từ bỏ những trò chơi vô bổ để tập
trung vào việc học, đó mới là điều cha mẹ, thầy cô mong đợi.
Tôi nói chuyện với các em trong không khí gần gũi, các em tâm sự thời
gian các em chơi game. Tôi không khỏi giật mình vì thời gian các em chơi
game quá nhiều. Tôi động viên các em cố gắng tập trung học tập, đừng lãng
phí thời gian vào trò chơi vô bổ ích đó nữa. Tôi thấy có em hơi cuối đầu, có lẽ
các em đã nhận ra những lỗi lầm và ân hận.
Người ta nói: “Mưa dầm thấm đất”, không phải một mà nhiều lần, bằng
sự kiên trì và thiện chí của tôi, tôi đã dần cảm hóa được các em. Các em đã
dần dần tốt hơn. Các em tập trung học tập, kết quả cuối năm phong trào thi
đua của lớp khá tốt, kết quả học tập và rèn luyện các em cũng thế. Tôi thấy
vui và biết rằng những quan tâm chia sẻ và động viên bằng sự yêu thương của
tôi đối với các em đã có tác dụng cảm hóa, giáo dục các em thành người tốt,
điều đó thật có ý nghĩa trong giáo dục.
2.4. Kết quả đạt được
Bằng biện pháp gần gũi, quan tâm, chia sẻ và động viên các em HS còn
những biểu hiện chưa tốt nói riêng và tập thể lớp nói chung, sau một năm học,
lớp đã đạt được những kết quả cuối năm học 2014 – 2015:
- Kết quả xếp loại học tập và hạnh kiểm:
Lớp

11A4

Sĩ số

39

Xếp loại hạnh kiểm
Tốt
Khá

0

Yếu
SL
0

%
0

- Thành tích thi đua:
Đạt bốn tuần học tốt trong năm học; vị thứ nhất trong đợt đoàn trường
phát động phong trào thi đua hai tuần học tốt chào mừng ngày nhà giáo Việt
Nam 20/11; Đạt vị trí thứ ba trong phong trào thi đua học tập trong nhóm I và

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status