Lời cảm ơn
Sau hơn 4 năm học tập, rèn luyện tại trường và thực tập tốt nghiệp tại
cơ sở, nay em đã hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp.
Nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết ơn sự kính trọng sâu sắc tới:
Ban chủ nhiệm Khoa Chăn Nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên.
Ban lãnh đạo, Cán bộ xã Sơn Cẩm huyện Phú Lương.
Cùng tập thể các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
đã tạo mọi điều kiện cho em hoàn thành bản khóa luận này.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn
tận tình của thầy giáo hướng dẫn:
Ts Nguyễn Đức Hùng trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành
bản khóa luận tốt nghiệp này.
Thái Nguyên, ngày 02 tháng 03 năm 2011
Sinh viên
Trương Thị Ngọc Mai
Lời nói đầu
Thực tập tốt nghiệp là một khâu quan trọng và không thể thiếu được
trong chương trình đào tạo của các trường đại học nói chung và trường đại
học Nông Lâm nói riêng. Đây là thời gian cần thiết để sinh viên củng cố, áp
dụng những kiến thức đã học vào thực tế, rèn luyện tay nghề, nâng cao kiến
thức chuyên môn, học tập phương pháp nghiên cứu khoa học, đồng thời đây
là thời gian để sinh viên tự hoàn thiện mình, trang bị cho bản thân những
kiến thức về phương pháp quản lý, những hiểu biết xã hội để khi ra trường
trở thành một cán bộ khoa học kỹ thuật có kiến thức chuyên môn vững vàng
và có năng lực trong công tác.
Được sự nhất trí của nhà trường và ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi -
Thú y trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự phân công của thầy
giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
+ Mùa mưa: Kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, nhiệt độ dao động từ 21 -
36
0
C, độ ẩm từ 80 -86%, lượng mưa trung bình 150mm/ tháng và tập trung
nhiều vào tháng 6, 7, 8. Nhìn chung khí hậu vào mùa mưa thuận lợi cho sản
xuất nông nghiệp. Tuy nhiên trong chăn nuôi những tháng này cần phải chú
ý đến công tác tiêm phòng đề phòng dịch bệnh xảy ra trên đàn gia súc, gia
cầm, gây thiệt hại cho sản xuất.
+ Mùa khô: Kéo dài từ tháng 11 dến tháng 4 năm sau, thời gian này khí
hậu thường lạnh, khô hanh sự dao động nhiệt độ trong ngày lớn ( từ 13,7
0
C –
24
0
C), có ngày giảm xuống còn 8 – 10
0
, độ ẩm trung bình 76 – 78%. Ngoài
ra trong mùa đông còn chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, giá rét và
sương muối kéo dài từ 6 – 10 ngày gây ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng,
phát triển và sức chống đỡ bệnh của cây trồng, vật nuôi.
* Địa hình đất đai
3
3
Xã Sơn Cẩm có diện tích tương đối lớn, toàn xã có diện tích 17 Km
2
( 1.682 ha). Trong đó:
- Diện tích đất nông nghiệp là 597 ha
- Diện tích đất ở 295 ha
- Diện tích đất lâm nghiệp 387 ha
- Ngoài ra trong xã còn có nhiều khu tiểu thủ công nghiệp. Còn lại là
mạnh, điều kiện học sinh học tập ngày càng tốt hơn. Làm tốt công tác
khuyến học khuyến tài.
- Về an ninh chính trị
Xã có đội ngũ dân quân, an ninh từng bước nâng cao về chất lượng.
Đẩy mạnh công tác phối hợp giữa hai lực lượng trong việc tuần tra canh gác,
đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, duy trì chế độ trực ban. Lập và làm kế
hoach hoạt động ký kết giữa hai lực lượng về đảm bảo an ninh trật tự giữa
Công an và Quận sự. Năm 2008 tổ chức tập huấn dân quân cho 121 đồng
chí, tổ chức diễn tập TA/08 đạt kết quả. Phối hợp với các đoàn thể ban
Phòng chống tội phạm – Tệ nạn xã hội tổ chức 03 buổi tuyên truyền tại xóm
Hiệp Lực, Cao Sơn 3 và Cao Sơn 2. Nói chung tình hình an ninh chính trị,
trật tự an toàn xã hội trên địa bàn cơ bản ổn định.
