Đánh Giá Thực Trạng Quản Lý Chất Thải Y Tế Nguy Hại Trên Địa Bàn Tỉnh Nam Định - Pdf 35

Chuyên đề tốt nghiệp

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan nội dung báo cáo đã viết là do bản thân em
thực hiện, không sao chép, cắt ghép các tài liệu, chuyền đề, luận văn
của người khác, nếu vi phạm em xin chịu sự kỷ luật với nhà trường.
Nam Định,ngày 13 tháng 4 năm 2009
Sinh viên

Ngô Hưng Long

Ngô Hưng Long

KTMT 47


Chuyên đề tốt nghiệp

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực tập cũng như làm luận văn tốt nghiệp, em đã
nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong khoa
Kinh tế và Quản lý Môi Trường & Đô Thị và sự giúp đỡ nhiệt tình của các
cán bộ công nhân viên của Sở Tài Nguyên Môi Trường Tỉnh Nam Định.
Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng tới PGS.TS Lê Thu Hoa, T.S Lê Hà
Thanh cùng các thầy cô giáo trong khoa. Đồng thời, em xin chân thành cảm
ơn tới anh Phạm Anh Chiến – Chuyên viên môi trường - Sở Tài Nguyên Môi
Trường Nam Định và các anh chị làm việc tại dự án quản lý chất thải nguy
hại đã nhiệt tình giúp đỡ em trong thời gian thực tập.
Nam Định, ngày13 tháng 4 năm 2009

- Tỷ suất lợi ích - chi phí ( Benefits Cost Ratio ).

CBA

- Phân tích chi phí lợi ích.

CTNH

- Chất thải nguy hại.

CTR

- Chất thải rắn.

CTRYT

- Chất thải rắn y tế.

CTRYTNH - Chất thải rắn y tế nguy hại.
NPV

- Giá trị hiện tại ròng ( Net Present Value ).

TCVN

- Tiêu chuẩn Việt Nam.

URENCO

- Công ty môi trường đô thị .

Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, việc khai thác tài
nguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội càng
nhiều dẫn đến tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt.Qua đó con người đã
nhận ra mối quan hệ tác động qua lại giữa hoạt động Kinh tế - Xã hội – Môi
trường tự nhiên.Con người do hoạt động của mình đã làm biến đổi môi trường
và sự biến đổi đó đã tác động trở lại sự sống của con người.Vì vậy bảo vệ môi
trường là trách nhiệm chung của toàn xã hội.
Việt Nam tuy là một nước đang phát triển, nền kinh tế sản xuất còn lạc
hậu tuy nhiên không vì thế mà Đảng và Nhà nước coi nhẹ vấn đề môi
trường.Nhà nước có chủ trương loại bỏ các dự án đầu tư gây nguy cơ ô nhiễm
cao, bên cạnh đó đưa ra các chính sách nhằm bảo vệ môi trường, một trong
những mục tiêu quan trọng đó là việc quản lý về cơ bản các chất thải độc hại
trong đó có chất thải y tế.
Theo thống kê của Cục Môi Trường Việt Nam năm 2004 về chất thải
nguy hại mỗi năm nước ta thải ra ngoài môi trường 10946 tấn/năm, riêng tại
TP HCM mỗi năm thải ra môi trường chiếm tới 42% tổng lượng thải của cả
nước.Theo đánh giá của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, trong thành phần chất thải
bệnh viện có tới 20% dến 25% là chất thải y tế nguy hại, trong đó có khoảng
15% là chất thải lâm sàng có khả năng gây lây nhiễm và truyền bệnh cao
như : kim tiêm, dao mổ, các mô bênh, bông băng dính máu bệnh…Thành Phố
Nam Định là nơi tập trung hầu hết các bệnh viện trên toàn tỉnh với lượng chất
thải bệnh viện đáng kể được xả ra từ các bệnh viện trong thành phố.Trước kia
lượng chất thải từ bệnh viện không được xử lý mà đem ra chôn lấp trực tiếp,
từ khi xây dựng lò đốt rác thải y tế thì lượng chất thải y tế đem ra môi trường
Ngô Hưng Long

1

KTMT 47


2

KTMT 47


Chuyên đề tốt nghiệp

5. Bố cục của đề tài :
Phần I : Phần mở đầu.
Phần II: Nội dung :
Chương I : Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chất thải nguy hại.
Chương II: Khái quát về chất thải y tế nguy hại
Chương III : Hiện trạng quản lý thu gom xử lý chất thải bệnh viện trên
địa bàn Tỉnh Nam Định.
Chương IV: Các kiến nghị và giải pháp trong quản lý và xử lý chất thải
bệnh viện nguy hại trên địa bàn Tỉnh Nam Định.
Phần III: Kết luận.
Phụ lục.
Tài liệu tham khảo.

