BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
DƯƠNG VĂN QUANG
MÃ SINH VIÊN: 1201479
ĐÁNH GIÁ ĐỘC TÍNH TRÊN THẬN VÀ
TRÊN THÍNH GIÁC TRONG ĐIỀU TRỊ
LAO ĐA KHÁNG TẠI 9 CƠ SỞ
TRỌNG ĐIỂM CỦA CHƯƠNG TRÌNH
CHỐNG LAO QUỐC GIA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
HÀ NỘI 2017
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
DƯƠNG VĂN QUANG
MÃ SINH VIÊN: 1201479
ĐÁNH GIÁ ĐỘC TÍNH TRÊN THẬN VÀ
TRÊN THÍNH GIÁC TRONG ĐIỀU TRỊ
LAO ĐA KHÁNG TẠI 9 CƠ SỞ
TRỌNG ĐIỂM CỦA CHƯƠNG TRÌNH
CHỐNG LAO QUỐC GIA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SĨ
Người hướng dẫn:
1. TS. Vũ Đình Hòa
2. ThS. NCS. Nguyễn Thị Thủy
tôi vượt qua giai đoạn vất vả trong suốt 5 năm đại học.
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Sinh viên
Dương Văn Quang
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN .....................................................................................3
1.1. Đại cương về lao đa kháng ................................................................................3
1.1.1. Định nghĩa lao đa kháng ................................................................................3
1.1.2. Tình hình bệnh lao đa kháng ở Việt Nam ......................................................3
1.1.3. Điều trị lao đa kháng .......................................................................................4
1.1.3.1. Các thuốc kháng lao.......................................................................................4
1.1.3.2. Phác đồ trong điều trị lao đa kháng ..............................................................6
1.2. Biến cố bất lợi trên thận và trên thính giác do thuốc lao đa kháng ..............7
1.2.1. Biến cố bất lợi trên thận và trên thính giác ....................................................7
1.2.2. Biến cố trên thận và trên thính giác do thuốc lao đa kháng ........................12
1.2.2.1. Biến cố trên thận và trên thính giác của thuốc lao đa kháng, các biện pháp
xử trí và giám sát biến cố ..........................................................................................12
1.2.2.2. Cơ chế độc tính trên thận và trên thính giác liên quan đến nhóm thuốc tiêm,
các yếu tố ảnh hưởng đến sự xuất hiện độc tính trên thận và trên thính giác ..........14
1.2.2.3. Dữ liệu về biến cố trên thận và trên thính giác ở bệnh nhân điều trị lao đa
kháng thuốc ...............................................................................................................16
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................20
2.1. Đối tượng nghiên cứu .......................................................................................20
2.1.1.Tiêu chuẩn lựa chọn .......................................................................................20
cố trên thận và trên thính giác ..................................................................................38
CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN .......................................................................................40
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADR
Phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reaction)
AE
Biến cố bất lợi (Adverse event)
AKIN
Mạng lưới tổn thương thận cấp (Acute Kidney Injury Network)
Am
Amikacin
BMI
Body-Mass Index
BYT
FQ
Fluoroquinolon
GFR
Tốc độ lọc cầu thận (Glomerular Filtration Rate)
H
Ethambutol
HIV
Virus gây suy giảm miễn dịch ở người (Human Immunodeficiency
Virus)
Km
Kanamycin
Lfx
Levofloxacin
Lzd
Linezonid
(Evaluation of a Standardised Treatment REgimen of
Antituberculosis drugs for patients with Multi-drug resistant
tuberculosis)
TEN
Hoại tử thượng bì nhiễm độc (Toxic Epidermal Necrolysis)
ULN