*Tình hình kinh tế
Xã Sơn Cẩm có cơ cấu kinh tế đa dạng, nhiều thành phần kinh tế cùng
hoạt động: nông – Công nghiệp, Lâm nghiệp và dịch vụ, tạo mối quan hệ
hữu cơ hỗ trợ thúc đẩy nhau. Tuy vậy sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm hơn
50% bao gồm cả nghành trồng trọt và chăn nuôi. Đối với sán xuất nông
nghiệp năm 2008 năng suất bình quân đạt 51,7 tạ/ha, tổng sản phẩm lương
thực có hạt đạt; 2652,6 tấn. Chăn nuôi với quy mô nhỏ mang tinh chất tận
dụng là chủ yếu.
Trong những năm gần đây, cơ sơ hạ tầng của xã được chú ý đầu tư phát
triển, đặc biệt là hệ thống giao thông thủy lợi tạo điều kiện nhân dân đi lại,
làm ăn… thúc đẩy kinh tế của xã phát triển.
1.1.3. Tình hình sản xuất nông nghiệp
* Ngành trồng trọt
Ngành trồng trọt đóng vai trò quan trọng là nguồn thu chủ yếu của
nhân dân. Do vậy sản phẩm của ngành trồng trọt được người dân quan tâm
và phát triển. Cây nông nghiệp chủ yếu và là cây trồng mũi nhọn trên địa bàn
của xã là cây lúa với diện tích trồng khá lớn (280 ha). Để nâng cao hiệu quả
5
sản phẩm phụ của ngành trồng trọt, nên thức ăn cung cấp cho trâu bò chưa
thật đầy đủ cả về số lượng và chất lượng. Việc dự trữ thức ăn cho trâu bò vào
vụ đông chưa được quan tâm đầy đủ, vì vậy về mùa đông trâu bò thường có
sức khỏe kém nên hay mắc bệnh. Chuồng trại và công tác vệ sinh chưa được
chú trọng, từ đó trâu bò thường xuyen bị mắc các bệnh ký sinh trùng và một
số bệnh khác.
6
6
- Chăn nuôi lợn
Việc chăn nuôi lợn chủ yếu là chăn nuôi hộ gia đình với số lượng ít.
Thức ăn sử dụng cho chăn nuôi lợn chủ yếu là tận dụng phế phụ phẩm của
ngành trồng trọt như: ngô, khoai, sắn… vì vậy năng suất chăn nuôi lợn chưa
cao. Tuy nhiên có một số hộ gia đình mạnh dạn đầu tư vốn cho chăn nuôi,
biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như công tác thú y vào chăn
nuôi như: sử dụng các loại thức ăn hỗn hợp ngoài thị trường để rút ngắn thời
gian chăn nuôi cũng như tăng năng suất, chú trọng hơn vào công tác vệ sinh,
chọn giống cũng như phòng bệnh cho vật nuôi đem lại hiệu quả kinh tế cao
cho người chăn nuôi. Tổng sản lượng thịt hơi các loại năm 2008 là 880 tấn.
- Chăn nuôi gia cầm
Nhìn chung chăn nuôi gia cầm ở xã Sơn Cẩm khá phát triển, chủ yếu là
chăn nuôi gà theo hình thức chăn thả tự nhiên. Bên cạnh đó có một số hộ gia
đình đã đầu tư vốn xây dựng trang trại quy mô từ 3.000 – 8.000 gà thịt/ lứa,
sử dụng thức ăn hỗn hợp của một số công ty như: C.P, DaBaCo… áp dụng
lịch tiêm phòng vaccine phòng bệnh nghiêm ngặt, ngoài ra còn áp dụng các
biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên đã đưa năng suất lên cao.
Trong năm 2008 Xã đã thực hiện tiêm phòng cúm cho đàn gia cầm tổng 3
lần tiêm được 64.239 lượt con. Tổ chức phun thuốc khử trùng tiêu độc trên
địa bàn toàn xã, khống chế các loại dịch bệnh, không để xảy ra dịch bệnh
trên địa bàn.
* Công tác thú y
tế trọng điểm có trình độ phát triển tương đối cao.
Xã rất nhiều tài nguyên thiên nhiên gồm các loại nguyên liệu nông lâm
sản, quặng, than…
Xã tiếp giáp với một vùng trung tâm đào tạo và khoa học lớn của vùng
núi đó là thành phố Thái Nguyên và các trung tâm công nghiệp Sông Công
cách thành phố khoảng 30km về phía Hà Nội.
