Chuyên đề:
Quản lý chất thải rắn và độc hại
Trên địa bàn tỉnh Sơn La.
---------
mở đầu
Chất thải rắn và độc hại rất đa dạng về chủng loại, thành phần cũng
như nguồn phát sinh. Căn cứ vào nguồn phát sinh, chất thải rắn và độc hại
bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt: Là các loại chất thải phát sinh trong mọi hoạt
động của con người, gia đình, công sở, trường học, khu vực đóng quân của
các lực lượng vũ trang, chợ, trung tâm thương mại, khu du lịch, các nơi sinh
hoạt và vui chơi giải trí công cộng…
- Chất thải xây dựng: Gồm các phế thải được thải loại ra trong quá
trình xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, an ninh quốc phòng,
hạ tầng kỹ thuật và công trình xây dựng khác.
- Chất thải bệnh viện: Gồm các chất thải phát sinh trong mọi hoạt
động của các bệnh viện và các cơ sở y tế. Trong chất thải bệnh viện có chất
thải y tế là loại chất thải độc hại phát sinh từ các hoạt động chuyên môn
trong quá trình khám, chữa bệnh, xét nghiệm tại các bệnh viện và cơ sở y tế.
- Chất thải công nghiệp: Là tất cả các loại chất thải loại ra từ dây
chuyền sản xuất của các cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp.
Theo tính chất nguy hại, chất thải được phân làm 2 loại: Chất thải
nguy hại và chất thải không nguy hại. Chất thải nguy hại là chất thải có chứa
các chất hoặc hợp chất gây ô nhiễm có một trong các đặc tính gây nguy hại
như dễ cháy, dễ nổ, độc hại, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, trực tiếp hoặc tương
tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khoẻ con người.
Chất thải nguy hại có trong chất thải bệnh viện, chất thải công nghiệp và một
phần nhỏ trong chất thải sinh hoạt, chất thải nông nghiệp và chất thải xây
dựng… Còn lại là chất thải không nguy hại.
Qu¶n lý chÊt th¶i r¾n vµ ®éc h¹i trªn ®Þa bµn tØnh
Lượng chất thải trên nếu không được quản lý tốt sẽ có khả năng gây ra
nhưng phân bố
không đều, sông suối có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh do địa hình núi cao,
chia cắt sâu. Dòng chảy biến đổi theo mùa, biên độ dao động giữa mùa mưa
và mùa khô khá lớn. Mùa lũ thường diễn ra từ tháng 6 đến tháng 10 trong
năm nhưng diễn ra sớm hơn ở các nhánh thượng lưu và muộn hơn ở hạ lưu.
Có đến 65 – 80% tổng lượng dòng chảy trong năm tập trung trong mùa lũ
này.
Dân số tỉnh Sơn La là 975.460 người (thống kê năm 2004), mật độ
bình quân 69 người/km
2
. Theo tiến độ xây dựng công trình thuỷ điện Sơn La
thì thời kỳ cao điểm số lượng lao động ở đây có thể lên đến 18.500 người.
Nếu kể cả số người đi theo thì số dân tăng cơ học này có thể tới 20 – 30
ngàn người.
Trong những năm qua, nền kinh tế duy trì được tốc độ tăng trưởng khá; cơ
cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực theo hướng sản xuất hàng hoá, phát huy
lợi thế, gắn với thị trường. Các ngành, lĩnh vực; các vùng, các thành phần kinh tế
đều có bước phát triển. Nhiều cơ chế, chính sách mới được ban hành, huy động và
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư tạo được sự đột phá trên một số lĩnh
vực. Kết cấu hạ tầng tiếp tục được đầu tư phát triển, tích cực chủ động triển khai
nhiệm vụ chuẩn bị xây dựng thuỷ điện Sơn La; tạo các điều kiện quan trọng cho
giai đoạn phát triển tiếp theo.