Ngô Hưng Long

3

KTMT 47


Chuyên đề tốt nghiệp

B. NỘI DUNG


Chuyên đề tốt nghiệp

1.2 Nguồn gốc phát sinh chất thải nguy hại.
Do đặc tính đa dạng của các loại hình công nghiệp, các hoạt động
thương mại tiêu dùng trong cuộc sống mà chất thải nguy hại có thể phát
sinh từ nhiều nguông khác nhau.Nhìn chung chúng ta có thể chia thành 4
loại hình chính đó là :
- Từ hoạt động công nghiệp như hàn xì, mạ điện xử dụng Cyanide…
- Từ hoạt động nông nghiệp như việc sủ dụng thuốc bảo vệ thực vật....
- Từ hoạt động thương mại như quá trình nhập khẩu các loại hàng hoá
độc hại không đạt tiêu chuẩn.
- Từ hoạt động tiêu dung dân dụng ví dụ như việc sủ dụng các loại pin
đồng hồ hay bình acqui…
Cùng với sự phát triển chung của tình hình kinh tế thế giới thì sự phát
triển của các loại hình công nghiệp, các loại hình dịch vụ, sự gia tăng của nhu
cầu về tiêu dùng, hưởng thụ vật chất cũng như các hoạt động về y tế khám
chữa bệnh... đã dẫn đến việc phát sinh một lượng lớn chất thải nguy hại.
Trên thế giới việc quản lý chất thải nguy hại đã hình thành và có những
thay đổi mạnh mẽ trong thập niên 60 và đã trở thành một vấn đề môi trường
được quan tâm hàng đầu trong thập niên 80 của thế kỷ XX. Điều này là hậu
quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và sự phát triển kinh tế xã hội của
các quốc gia trên toàn cầu.
Theo số liệu thống kê của Cục môi trường về chất thải nguy hại năm
1999 của Việt Nam cho thấy cả nước một năm thải ra môi trường 109.468
tấn/năm.Trong đó tập trung chủ yếu là ở TP HCM chiếm tới 42% lượng chất
thải của cả nước.Tính đến năm 2002, theo số liệu thống kê mới của dự án
“Quy hoạch tổng thể về quản lý chất thải nguy hại” của TP HCM vào khoảng
70.500 tấn/năm, tăng 1,72 lần so với năm 1999.Theo đà phát triển hiện nay
của thành phố thì lượng chất thải sẽ vào khoảng 312000 tấn/năm vào năm

18/12/1996 về hướng dẫn Luật đầu tư nước ngoài.
9. Pháp lệnh bảo vệ và kiểm dịch thực vật
Theo Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/7/1999 của Thủ tướng
Chính phủ về ban hành “Quy chế quản lý chất thải nguy hại”.

Ngô Hưng Long

6

KTMT 47


Chuyên đề tốt nghiệp

Các tiêu chuẩn và văn bản hướng dẫn việc quản lý chất thải nguy hại
hiện còn chưa nhiều ở Việt Nam.Tuy nhiên việc ra đời của các văn bản liên
quan đến chất thải nguy hại trong những năm gần đây đã và đang được sự
quan tâm của các cơ quan nhà nước đối với việc tham gia quản lý chất thải
này ví dụ như các văn bản sau :
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn (Trong đó có
một phần về quản lý chất thải nguy hại).
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP về việc “Quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường”.
- Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT của Bộ TNMT về danh mục
CTNH.
- Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT về việc “Hướng dẫn hành nghề và
thủ tục lập hồ sơ đăng ký cấp giấy phếp hành nghề, mã số quản lý CTNH”.
Chiến lược BVMT đến năm 2010 và định hướng đến năm 2021 theo
quyết định số 256/2003/QĐ-TTg.
TCVN 5507: 1991 về Hoá chất nguy hiểm-Quy phạm an toàn trong sản