Với những điều kiện này, xã có thể gửi cán bộ kỹ thuật đi đào tạo tại
các trường trung tâm dạy nghề để về phục vụ cho xã. Ngoài ra với kết cấu hạ
tầng ngày càng hoàn thiện, gắn với vùng kinh tế trọng điểm phía bắc với các
tỉnh vùng núi phía Bắc nên thu hút rất nhiều dự án đầu tư trong và ngoài
nước tạo điều kiện cho nền kinh tế của xã phát triển, cũng như việc tiếp cận
khoa học kỹ thuật của xã thuận lợi hơn.
1.1.4.2. Khó khăn
- Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển chưa đồng bộ, nhiều nơi còn ở
tình trạng yếu kém, hạn chế khả năng thu hút đầu tư vào địa bàn hoặc không
khuyến khích đầu tư trong dân.
8
8
Sản xuất nông nghiệp trong xã vẫn là chủ yếu, năng suất lao động xã
hội thấp, khả năng tích lũy không đáng kể.
- Không có khu vực vành đai, vùng đệm, nên công tác phòng bệnh còn
gặp nhiều khố khăn.
- Đất đai bạc màu, nghèo chất dinh dưỡng và khí hậu của một số tháng
trong năm không thuận lợi nên việc sản xuất còn gặp nhiều khó khăn.
- Các cơ sở tiểu thủ công nghiệp được hình thành từ lâu nên thiết bị
công nghệ quá cũ và lạc hậu, sản phẩm còn hạn chế. Các mỏ than khai thác
từ lâu, hầu như đã cạn kiệt, khó khai thác.
- Xã thiếu nhiều lao động có tay nghề cao, các nhà quản lý kinh doanh
có chuyên môn giỏi, có trình độ đáp ứng những thách thức gay gắt của nền
kinh tế thị trường.
1.2.3. Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Trong quá trình thực tập tại xã Sơn Cẩm huyện Phú Lương, được sự
giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn và cán bộ xã cũng như công nhân
viên của trại, cùng với sự nỗ lực của bản thân. Tôi đã có được những kinh
nghiệm quý báu và đạt được một số kết quả như sau:
* Công tác chăn nuôi
- Công tác chuẩn bị chuồng trại nuôi gà.
Trước khi nhận gà vào nuôi, chuồng đã được để trống từ 12 – 15 ngày,
chuồng được quét dọn sạch sẽ bên trong và bên ngoài, hệ thống cống rãnh
thoát nước, nền chuồng, vách ngăn được quét vôi. Sau đó được tiến hành
phun thuốc sát trùng bằng dung dịch Farmsafe với nồng độ 1:200.
Tất cả các dụng cụ chăn nuôi như: khay ăn, máng ăn, máng uống… đều
được cọ rửa sạch sẽ, ngâm thuốc sát trùng Farmsafe trong vòng 20 phút với
tỷ lệ 1:200 và phơi nắng trước khi vào chuồng nuôi.
- Công tác chọn giống
Do cơ sở là nông hộ nuôi gia công già cho công ty Dabaco, nên công
tác chọn giống chủ yếu do cán bộ kỹ thuật đảm nhiệm. Con giống phải khỏe
mạnh, nhanh nhẹn, mắt sáng, lông mượt, chân bóng, không hở rốn, khoèo
chân, vẹo mỏ, đảm bảo trọng lượng trung bình lúc mới nhập chuồng là 40
-45 gam.
- Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Tùy theo từng giai đoạn phát triển của gà mà ta áp dụng quy trình nuôi
dưỡng cho phù hợp.
10
10
+ Giai đoạn úm gà con: Trước khi nhập gà ta phải pha nước uống cho
gà. Nước uống phải sạch và pha đường Glucozo 5%, nhóm bếp than và bật
đèn Gas cho nhiệt độ trong chuồng ấm trước khi gà về 1 tiếng để đảm bảo
nhiệt độ cho gà. Khi nhập gà chúng tôi tiến hành cho gà con vào quây và thả
gà vào các khay đã đổ nước trước để gà tập uống nước. Cho gà uống hết lượt
- Công tác phòng bệnh cho đàn gà
Trong chăn nuôi công tác phòng dịch bệnh rất quan trọng, nó là yếu tố
quyết định đến hiệu quả chăn nuôi. Do vậy, trong quá trình chăn nuôi, chúng
tôi cùng với cán bộ kỹ thuật công nhân viên của trại thường xuyên quét dọn
11
11
chuồng trại, khai thông cống rãnh, phát quang bụi rậm, phun thuốc sát trùng,
tẩy uế máng ăn, máng uống, cũng như phải sát trùng giầy dép trước khi vào
chuồng gà. Trước khi vào chuồng cho gà ăn, uống phải thay bằng quần áo
lao động được giặt sạch. Gà nuôi ở trại được sử dụng thuốc phòng bệnh theo
lịch trình sau.