2. Hiện trạng chất thải rắn và độc hại trên địa bàn tỉnh Sơn La:
Để đáp ứng những nhu cầu về vật chất và tinh thần ngày càng cao của
mình, con người phải sử dụng những sản phẩm sẵn có của tự nhiên, hoặc
thông qua các quá trình sản xuất để biến chúng thành những sản phẩm phù
hợp với những nhu cầu đó. Sản xuất càng phát triển, đời sống càng được
nâng cao và dân số càng tăng nhanh cũng đồng nghĩa với việc các chất thải
sinh ra từ các quá trình sản xuất đổ vào môi trường này càng lớn. Nếu không
được kiểm soát và xử lý tốt sẽ gây ô nhiễm môi trường sinh thái. Tỉnh Sơn
- Nước thải công nghiệp: Căn cứ vào sản lượng sản phẩm chủ yếu của
ngành công nghiệp và phương pháp tính chất thải của Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO), có thể tính được lưu lượng và tải lượng nước thải công nghiệp của
một số ngành công nghiệp của tỉnh Sơn La như sau: Trong 2005, nếu sản
lượng than là 4.000 tấn, tinh bột sắn là 10.000 tấn, bia là 1.450.000 lít và xi
măng là 100.000 tấn thì lượng nước thải trong năm 2005 của 4 ngành này là
886.000 m
3
, trong đó chứa các chất ô nhiễm như: BOD
5
là 168,5 tấn và TSS
là 561,5 tấn. Nếu lượng chất thải này không được xử lý theo đúng quy định
sẽ gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường nước và đất. Đó là chưa tính đến
nước thải của những ngành công nghiệp khác.
- Khí thải công nghiệp: Trong quá trình sản xuất, các ngành công
nghiệp như ngành khai thác quặng, sản xuất vật liệu xây dựng và đặc biệt là
các hoạt động khai thác và đốt than đã phát xả một tải lượng chất ô nhiễm
không khí rất lớn. Những chất gây ô nhiễm không khí của các hoạt động này
là bụi và các chất khí như SO
2
, NO
x
, CO… Do đặc điểm của Sơn La là tỉnh
miền núi, có nhiều đỉnh núi cao, ảnh hưởng đến việc phát tán và tích tụ chất
ô nhiễm trong không khí. Các điểm tập trung dân cư thường hình thành ở
các vùng thấp và tương đối bằng phẳng như các thung lũng núi hoặc cao
nguyên nên thường bị ảnh hưởng lớn, vì các chất khí thải công nghiệp và
sinh hoạt không phát tán được qua các dãy núi nên thường tích tụ ở những
khu vực này. Do đó, dù ô nhiễm không khí trong thời điểm hiện tại chưa
phải ở mức độ nghiêm trọng nhưng việc phát triển các khu công nghiệp
chất lượng môi trường - đặc biệt là môi trường nước và đất, ảnh hưởng trực
tiếp đến sức khoẻ con người, làm mất tính đa dạng sinh học trong đất và
nước, số chủng loại và lượng vi sinh trong đất bị suy giảm làm đất bị bạc
màu.
- Vệ sinh môi trường nông thôn: Tình trạng sống thiếu vệ sinh ở nông
thôn đã làm cho môi trường bị ô nhiễm, đặc biệt là ảnh hưởng đến chất
lượng nước sinh hoạt (mới có khoảng 25% số hộ gia đình ở nông thôn có hố
xí hợp vệ sinh, trên 60% số hộ còn nuôi gia súc dưới gầm sàn). Rác và nước
thải sinh hoạt đổ trực tiếp vào môi trường. Thêm vào đó, chất thải do hoạt
động chăn nuôi cũng rất đáng kể. Hiện nay toàn tỉnh có 144.000 con trâu,
119.000 con bò và 478.000 con lợn (chủ yếu ở khu vực nông thôn). Theo
cách tính toán của Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật bản (JICA) thì tải lượng ô
nhiễm do hoạt động chăn nuôi ở Sơn La trong 1 ngày sẽ là: 27.662 m
3
nước
thải; 177,8 tấn BOD
5
; 322,5 tấn COD và 1.123,6 tấn chất rắn lơ lửng.
Những chất thải do hoạt động chăn nuôi này hầu như được thải trực tiếp vào
môi trường.
3. Những thuận lợi, khó khăn trong việc quản lý chất thải rắn và chất
thải độc hại:
3.1. Thuận lợi:
- Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) trong 4 năm (2001- 2004) tăng
bình quân 10,62%/năm, tốc độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, năm
2005 ước đạt 16%, đưa tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm (2001- 2005) đạt
11,65%/năm. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư cho công tác bảo vệ
môi trường nói chung và xây dựng mạng lưới thu gom và xử lý chất thải rắn
và độc hại nói riêng.
- Hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển mạnh, thuận lợi cho việc thu gom