Thuốc nhỏ tai và độc tính trên thính giác (bài dịch) - Pdf 33

9

THÔNG TIN THUÓ ,
i

Ảnh: TL

Tóm tắ t
Độc tính trên tai là m ột biến chứng hiếm gặp nhưng nghiêm trọng khi sử dụng các thuốc nhỏ tai
chứa kháng sinh aminoglycosid và các thuốc nhỏ tai khác gây độc cho ốc tai. Nguy cơ này tăng lên khi
bệnh nhân bị thủng màng nhĩ hoặc ống dẫn lưu màng nhĩ. Hiện nay, chưa có loại thuốc nào được phê
duyệt tại Australia để thay thế cho các thuốc nhỏ tai có độc tính trên thính giác này. Việc phê duyệt
thuốc nhỏ tai chứa Auoroquinolon cho thấy có thể thay thế thuốc nhỏ tai chứa aminoglycosid trong
viêm tai giữa.Tài liệu hướng dẫn điểu trị của Hiệp hộiTai Mũi Họng và Phẫu th uậ t đẩu cổ Australia khẳng
định sử dụng các th uố c nhỏ tai có chứa kháng sinh mà không gây độc tính trên thính giác nên được ưu
tiên để điều trị viêm tai giữa chảy mủ.


G iới th iệ u
Nguy cơ gây độc cho thính giác đã được biết
đến với nhiều thuốc khi dùng đường toàn thân
được như kháng sinh aminoglycosid. Tuy nhiên,
độc tính tiếm tàng trên tai của thuốc được kê
đơ n dưới dạng nhỏ tai cho n h ữ n g bệnh nhân bị
thủng màng nhĩ lại ít được chú ý. Mặc dù m ột số
loại thuốc kháng sinh nhỏ tai được dùng đâ hơn
40 năm qua nhưng độc tính trên tai mới trở thành
mối quan ngại ngày càng tăng trên toàn cẩu trong
vòng mười năm gần đây. Khả năng gây độc trên
tai cùa kháng sinh aminoglycosid không chl ảnh
hưởng đến ốc tai (chức năng nghe) mà còn cả hệ

chuyên khoa Tai Mũi Họng tại Hoa Kỳ, có 3,4% bác
sĩ đã báo cáo độc tính thứ phát trên tai do sử dụng
th uố c nhỏ tai có khả năng gây độc cho thính giác
được phát hiện ở những bệnh nhân thủng màng
nhĩ và xoang chũm hở. Có 9 trường hợp khác đã

được báo cáo tại Canada khi dùng thuốc nhỏ tai
gentam icin, trong đó 4 bệnh nhân có triệu chứng
mất thảng bằng khiến cần phải có th iế t bị cơ học
hỗ trợ để giúp họ đi lại được.
Những yếu tố ảnh h ư ởng đến độc tín h trê n
th ín h giác của th u ố c d ù n g n go ài
Bác sĩ có thể kê đơn thuốc nhỏ tai có nguy cơ
gây độc tính để điểu trị bệnh viêm tai giữa hoặc
ráy tai tắc nghẽn. Nếu bệnh nhân bị rách màng
nhĩ mà không được phát hiện thì có thể dẫn đến
bị m ất thính lực nghiêm trọng. Trong trường hợp
thủng màng nhĩ, xoang chũm hay ống dẫn lưu
màng nhĩ bị hở, kháng sinh nhỏ tai có thể gây độc
cho thính giác trong vòng vài ngày, cho dù hẩu
hết các bệnh nhân đều tuân theo liệu trình điều trị
lâu dài. Lớp niêm mạc dày ở tai giữa và màng cửa
sổ tròn (là lớp màng nằm ở tai giữa ngăn thuốc
vào tai trong) có ảnh hưởng tới sự thẩm thấu của
thuốc. Sự hiện diện của mò hạt, mô mạng và mô
polỵp cũng ngăn thuốc vào tới cửa sổ tròn. Các
yếu tố di truyền ở m ột số bệnh nhân gốc A hay
gốc Ả Rập khiến họ trở nên đặc biệt nhạy cảm đối
với độc tính trên thính giác của các thuốc nhỏ tai.
Thuốc n hỏ ta i gây độc cho th ín h giác kh uyế n cáo ở các nước

thể dẫn đến nguy cơ điếc. Hướng dẫn điểu trị của
Australia (The Therapeutic Guidelines) đã chỉ rõ:
Chỉ định kháng sinh để rửa tai trong bệnh viêm tai
giữa chảy mủ mạn tính và giới hạn th ời gian điểu
trị với tấ t cả các th uó c nhỏ tai chứa aminoglycosid
trong thời gian không quá 7 ngày. Nếu thuốc
không có đáp ứng sau 7 ngày, nên sử dụng các
chê phẩm có chứa fluoroquinolon.
M ột nghiên cứu được thực hiện đã so sánh
thuốc nhỏ tai fluoroquinolon với chế phẩm
phối hợp gốm framycetin, gram icidin và
dexamethason. Ciprofloxacin có hiệu lực tố t
trên các chủng vi khuẩn thường gặp được
phân lập như Pseudomonas aeruginosa và
Staphylococcus aureus ở 1 n trẻ em bị viém
tai giữa mạn tính. Tỷ lệ khỏi lâm sàng đạt
được ở 42/55 trẻ em dùng ciprofloxacin, so
với 29/56 trẻ dùng thuốc phối hợp.
Thời gian điéu trị bằng ciprofloxacin
được khuyến cáo là 9 ngày. Độ an toàn và
hiệu quả khi dùng trên 14 ngày của thuốc
vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. vẫn
có những quan ngại vé kháng thuốc đối
với nhóm fluoroquinolon, nhưng chưa có
nghiên cứu có đối chứng nào về sự thay
đ ổi/đ ộ nhạy cảm của vi khuẩn với kháng
sinh trước và sau điều trị. Nóng độ cao của
thuốc nhỏ tai tại chỗ đảm bảo thuốc diệt
được vi khuẩn ở vùng tai giữa và xoang
chũm, tu y nhiên có thể không loại trừ được

Nên hướng dẫn cho bệnh nhân biết để đến
khám bác sĩ khi có những triệu chứng như mất
thính lực, chóng m ặt hoặc ù tai khi sử dụng các
loại thuốc có khả năng gây độc cho tai.
Nêu màng nhĩ nguyên vẹn và tai giữa cũng
^

Ảnh: TL


như xoang chũm không bị hở thì không có nguy
cơ nào về tổn thương thính giác khi sử dụng các
chế phẩm có khả năng gây độc cho tai.

bị thủng màng nhĩ và nên hướng dẫn bệnh nhân
lưu ý những triệu chứng chóng mặt, ù tai hay mất
thính lực khi sử dụng các loại thuốc nhỏ tai này và
đến khám để được xử trí kịp thời.

Tại Việt Nam, các thuốc nhỏ tai có chứa kháng
sinh aminoglycosid
(neomycin, gentamicin,
tobram ycin) dưới tên các biệt dược như Polydexa,
Neodex, NPH, Dicortineff, Genta Plus, V.V.. Các bác
sĩ cần thận trọng khi kê đơn cho những bệnh nhân

Số 3/2012

I Nghiên Cứu dược Thống tỉn thuõc i 117


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status