- Phòng bệnh bằng vaccine
Phòng vaccine cho đàn gia cầm để có miễn dịch chủ động đảm bảo an
toàn trước dịch bệnh. Trước và sau khi sử dụng vaccine 1 ngày không được
dùng nước có pha thuốc khử nước để tránh làm ảnh hưởng đến chất lượng
của vaccine mà cho gà uống nước đường Glucoza và vitamine để tăng cường
sức đề kháng cho gà. Vaccine được pha để nhỏ mắt,mũi hay uống tùy thuộc
vào phương pháp sử dụng do nhà sản xuất vaccine khuyến cáo.
Chúng tôi sử dụng vaccine phòng bệnh cho đàn gà theo lịch phòng
bệnh như sau:
Ngày
tuổi
Loại vaccine Phương pháp dùng
7 Ma5+clone30 (ND+IB) Nhỏ 1 giọt vào mắt
14 CevacIBDL(Gumboro lần1) Nhỏ 1 giọt vào mồm
18 Gumboro D78 (lần 2) Pha vào nước cho uống
21 ND avinew+ IB H120 Pha vào nước cho uống
Trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, chúng tôi luôn theo dõi tình hình
sức khỏe của đàn gà để chẩn đoán, phát hiện bệnh và có những hướng điều
trị kịp thời. Trong thời gian thực tập chúng tôi thường gặp một số bệnh như
nhẹ cân; chúng trở thành nguồn truyền nhiễm.
- Bệnh tích: Bệnh tích điển hình tập trung ở niêm mạc đường tiêu hóa.
Bệnh tích ở diều rất điển hình: niêm mạc diều phủ nhiều niêm dịch màu
trắng sữa, dưới lớp dịch nhờn là những điểm trắng rải rác khắp xen kẽ với
những điểm xuất huyết. Bệnh có thể lan đến túi hơi làm vỡ túi hơi. Bệnh lan
đến dạ dày và ruột làm cho dạ dày, ruột chứa nhiều dịch nhờn màu trắng, đôi
chỗ có tụ máu xuất huyết.
- Điều trị: dùng dung dịch sulfat đồng 1gam/2lít, hoặc cho uống
Gentaviolet liều dung là 80ml+100lít nước cho uống 2 tiếng rồi đổ bỏ.
* Bệnh cầu trùng
- Nguyên nhân:
+ Là bệnh do ký sinh trùng Eimeria gây ra. Gây bệnh ở gà có 9 loại cầu
trùng khác nhau. Tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất ở giai đoạn từ 15 – 45 ngày tuổi.
+ Bệnh xảy ra quanh năm nhưng nặng nhất là vào vụ xuân hè khi thời
tiết nóng ẩm.
13
13
- Triệu chứng thường gặp ở 2 thể:
+ Cầu trùng manh tràng: Gà bệnh ủ rũ, bỏ ăn, uống nhiều nước, phân
lỏng lẫn máu tươi hoặc có màu sôcôla; mào, chân nhợt nhạt ( do thiếu máu );
có thể chết hàng loạt nếu không điều trị kịp thời.
+ Cầu trùng ruột non: Gà ủ rũ xù lông, cánh sã, chậm chạp ỉa chảy,
phân màu đen như bùn, đôi khi có lẫn máu, gà gầy chậm lớn, chết rải rác có
màu.
- Bệnh tích: Ruột non sưng phồng, bên trong có nhiều dịch nhầy lẫn
máu và fibrin, bề mặt niêm mạc có những đốm trắng xám.
- Điều trị: Avicoc 1gam/lít nước, cho uống 3 – 5 ngày, và để chống
chảy máu có thể kết hợp cho uống thêm Vitamin K, hoặc cho uống Coxiclin;
thành phần chính là Toltrazuril 2,5%, liều điều trị 1ml/1 lít nước.
* Bệnh CRD
- Thịt những con gà không đủ trọng lượng quy định của công ty để bán.