Các văn bản liên quan tới quản lý chất thải nguy hại do UBND Tỉnh
Nam Định cung cấp :
- Quyết định số 3166/2006/QĐ-UBND ngày 25/12/2006 của UBND
Tỉnh Nam Định về việc phê duyệt chiến lược quản lý chất thải nguy hại trên
địa bàn Tỉnh Nam Định.
3. Đặc tính của chất thải nguy hại.
Về cơ bản chất thải nguy hại bao gồm cả chất vô cơ và chất hữu
cơ.Trong đó các hợp chất hữu cơ chiếm tỷ lệ cao trong các chất thải nguy hại
với những tên gọi và cấu trúc hoá học phức tạp.Vì vậy trong quá trình quản lý
và xử lý chúng ta cần phải phân loại và năm rõ thành phần của chúng để có
thể đưa ra các biện pháp quản lý và xử lý cho có hiệu quả.
3.1 Những tác động của chất thải nguy hại có thể gây ra.
Đối với môi trường sống.
Chất thải nguy hại nếu không được xử lý kịp thời trước khi thải bỏ ra
môi trường sẽ làm cho môi trường sống của con người bị ô nhiễm.Khi môi
trường bị ô nhiễm nó sẽ tác động trở lại đối với cuộc sống của con người, lên

Ngô Hưng Long

8

KTMT 47


Chuyên đề tốt nghiệp

sức khoẻ, lên nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia cũng như làm mất đi sự
cân bằng sinh thái.
Đối với sức khoẻ của con người .
Khi môi trường bị ô nhiễm nó làm cho con người không có khả năng

Chuyên đề tốt nghiệp

của họ ngày càng được cải thiện như thế thì các vấn đề xã hội được dần cải
thiện.
Lợi ích trong tái sinh, tái chế CTNH.
Lợi ích kinh tế : Đem lại thu nhập cho người lao động, tiết kiệm chi phí
mua nguyên liệu, khai thác tài nguyên, giảm chi phí xử lý chất thải nguy hại.
Lợi ích môi trường - xã hội : chúng ta giảm được lượng CTNH thải ra
môi trường phải xử lý. Đồng thời làm giảm áp lực của cộng đồng tới môi
trường xung quanh khu vực có chứa chất thải nguy hại.
Lợi ích trong quản lý tổng hợp CTNH.
Nếu công tác quản lý chất thải nguy hại được tiến hành tốt sẽ giảm chi
phí cho hệ thống quản lý chất thải, hạn chế đáng kể lượng thất thoát của
CTNH ra môi trường bên ngoài, tăng năng suất thu gom và xử lý CTNH, từ
đó làm giảm nguy cơ lây lan ô nhiễm ra môi trường bên ngoài.
II. Khái quát về chất thải y tế.
1. Chất thải rắn bệnh viện: chất thải phát sinh ra trong bệnh viện, rất
phức tạp về cả thể loại, thành phần, nguồn gốc phát sinh và lượng chất
thải.Phân loại chất thải là một khâu vô cùng quan trọng trong quá trình thu
gom, xử lý và phân huỷ, nó tạo điều kiện cho quá trình phân huỷ và xử lý
được đơn giản hơn rất nhiều.
2. Chất thải y tế là: các loại chất thải được phát sinh từ các cơ sở y tế,
từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc bệnh nhân, xét nghiệm, phòng
nghiên cứu, đào tạo, trong các hoạt động đó chủ yếu từ các bệnh viện tuyến
huyện và tuyến tỉnh.
3. Thành phần chất thải y tế nguy hại là: chất thải y tế có một trong
những thành phần như : máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ
quan của người, động vật, bơm kim tiêm và các vất sắc nhọn, dược phẩm, hóa

Ngô Hưng Long

Nhóm E : Các chất thải sinh hoạt từ các phòng điều trị của bệnh nhân,
người nhà bệnh nhân và nhân viên y tế.
Chất thải phóng xạ : Chất thải có hoạt độ riêng giống như các chất
phóng xạ được xử lý theo những quy định riêng.