Giới hạn trên bình thường (Upper Limit of Normal)
WHO
Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)
XDR-TB
Lao siêu kháng (Extensively drug resistant tuberculosis
Z
Pyrazinamid
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1. Phân loại các thuốc điều trị lao theo WHO ...................................................4
Bảng 2. Phân loại tổn thương thận cấp theo RIFLE .................................................10
Bảng 3. Phân loại tổn thương thận cấp theo AKIN ..................................................10
Bảng 4. Phân loại tổn thương thận theo các hướng dẫn điều trị lao tại Việt Nam ...11
Việt Nam đứng thứ 14 trong tổng số 27 nước có gánh nặng bệnh lao đa kháng
(MDR-TB) cao trên toàn cầu [51]. Bên cạnh đó, điều trị lao đa kháng cần thiết phải
sử dụng thuốc tiêm chống lao hàng hai (các kháng sinh aminoglycosid hoặc
capreomycin) [56] và đây cũng là những thuốc cơ bản trong điều trị lao kháng trên
toàn thế giới [39]. Các thuốc lao đường tiêm kết hợp với fluoroquinolon tạo thành
khung xương sống để điều trị bệnh lao đa kháng (MDR-TB) theo khuyến cáo của
WHO [38]. Các thuốc aminoglycosid hoặc capreomycin đã được biết là có liên
quan đến nhiều biến cố bất lợi trong đó đáng kể nhất là biến cố trên thận và trên
thính giác [52] và biến cố này được cho là liên quan đến liều của các thuốc trên
[19]. Ngoài ra, phạm vi điều trị hẹp của aminoglycosid và sự biến đổi lớn về dược
động học của nhóm bệnh nhân lao đa kháng cũng ảnh hưởng đến khả năng xuất
hiện biến cố trên thận và trên thính giác [20]. Biến cố trên thận có thể điều trị cải
thiện được trên bệnh nhân điều trị MDR-TB, tuy nhiên có thể tiến triển thành suy
thận nếu không phát hiện sớm và xử trí kịp thời [52]. Biến cố trên thính giác và tiền
đình thường gây hậu quả nặng nề hơn, có thể dẫn đến tổn thương thính lực không
hồi phục [41]. Do đó, cần theo dõi sớm tình trạng mất thính giác trên bệnh nhân
điều trị MDR-TB nhằm đưa ra các biện pháp xử trí bằng cách ngừng hoặc giảm liều
thuốc nghi ngờ [41].
Tại Việt Nam, trong cơ sở dữ liệu Quốc gia về phản ứng có hại hiện nay, tỷ
lệ báo cáo tính riêng đối với các thuốc điều trị lao đa kháng chỉ ở mức độ thấp, do
vậy, chưa phản ánh được hết các biến cố trên thực tế ở những bệnh nhân điều trị
MDR-TB, trong đó có biến cố trên thận và trên thính giác [5]. Sự khác biệt về các
đặc điểm nhân chủng học và di truyền học của quần thể bệnh nhân Việt Nam nói
riêng và châu Á nói chung đã đặt ra câu hỏi về tần suất, mức độ nghiêm trọng, các
1
yếu tố ảnh hưởng tới biến cố trên thận và trên thính giác ở bệnh nhân điều trị lao đa
kháng tại Việt Nam.
kháng nhiều thuốc, đa kháng thuốc hoặc siêu kháng thuốc). Tại Việt Nam, các
chủng đã kháng rifampicin đã có tới trên 90% có kèm kháng isoniazid nên khi phát
hiện kháng rifampicin, người bệnh được coi như đa kháng thuốc và được thu nhận
điều trị với phác đồ IV [1].
1.1.2. Tình hình bệnh lao đa kháng ở Việt Nam
Lao đa kháng đang trở thành một mối đe dọa lớn đến việc kiểm soát bệnh lao
trên toàn cầu. Mục tiêu lớn của WHO đối với bệnh lao là tới năm 2020 giảm 35%
số ca tử vong do lao và giảm tỷ lệ mắc bệnh lao xuống 20% so với năm 2015 [49].
Việt Nam là một trong số 30 quốc gia có gánh nặng bệnh tật liên quan đến bệnh lao
và lao đa kháng cao nhất trên thế giới. Theo báo cáo của WHO 2016, số lượng ca
lao đa kháng phát hiện trong các ca nhiễm lao mới tại Việt Nam có xu hướng tăng
theo thời gian (khoảng 5% mỗi năm) [49]. Năm 2014, ước tính tỷ lệ mắc lao đa
kháng của Việt Nam vào khoảng 6/100.000 người dân, xếp thứ 21 trên 30 quốc gia
có tỷ lệ này cao nhất. Mặc dù có gánh nặng về bệnh lao đa kháng là khá cao, nhưng
3
số bệnh nhân nhiễm MDR-TB được chẩn đoán và điều trị bằng thuốc hàng hai ít
hơn 20% so với con số ước tính [51].