- Đóng phân gà vào bao ( khi gà đã xuất chuồng ).
- Nhổ cỏ khu vưc xung quanh chuồng trại.
- Phụ giúp gia đình chẻ mai, tre để chuẩn bị xây thêm trại mới.
* Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Sau 5 tháng thực tập tại nông hộ thuộc xã Sơn Cẩm huyện Phú Lương,
tôi đã tham gia và hoàn thành được một số công tác phục vụ sản xuất đã đề
ra. Kết quả của công tác này được thể hiện tổng quát qua bảng dưới đây:
Bảng 1.1: Kết quả công tác phục vụ sản xuất
Nội dung công việc Số lượng
(con)
Kết quả
An
toàn/khỏi
( con )
Tỷ lệ (%)
1. Nuôi dưỡng chăm sóc
- Đàn gà thịt Ross 308 6 .000 5.784 96,4
2. Phòng bệnh
- Nhỏ vaccine Newcastle 6.000 6.000 100
- Nhỏ vaccine Gumboro 5.976 5.976 100
-Cho uống vaccine Gumboro 5.864 5.864 100
15
15
- Cho uống vaccine ND-IB 5.845 5.845 100
- Cho uống thuốc tím 5.812 5.812 100
3. Điều trị bệnh
- Bệnh cầu trùng 362 349 96,40
- Bệnh CRD 5.879 5.731 97,48
4. Công tác khác
nên kết quả thu được chưa cao.
- Các kiến thức được học tập và rèn luyện ở nhà trường chưa thể vận
dụng hết vào thực tiễn sản xuất.
- Tay nghề chưa cao, đôi khi chưa mạnh dạn trong công việc.
- Qua thời gian thực tập tôi thấy từ kiến thức sách vở vận dụng vào
thực tế sản xuất là một quá trình dài, do vậy tôi nhận thấy mình cần phải học
hỏi nhiều hơn, cố gắng rèn luyện để vươn lên, khắc phục những khó khăn và
sai sót của bản thân.
17
17
Phần 2
CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài: “Điều tra tình hình cảm nhiễm bệnh cầu trùng và bệnh
hô hấp mãn tính (CRD) trên gà thịt Ross - 308 nuôi trong nông hộ thuộc
xã Sơn Cẩm, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và xác định hiệu lực
điều trị bệnh CRD của hai lọai thuốc Tyloguard và Enrofloxacin. ”
2.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam là một nước đang phát triển, có trên 79% dân số sống bằng sản
xuất nông nghiệp, trong đó chăn nuôi chiếm một vị trí hết sức quan trọng.
Những năm gần đây ngành chăn nuôi nước ta nói chung và nghành chăn nuôi
gia cầm nói riêng đã và đang có xu hướng phát triển rõ rệt cả về số lượng và
chất lượng, mang lại nguồn thực phẩm cho con người. Ở nước ta hiện nay
việc chăn thả gia cầm tự nhiên (nuôi quảng canh) đang có xu hướng thu hẹp.
Nhiều nơi, nhiều hộ gia đình đã chuyển sang hướng nuôi công nghiệp (tập
trung, thâm canh).
Đứng thứ hai về cung cấp lượng thực phẩm sau thịt lợn, thời gian quay
vòng vốn nhanh, lại tận dụng sản phẩm từ ngành trồng trọt, nên ngành chăn
nuôi gia cầm ngày càng trở thành mũi nhọn phát triển nông nghiệp ở nước ta.
Theo số liệu thống kê năm 2007, tổng số đàn gia cầm ở nước ta đạt 226 triệu
con, trong đó gà đạt 157,96 triệu con. Để đạt được hiệu quả kinh tế cao trong
* Mục đích của đề tài.
- Xác định tỷ lệ nhiễm bệnh cầu trùng và bệnh hô hấp mãn tính (CRD)
ở đàn gà thịt Ross 308 nuôi tại nông hộ thuộc xã Sơn Cẩm.
- Xác định hiệu lực của tyloguard và Enrofloxacin trong việc phòng và
trị bệnh CRD.
- Khuyến cáo với người chăn nuôi về tình hình cảm nhiễm và hiệu lực
điều trị bệnh CRD của hai loại thuốc Tyloguard và Enrofloxacin trên đàn gà
thịt Ross 308
* Mục tiêu của đề tài.