Ngô Hưng Long

11

KTMT 47


Chuyên đề tốt nghiệp

Chất thải hoá học : Chất thải hoá học phát sinh từ các phòng xét
nghiệm, có đặc tính gây độc, ăn mòn, dễ cháy…..
Các bình chứa khí có áp suất : Bình đựng oxi, CO2, bình ga, …các bình
này dễ gây cháy nổ khi thiêu đốt, vì vậy phải thu gom riêng.
Chất thải sinh hoạt : Phát sinh trong quá trình sinh hoạt của nhân thân,
bệnh nhân, các nhân viên y tế, đây là chất thải không nguy hại.
III. Tác động của chất thải rắn y tế nguy hại đối với môi trường và
sức khoẻ cộng đồng.
Chất thải y tế khi chưa qua loại bỏ hay xử lý triệt để sẽ rất nguy hiểm,
không những nó gây ô nhiễm cho môi trường mà còn ảnh hưởng tới sức khoẻ
cộng đồng, gây lây lan dịch bệnh, gây mất mỹ quan đô thị, gây ảnh hưởng tới
phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Trong thành phần CTRYT có các loại chất thải như : chất thải nhiễm
khuẩn, chất thải phẫu thuật có chứa nhiều mầm bệnh, vi trùng, vi khuẩn có thể
xâm nhập vào cơ thể con người qua nhiều con đường, theo nhiều cách thức
khác nhau.Các vật sắc nhọn như kim tiêm, vỏ thuỷ tinh, dao mổ…. làm xước

vào điều kiện địa lý, chất lượng phân loại, thu gom, vận chuyển mà lựa chọn
công nghệ xử lý chất thải rắn y tế khác nhau.
Bảng 1: Tình hình xử lý chất thải rắn y tế nguy hại ở một số nước
trên thế giới
Tên nước
Phương

Malaysia

Hồng

Pháp

Kông

Thái Lan

Thiêu đốt

Thiêu đốt

Xử lý bên

Xử lý bên

ngoài cơ

ngoài cơ

sở y tế/tập


Nhật Bản

Ngô Hưng Long

Thiêu đốt

Xử lý tại
chỗ/phấn
tán

trung
trung
Nguồn : Công ty BURGEAP – Pháp,2003.

13

KTMT 47


Chuyên đề tốt nghiệp

Thu gom và vận chuyển chất thải y tế nguy hại, đối với các nước phát
triển có hai mô hình thu gom và vận chuyển chất thải rắn y tế :
- Hệ thống hút chân không tự động thu gom và vận chuyển chất thải.
- Thu gom và vận chuyển bằng các xe chuyên dụng, đối với các dụng cụ,
phương tiện thu gom đạt tiêu chuẩn quy định.
2. Xử lý chất thải rắn y tế.
Công nghệ xử lý CTRYT hiện hành trên thế giới bao gồm khử khuẩn và
thiêu đốt.Tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi nước về khả năng tài chính, điều


Cặn từ quá trình lọc khí thải
Làm sạch khí thải

( Xử lý đặc biệt )
Nước thải

Không khí

Buồng đốt
Sơ cấp

Chất thải

Buồng đốt
thứ cấp

Thu hồi nhiệt

Tái sử dụng
Xử lý nước thải
Xả ra môi trường

Tro xỉ
( Tiêu huỷ cuối cùng và làm ổn định )

Nguồn : WHO (1999),Safe Management of waste from health – care
activities, Geneva.
Lò đốt thiết kế chuyên dụng cho xử lý CTRYT được vận hành trong
khoảng nhiệt độ từ 10000C – 12000C.Phương pháp này xét về mặt kỹ thuật

nhiệt

9000C,

0.2 – 10

phân 2

9000C –

tấn/ngày

buồng

2000C

làm sạch
khí thải
biến.
Cần thiết

- Đầu tư thiết bị, vận hành
và bảo trì đắt tiền.
- Theo mẻ và lien tục.
- Chỉ sử dụng khi chưa có

buồng với

3000C –


- Nhiều khí thải.
- Không nên lắp đặt ở
những nơi mà vấn đề môi

trường nổi cộm,theo mẻ.
- thiết bị, vận hành, bảo trì
đắt tiền.
- Sản phẩm phụ ăn mòn
- Tiêu thụ nhiều năng
lượng.
Cần thiết
- Thiết bị lót trong thường
xuyên phải sửa chữa,
thay thế.
- Nhân viên vận hành phải
có trình độ cao.
- Theo mẻ và liên tục.
Nguồn : Công ty BUREAP – Pháp, 2003.