1.1.3. Điều trị lao đa kháng
1.1.3.1. Các thuốc kháng lao
Các thuốc chống lao được phân chia dựa trên hiệu quả, kinh nghiệm sử dụng,
độ an toàn và họ dược lý của thuốc, tạo thuận lợi cho việc thiết kế phác đồ điều trị
lao đa kháng [52]. Phân loại các thuốc điều trị lao theo phân loại của WHO được
trình bày trong bảng 1.
Bảng 1. Phân loại các thuốc điều trị lao theo WHO [1], [2], [52]
Thuốc
Nhóm
lao hàng hai thiếu dữ liệu về
(Cfz); linezolid (Lzd); amoxicilin/clavulanat
hiệu quả và độ an toàn (bao
(Amx/Clv); thioacetazon (T); imipenem/cilastatin
gồm các thuốc lao mới)
(Ipm/Cln); meropenem (Mpm); isoniazid liều cao
(high-dose H); clarithromycin (Clr)
Nhóm 1: Những thuốc thuộc nhóm này có hiệu quả cũng như sự dung nạp
tốt nhất. Pyrazinamid là một trong các thuốc được xem xét trước tiên trong điều trị
lao đa kháng. Bệnh lao là một bệnh viêm phổi mạn tính, mà pyrazinamid có hiệu
quả trong môi trường viêm này, nên pyrazinamid có thể được sử dụng lâu dài trong
suốt quá trình điều trị [7]. Tỷ lệ xuất hiện phản ứng nghiêm trọng do pyrazinamid
được ghi nhận là 2,8% nhưng pyrazinamid vẫn được đánh giá có lợi vượt trội hơn
4
so với nguy cơ trong phác đồ điều trị MDR-TB, trừ khi có chống chỉ định hoặc
nguy cơ rõ ràng về độc tính. Thuốc lưu ý thứ hai là ethambutol có thể gây ra độc
tính trên thị giác, phản ứng này khó phát hiện ở trẻ nhỏ và cần thận trọng khi sử
dụng thuốc trên bệnh nhân có suy giảm chức năng thận [50].
Nhóm 2: Mọi bệnh nhân đều nên sử dụng một thuốc trong nhóm này trong
giai đoạn điều trị tấn công, trừ khi đã có sự ghi nhận rõ ràng hoặc nghi ngờ cao về
kháng thuốc. Kanamycin, amikacin hoặc capreomycin đều là sự lựa chọn đầu tay
nếu các thuốc này có tác dụng [52]. Kanamycin và amikacin có tác dụng tương
trị MDR-TB. Mặc dù đã được chứng minh hiệu quả trên động vật hay trong phòng
thí nghiệm, mức độ bằng chứng về tác dụng và độ an toàn của những thuốc này còn
nhiều hạn chế. Bedaquilin và delamanid là hai thuốc mới được đưa vào điều trị
trong những năm gần đây và vẫn trong giai đoạn thử nghiệm pha III để được đánh
giá lại về hiệu quả và an toàn trong phác đồ điều trị lao đa kháng. Ngoài bedaquilin
và delamanid, các thuốc khác chưa được chính thức phê duyệt cho việc điều trị
MDR-TB [52]. Linezolid có thể gây ra các phản ứng nặng và đe dọa tính mạng như
rối loạn huyết học (thiếu máu, giảm tiểu cầu), đòi hỏi phải đánh giá lợi ích - nguy
cơ trước khi sử dụng thuốc này. Một trong những phản ứng có hại chính của
clofazimin là làm biến màu da, mặc dù không dẫn đến ngừng thuốc nhưng có thể
gây mặc cảm và e ngại cho bệnh nhân. Thioacetazon bị hạn chế sử dụng vào những
năm 1990 do các phản ứng trên da nghiêm trọng như hội chứng Stevens – Johnson
và hoại tử thượng bì nhiễm độc (TEN) [52].
1.1.3.2. Phác đồ trong điều trị lao đa kháng
Tại Việt Nam, chương trình chống lao sử dụng hai phác đồ chuẩn hóa kí hiệu
là IV(a) và IV(b) để điều trị lao đa kháng [4].