Thông qua việc xác định tỷ lệ nhiễm CRD và hiệu lực điều trị của hai
loại thuốc Tyloguard và Enrofloxacin, để tìm ra những biện pháp phòng và
trị bệnh CRD có hiệu quả.
19
19
2.2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU.
2.2.1. Cơ sở khoa học của đề tài.
2.2.1.1. Bệnh hô hấp mãn tính ở gà (CRD)
2.2.1.1.1. Đặc điểm bệnh hô hấp mãn tính ở gà (CRD).
* Đặc điểm chung:
Bệnh hô hấp mãn tính ở gà là một bệnh truyền nhiễm của nhiều loại gia
cầm, do nhiều loài Mycoplasma gây ra. Trong đó quan trọng nhất là
Mycoplasma Gallisepticum (MG) và Mycoplasma synoviae (MS) gây ra.
Mầm bệnh MG là nguyên nhân chính gây bệnh viêm đường hô hấp mãn tính
ở gà. Bệnh này chủ yếu làm cho gà chậm lớn, tiêu tốn thức ăn cao, thuốc
điều trị tốn kém (Đào Thị Hảo, 2007 [4] ).
Bệnh CRD còn gọi là bệnh “hen gà” chúng lây lan nhanh qua đường hô
hấp, khi không khí, bụi bẩn nhiễm vi khuẩn này. Bệnh truyền dọc từ đời mẹ
sang con qua trứng, lây qua tiếp xúc trực tiếp gà bệnh, qua thức ăn…
(GS.TSKH. Lê Hồng Mận [9] ).
CRD có thể xếp theo 3 dạng sau:
Penicillin, Xicloserin, Xephalosporin, Baxitraxin và các kháng sinh khác ức
chế quá trình tổng hợp thành tế bào.
Mycoplasma là những sinh vật nguyên thủy chưa có vách tế bào, cho
nên chúng dễ bị biến đổi hình dạng, là loài vi sinh vật nhỏ nhất trong sinh
giới có đời sống dinh dưỡng độc lập. Vi khuẩn có hình dạng nhỏ riêng lẻ hay
tập chung từng đôi, từng chuỗi ngắn, hình vòng nhẫn, vòng khuyên là loại
Gram âm khó bắt màu thuốc nhuộm thông thường, phải dùng phương pháp
nhuộm Giemsa mới quan sát được. Màng của Mycoplasma chỉ là lớp màng
nguyên sinh chất dày từ 70 - 100A
0
. Trong tế bào Mycoplasma có thể thấy
các hạt riboxom và thể nhân.
Mycoplasma thuộc loại hiếu khí và hiếu khí không bắt buộc, nhiệt độ
tốt nhất là 37
0
C, pH: 7,0 – 8,0. Nó có thể phát triển tốt trên phôi gà và trên
một số môi trường nhân tạo như môi trường huyết thanh, môi trường có chứa
Hemoglubin, Xistein. Trên môi trường thạch chúng có thể tạo nên những
khuẩn lạc nhỏ bé. Khuẩn lạc có cấu tạo hạt, ở giữa có màu vàng nâu, xung
quanh trong ( trứng ốp nếp). Khi phát triển trên môi trường dịch thể,
Mycoplasma làm vẩn đục môi trường và tạo thành những kết tủa. Trong môi
trường thạch máu, Mycoplasma làm dung huyết ( Nguyễn Xuân Thành và
cộng sự, 2007) [13].
Mycoplasma bị diệt ở nhiệt độ 45-55
0
C trong vòng 15 phút. Chúng rất
mẫn cẩm với sự khô cạn, tia tử ngoại, chất sát trùng và bị ức chế bởi các chất
kháng sinh, nó ngăn cản quá trình tổng hợp protein của Mycoplasma như;
Tetracyclin, Erythomycin…
21
C, 6 tuần ở 20
0
C. Như vậy những
quả trứng giập, vỡ trong máy ấp có thể là nguồn lây lan bệnh. Điều đáng thú
vị là mầm bệnh có thể tồn tại ở trong tóc, da của người từ 1 – 2 ngày, vì vậy
người làm việc trong đàn gà bệnh có thể là yếu tố trung gian truyền bệnh.