3. Đặc trưng của lò đốt chất thải y tế nguy hại.
Những yêu cầu đặt ra đối với lò đốt :
Ngô Hưng Long

16

KTMT 47


Chuyên đề tốt nghiệp



KTMT 47


Chuyên đề tốt nghiệp

buồng đốt này là vấn đề quan trọng nhất, chúng phải có kích thước phù hợp
để nạp chất thải nhất định trong mỗi buồng đốt.Buồng đốt chính, buồng đốt
sau, ống khói…phải có vật liệu chịu nhiệt và cách nhiệt cơ học để đảm bảo
hiệu quả lâu dài.
Thiết bị xử lý và làm mát khói thải : Công nghệ xử lý tiên tiến hiện nay
thường có hai phương pháp xử lý : Xử lý khô và xử lý ướt.Xử lý khô đơn giản
hơn, kinh tế hơn và đạt hiệu quả cao.Khí thải được làm mát đến nhiệt độ
1500C – 2000C theo nguyên lý trao đổi nhiệt, chúng ta có thể tận dụng một số
lượng nhiệt lớn trong công đoạn này.Sau đó phun trực tiếp vôi bột vào ống
khí thải, vôi sẽ phản ứng với các axit để tạo thành muối mới.Các muối này sẽ
được các bộ lọc bụi giữ lại.
Các chất thải được đóng gói vào các túi nhựa hoặc các hộp cactông và
được nạp vào lò bằng hệ thống nạp khí tự động.( Với công suất lớn như lò đốt
chất thải tập trung ).
Bộ phân loại bỏ tro ra khỏi bường đốt chính được thực hiện tự động đối
với loại lò đốt liên tục ( 24h/ngày ) hoặc được loại bỏ theo chu kỳ làm việc
đối với lò đốt không liên tục.Với lò đốt công suất lớn thì tro được lấy ra khỏi
đáy bằng thiết bị cơ khí. Điều này làm giảm độ nguy hiểm, tăng độ an toàn
cho công việc lấy tro ra khỏi lò cho công nhân viên vận hành.
Tất cả các hoạt động của lò được điều khiển tự động tại trung tâm điều
khiển với các bước : khởi động, dừng lò, kiểm soát quá trình cháy, nhiệt độ,
điều khiển các quá trình làm mát và xử lý khí thải, hệ thống báo động, đồng
hồ đo áp suất….
IV. Khái quát về các phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế - môi

CBA có mục đích hỗ trợ những quyết định mang tính chất xã hội, trên cơ
sở có sự phân bổ nguồn lực nhằm đảm bảo tính hiệu quả.Kinh nghiệm của các
nước đi trước cho thấy khi tiến hành CBA, để có hiệu quả và tránh những thất
bại mang tính thị trường, thông thường trong bối cảnh cạnh tranh là thích hợp
nhất ( vì có giá trị thị trường làm căn cứ tính toàn ), chúng ta thường gặp 3
kiểu phân tích chi phí lợi ích đó là :
- Phân tích Exante.
- Phân tích Expost.
Ngô Hưng Long

19

KTMT 47


Chuyên đề tốt nghiệp

- Phân tích Inmedias Res.
1.2 Các bước cơ bản khi thực hiện CBA.
Có 9 bước cơ bản khi tiến hành CBA :
Bước 1 : Xem xét xác định lợi ích thuộc về ai và chi phí là của ai.Tức là
phân định được chi phí và lợi ích để là rõ quyền được hưởng lợi ích và phải
bỏ ra chi phí thuộc về cá nhân nào, đối tượng điều chỉnh nào.Tại đây phải
trình bày tất cả các quan điểm nhìn nhận ( chú ý quan điểm toàn diện ) và đưa
ra mọi yếu tố tác động đến quan điểm nhìn nhận đó.
Bước 2 : Lựa chọn danh mục các dự án thay thế.
Khi có bất kỳ dự án nào đưa vào làm CBA thì đều có nhiều giải pháp
thay thế khác nhau, đó là cơ hội lựa chọn các phương án thay thế tốt
nhất.Muốn vậy phải trải qua nhiều kỹ thuật phân tích, đòi hỏi phải có sự lựa
chọn, so sánh và dự đoán.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status