Phác đồ chuẩn IV(a): Z E Km Lfx Pto Cs (PAS)/ Z E Lfx Pto Cs (PAS)
Sử dụng đối với những bệnh nhân thất bại phác đồ I và II
Giai đoạn tấn công: Tối thiểu 6 tháng vì phải kéo dài ít nhất 4 tháng kể từ
khi cấy đờm âm tính (ước tính trung bình 8 tháng), dùng hàng ngày 6 loại thuốc bao
gồm: pyrazinamid, ethambutol, kanamycin, levofloxacin, prothionamid và
6
cycloserin (đối với những bệnh nhân không dung nạp được Cs thì thay thế bằng
PAS).
Giai đoạn củng cố: Kéo dài ít nhất 12 tháng từ khi cấy đờm âm tính, uống 5
loại thuốc hàng ngày bao gồm pyrazinamid, ethambutol, levofloxacin, prothionamid
và cycloserin (không có thuốc tiêm trong giai đoạn này).
- Tại thận (làm hoại tử ống thận cấp hoặc viêm thận kẽ cấp hoặc hoại tử nhú
thận).
Trong nhiều trường hợp, các đặc điểm lâm sàng của tổn thương thận do
thuốc gây ra tương tự như các bệnh thận tự phát, và thuốc cũng có thể làm nặng
thêm tình trạng suy thận hoặc tổn thương thận trước đó (thường được gọi là suy
thận cấp tính hoặc mạn tính) [44].
Viêm cầu thận (cấp tính hoặc mạn tính)
Nhiều loại thuốc có liên quan đến sự xuất hiện viêm cầu thận. Hầu hết các
dạng viêm cầu thận đều có liên quan đến cơ chế miễn dịch. Có hai hội chứng có thể
phân biệt bao gồm hội chứng hoại tử cấp và hội chứng thận hư. Hội chứng hoại tử
cấp thường có máu, các tế bào hồng cầu, giảm chức năng thận và gây protein niệu.
Hội chứng thận hư (phù nề, protein niệu nặng), thường mất chức năng thận. Viêm
cầu thận là một bệnh thận có đặc điểm viêm, xơ cứng hoặc có những thay đổi bệnh
lý khác trong cầu thận. Nó có thể là cấp tính, mạn tính hoặc tiến triển nhanh. Chẩn
đoán đặc hiệu của viêm cầu thận là sinh thiết thận. Chẩn đoán viêm cầu thận dựa
trên đánh giá lâm sàng của các triệu chứng sau đây là chỉ số quan trọng: có máu,
protein niệu, tốc độ lọc cầu thận giảm (tăng creatinin huyết thanh hoặc giảm độ
thanh thải creatinin) [44].
Suy thận
Thuốc có khả năng dẫn đến suy thận, có thể là cấp tính (diễn ra trong vài giờ
hoặc vài ngày), bán cấp (trong vài tuần), hoặc mạn tính (trong vài tháng hoặc vài
năm). Thuốc cũng có thể làm nặng thêm tình trạng suy thận nếu bệnh nhân có tổn
thương thận trước đó. Suy thận thường được phát hiện khi tăng nồng độ creatinin
huyết thanh hoặc nồng độ ure huyết thanh, liên quan đến giảm độ thanh thải
creatinin. Suy thận dẫn đến suy giảm chức năng bài tiết của thận, đặc trưng bởi sự
giảm độ thanh thải creatinin huyết thanh. Suy thận thường tiến triển trên những
8
bệnh nhân có tiền sử suy thận trước đó, cụ thể tăng nồng độ creatinin huyết thanh
Bảng 2. Phân loại tổn thương thận cấp theo RIFLE [28]
Phân loại
Nồng độ creatinin huyết thanh
Thể tích nước tiểu
hoặc tốc độ lọc cầu thận (GFR)
R (Risk) – Mức
nguy cơ
I (Injury) – Mức
tổn thương
Giảm < 0,5 ml/kg/h x 6 h
thanh trên 1,5 lần
hoặc GFR giảm > 25%
Tăng nồng độ creatinin huyết
thanh trên 2 lần
Giảm < 0,5 ml/kg/h x 12 h
hoặc GFR giảm ≥ 50%
F (Failure) – Suy
thận
Tăng nồng độ creatinin huyết
Thể tích nước tiểu
1
Tăng nồng độ creatinin huyết thanh ≥ 0,3 mg/dl < 0,5 ml/kg/h trong > 6 h
hoặc tăng ≥ 50-199%
2
Tăng nồng độ creatinin huyết thanh
> 200-300% (2-3 lần)
< 0,5 ml/kg/h trong 12 h
3
Tăng nồng độ creatinin huyết thanh > 4 mg/dl,
kèm tăng cấp > 0,5 mg/dl hoặc tăng > 300%
< 0,3 ml/kg/h trong 24 h
Vô niệu x 12 h
10
Tại Việt Nam, phân loại tổn thương thận theo hướng dẫn chẩn đoán, điều trị
và dự phòng bệnh lao của BYT năm 2015 và hướng dẫn quản lý biến cố bất lợi
trong điều trị lao đa kháng thuốc của Chương trình Chống Lao Quốc gia
(CTCLQG) năm 2015 trình bày trong bảng 4.