Một con đường truyền lây bệnh khác là sự truyền lây qua trứng. Ở giai
đoạn cấp tính, MG dễ dàng tiến đến buồng trứng, tử cung và định cư ở đó,
những con gà mái này sẽ đẻ ra trứng nhiễm bệnh.MG không những được
phân lập từ phôi mà còn được phân lập từ màng lòng đỏ trứng tươi. Trong
một số trường hợp cụ thể sự lây nhiễm có thể thực hiện thông qua việc sử
dụng vaccine virus mà không được làm từ trứng sạch bệnh. MG còn được
22
22
tìm thấy ở trong tinh dịch của gà trống bị bệnh vì vậy sự truyền lây có thể
thực hiện qua con đường thụ tinh nhân tạo và từ gà trống truyền cho gà mái.
* Cơ chế sinh bệnh:
Theo Hội bác sỹ thú y (2008) [21] cho biết mầm bệnh mycoplasma
không có thành tế bào nên hình dạng của nó không cố định. Nó có thể là hình
cầu, hình sợi mảnh, có cơ quan bám dính ở một đầu, cơ quan này có hình
bán cầu, nhô ra và được gọi là “blebs”. Khi mầm bệnh xâm nhập vào vật
chủ, nó chui vào giữa các nhung mao niêm mạc đường hô hấp hoặc đường
sinh dục, phần “blebs” của vi khuẩn gắn vào phần đuôi sialic của thụ quan
sialoglycoprotein hoặc sialoglycolipit của tế bào vật chủ, sự bám dính này đủ
chắc để nó không bị đào thải ra ngoài bởi nhu động và quá trình phát triển
dịch của niêm mạc. Vì nó không có thành tế bào nên cũng có hiện tượng hòa
nhập màng tế bào vật chủ và màng nguyên sinh của vi khuẩn. Cacsenzyme
thủy phân, neuraminidase, peroxidase, heamolysin và các loại độc tố khác
được đưa vào tế bào vật chủ. Những độc tố đó có thể dẫn đến tế bào bị tổn
thương, thoái hóa và cơ thể có thể có những đáp ứng miễn dịch và sốt. Hơn
cũng thể hiện rất phức tạp.
* Bệnh tích:
Xác chết gầy và nhợt nhạt do thiếu máu. Niêm mạc mũi và các xoang
cạnh mũi sưng phù chứa đày dịch nhớt màu vàng hoặc màu vàng xám. Niêm
mạc họng xung huyết, sưng, đôi chỗ bị xuất huyết phủ nhiều niêm dịch
trong. Phổi phù thũng, mặt phổi phủ fibrin, rải rác một số vùng bị viêm hoại
tử. Thành các túi hơi dày lên, thủy thũng. Xoang túi hơi chứa đầy chất dịch
màu sữa, nếu bệnh chuyển thành mãn tính thì chất chứa quánh lại, cuối cùng
thành một chất khô, bở, màu vàng. Bệnh biến này xảy ra ở cả túi hơi vùng
bụng và vùng ngực. Ngoài ra gà bệnh còn bị viêm ngoại tâm mạc, viêm
quanh gan và viêm phúc mạc. Lách có thể hơi sưng.
Trong những phôi gà bị chết do lấy trứng ấp từ những con gà giống bị
nhiễm CRD. Phôi thường chết trước khi nở ở túi khí của phôi có những chất
dịch nhầy như bã đậu màu trắng.
Phạm Sỹ Lăng và cộng sự (2002) [8] đã nghiên cứu và kết luận biến
đổi vi thể thường biểu hiện rõ nhất ở khí quản và phổi.
Khí quản: hiện tượng tăng sinh và tróc các tế bào biểu mô, sự dày lên
của các màng nhầy của cơ quan cảm nhiễm cùng với sự thâm nhiễm của các
tế bào đơn nhân và sự tăng các vùng tăng sinh tế bào lympho ở dưới các
màng nhầy niêm mạc. Ngoài ra còn thấy các ống tuyến dịch của biểu mô dài
ra rõ rệt, có ý nghĩa chuẩn đoán. Những biến đổi ấy không có trong các bệnh
khác.
Phổi: xuất hiện các vùng phổi viêm và các nang lympho cũng như các
tổn thương dạng hạt. Trong mô phổi có tăng sinh lympho dạng nang, đặc biệt
trong phế quản cấp 3, viêm phổi dạng dịch với các tế bào khổng lồ.
24
24
Cũng theo www.greengroup.com.vn [24] cho thấy: Các biến đổi đều
tập trung ở đường hô hấp.
- Niêm mạc vùng thanh khí quản phù nề kèm theo xuất huyết, bị phủ
25