> 6,0 lần
giới hạn
bình thường
giới hạn
bình thường
giới hạn
bình thường
giới hạn
bình thường
Hướng dẫn
1,1 đến 1,3 x
> 1,3 đến 1,8
> 1,8 đến
cả bệnh nhân tham gia đo thính lực đồ. Mất thính giác thường liên quan đến tần số
và biên độ. Thính giác của con người thường trong khoảng 20 Hz – 20000 Hz. Biên
độ âm thanh (thể hiện bằng decibel (dB)) đánh giá mức độ mất thính giác trên bệnh
nhân [41].
Bảng 5. Phân loại mức độ nặng của biến cố trên thính giác [2]
Thông số
Mức độ 1
Mức độ 2
Mức độ 3
Nhạy cảm với
25-40 dB HL
41-70 dB HL
71-90 dB HL
Mức độ 4
>90 dB HL
âm thanh
1.2.2. Biến cố trên thận và trên thính giác do thuốc lao đa kháng
1.2.2.1. Biến cố trên thận và trên thính giác của thuốc lao đa kháng, các biện pháp
xử trí và giám sát biến cố
Độc tính trên thận là một biến cố bất lợi điển hình của thuốc lao đường tiêm
(các kháng sinh aminoglycosid và capreomycin). Thời điểm tối ưu để xác định nồng
ngờ
1. Ngừng thuốc nghi ngờ.
2. Cân nhắc sử dụng capreomycin nếu một aminoglycosid đã được
dùng trước đó trong phác đồ.
3. Cần tìm hiểu các nguyên nhân gây suy thận (thuốc chống viêm
Độc
S,
tính
Km,
trên
Am,
thận
Cm
không steroid, đái tháo đường, các thuốc dùng đồng thời, mất
nước, suy tim sung huyết, tắc nghẽn đường tiết niệu…).
4. Theo dõi chặt chẽ mức creatinin và điện giải 1-2 lần/tuần.
5. Nếu không thể thay thế được các thuốc tiêm hoặc người bệnh có
thể dung nạp được, có thể giãn liều 2-3 lần/tuần và theo dõi chặt
chẽ creatinin. Nếu creatinin tiếp tục tăng mặc dù đã giãn liều thì
cần dừng thuốc tiêm vĩnh viễn.
6. Hiệu chỉnh liều thuốc lao đa kháng dựa vào độ thanh thải
creatinin của bệnh nhân.
1. Đo thính lực và so sánh với thính lực đồ chuẩn (thường mất
thính lực tần số cao trước ở hầu hết bệnh nhân khởi đầu điều trị
lao).
S,
Giảm
Km,
thính
Am,
lực
Cm,
Clr
2. Nếu xuất hiện các triệu chứng sớm của mất thính lực, nên giãn
liều thuốc tiêm 2-3 lần/tuần. Cũng xem xét sử dụng capreomycin
thay thế cho aminoglycosid trong phác đồ.
3. Ngừng thuốc tiêm nếu tình trạng mất thính lực tiến triển xấu đi
dù đã hiệu chỉnh liều; thay thế bằng một thuốc chống lao khác vào
phác đồ. Khi không còn thuốc để thay thế thì cần trao đổi với
người bệnh về khả năng mất thính lực nếu tiếp tục điều trị. Tiếp
tục sử dụng thuốc tiêm trong trường hợp này thường dẫn đến tình
trạng mất thính lực vĩnh viễn, đôi khi là điếc hoàn toàn.
Chú thích: thuốc in đậm có tần suất xuất hiện cao hơn so với cỡ chữ thường.
1.2.2.2. Cơ chế độc tính trên thận và trên thính giác liên quan đến nhóm thuốc tiêm,
Streptomycin: Độc tính trên thận ít hơn so với amikacin. Độc tính trên thính
giác (mất thính lực) và rối loạn tiền đình tăng theo tuổi cao cũng như sử dụng thuốc
kéo dài [52].
Kanamycin: Độc tính trên thận xuất hiện với tần suất nhiều hơn so với
streptomycin. Độc tính trên thính giác (mất thính lực) và rối loạn tiền đình tăng theo
tuổi cao và sử dụng thuốc kéo dài; độc tính trên tiền đình – thính giác của
kanamycin diễn ra thường xuyên hơn so với streptomycin và gần bằng với amikacin
nhưng rối loạn tiền đình của kanamycin ít hơn so với amikacin [52].
Amikacin: Thường gặp là độc tính trên thận, độc tính trên thính giác (mất
thính lực), rối loạn tiền đình (hoa mắt, chóng mặt). Các độc tính trên tăng khi tuổi
cao và sử dụng thuốc kéo dài [52].
Kháng sinh polypeptid
Megalin - một glycoprotein có mặt trong một số tế bào biểu mô bao gồm ống
thận và biểu mô trong tai, có khả năng tóm bắt chọn lọc thuốc thông qua thụ thể
megalin ở diềm bàn chải và hệ vận chuyển polypeptid làm tích lũy capreomycin gây
ra độc tính trên thận và trên thính giác [36].
15
Capreomycin: Chi phí điều trị bằng capreomycin cao hơn so với amikacin và
kanamycin, do đó, capreomycin chỉ được sử dụng ở một số bệnh nhân MDR-TB có
biểu hiện kháng amikacin và kanamycin [20]. Độc tính trên thận của capreomycin
bao gồm protein niệu, giảm độ thanh thải creatinin, mất ion kali và magie. Độc tính
trên thính giác (mất thính lực) thường xảy ra ở người cao tuổi hoặc những người có
tiền sử suy thận hay tiền sử bệnh thính giác [52].
1.2.2.3. Dữ liệu về biến cố trên thận và trên thính giác ở bệnh nhân điều trị lao đa
kháng thuốc
Trên thế giới, biến cố trên thận và trên thính giác được ghi nhận ở một tỷ lệ
nhất định ở bệnh nhân lao đa kháng trong quá trình điều trị MDR-TB. Bảng 7 liệt
1,0% - 61,5%
14% (10,8% - 18,0%)
Đối với độc tính trên thận, một nghiên cứu tiến hành tại Latvia trên 1027
bệnh nhân trong giai đoạn 2000-2004 cho thấy số bệnh nhân có suy giảm chức năng
thận chiếm 4,3% [15]. Còn nghiên cứu tại Tomk, Russia từ năm 2000 đến 2002 trên
244 bệnh nhân ghi nhận 9,8% bệnh nhân có độc tính trên thận [43].
Về độc tính trên thính giác, một nghiên cứu diễn ra từ năm 2012 đến 2014 tại
Ấn Độ đã ghi nhận 18 bệnh nhân có độc tính trên thính giác trong tổng số 100 bệnh
nhân điều trị MDR-TB, trong đó 13 bệnh nhân bị mất thính lực hai bên và 5 bệnh
nhân mất thính lực một bên [42].
Nhiều nghiên cứu ghi nhận cả hai độc tính trên thận và trên thính giác với
các tỷ lệ khác nhau. Cụ thể, một nghiên cứu tiến hành tại Namibia trên 59 bệnh
nhân mắc lao đa kháng được điều trị bằng phác đồ thuốc lao hàng hai từ năm 2008
16